Hồ Đắc Duy -KHU ĐINH CƯ BA DỪA- LONG TRUNG- CAI LẬY & GiÒNG HỌ HỒ ĐẮC

badua (Small)Khu vực Long Trung thuộc huyện Cai Lậy xưa là một vùng đất hoang sơ của Chân Lạp. Năm 1296 sứ thần nhà Nguyên là Châu Đạt Quan, trong khi kinh lý đến kinh đô Ăngco cho biết: “Hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm… Chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông. Sông này có hàng chục ngả, nhưng ta chỉ có thể vào cửa thứ tư, còn các ngả khác có nhiều bãi cát, thuyền lớn không đi được…”
Còn Phan Huy Chú viết:“Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Xoài Rạp, Tiểu, Đại, toàn là những đám rừng hoang vu cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm”.
Đất Ba Dừa/ Mỹ Đông Trung, Long Trung thuộc huyện Cai Lậy vào năm 1700 gọi là thôn Trà Tân thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Sau đó, thuộc dinh Trấn Định, rồi trấn Định Tường và tỉnh Định Tường. Năm 1808, vùng đất này được đặt tên là tổng Kiến Lợi. Năm 1836, tổng Kiến Lợi được đổi thành huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường. Năm 1867, Quân Pháp chiếm Nam kỳ, đổi tên huyện Kiến Đăng thành quận Cai Lậy, đặt dinh quận tại chợ Thanh Sơn (nay là chợ Cai Lậy). Sau Cai Lậy đổi thành quận Khiêm Ích. Rồi đổi lại tên cũ là huyện Cai Lậy, nay là thị trấn Cai Lây thuộc tỉnh Tiền Giang

CÀNH QUAN THIÊN NHIÊN TRƯỚC CÔNG CUỘC KHAI HOANG
Vùng đất Tiền Giang trước khi người Việt đến khai phá là một vùng đất hoang sơ.
Đây là vùng đất có rất nhiều loại thú dữ như cọp, voi, heo rừng, cá sấu, rắn, rít v.v… là mối đe dọa đối với những người khai hoang, nhưng với một lợi thế đia lý mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất hứa này như mạng lưới sông rạch, nguồn nước ổn định, khí hậu điều hòa, ít bão lụt, ít hạn hán, đất đai bằng phẳng. Đây chính là miền đất hứa cho những di dân ao ước.
Lúc khời thủy cho phong trao di cư là di cư tự do tự phát, là những người khỏe mạnh đi trước rồi đón gia đình đến sau, hoặc một số người hay một số gia đình kết lại thành nhóm cùng đi với nhau. Về sau là những đợt di dân lớn hơn với những tổ chức di dân có quy mô lớn hơn do chính quyên triều Nguyễn tổ chức và bảo trợ,
Các chúa Nguyễn chiêu mộ dân từ châu Bố Chánh trở vô nam đến ở khắp nơi. Nhà cầm quyền ban hành chính sách cho phép những người “có vật lực” chiêu mộ dân nghèo vào Nam khẩn hoang.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho biết:
Hiếu MinhVương tức chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) chiêu mộ những người có tiền của ở Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Nghĩa, Quy Nhơn tụ tập dân chúng di cư vào đây.
Phần lớn lưu dân có gốc gác ở Trung và Nam Trung bộ, nhất là các địa phương Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn thế kỷ XVII, XVIII và cả nửa đầu thế kỷ XIX.
Những lưu dân khẩn hoang còn có một số người thiểu số cũng đến khai phá. Lê Quý Đôn viết trong Phủ biên tạp lục như sau: “Lại cho họ (chỉ những người có vật lực) thâu nhận những con trai,  con gái người dân tộc từ trên đầu nguồn xuống, để mua làm tôi tớ, đứa ở sai khiến, hầu hạ”. Những người này khẩn hoang làm nghề nông và phục vụ nhà chủ. Họ được “tùy tiện kết thành đôi lứa vợ chồng, rồi sinh đẻ thành nhiều người”. Về sau, có lẽ những người này, do thời gian lao động đã thừa số tiền mà chủ đã bỏ ra để mua họ, nên họ được thoát khỏi thân phận “điền nô” và bắt đầu “ra sức làm ruộng, để tạo lập sản nghiệp riêng”, giữ được gốc tích của mình đến tận hôm nay như họ Lăng, Nông, Phòng, Chế, Ma, Khưu v.v..
Ngoài ra, cũng phải kể đến lực lượng người Hoa, tuy không nhiều, đã có mặt tại tại vùng đất này.
Năm 1679, một nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch chỉ huy, vì chống đối nhà Thanh nên đã chạy sang Đàng Trong tị nạn và được chúa Nguyễncho định cư ở Mỹ Tho. Tại đây, nhóm người Hoa này chủ yếu làm nghề buôn bán. Đó là những người Minh Hương.
Những di dân này thường sử dụng ghe bầu, men theo bờ biển, đi vào cửa Tiểu, cửa Đại. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn chép: “Nếu cho thuyền đi xuống miền dưới thì người ta đi vào các cửa Tiểu, cửa Đại”. Sau đó, người ta đến Gò Công, Vàm Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Cai Lậy, Cái Bè v.v… Đi tới đâu, lưu dân người Việt khai phá rừng hoang đến đó. Nhờ thế, các giồng đất từ trong đất liền ra đến tận ven biển, kể cả các cù lao trên sông Tiền đều được lưu dân khai khẩn, định cư làng xóm nằm dọc theo hai bờ sông rạch lớn. Đình, chùa, miếu, chợ đều nằm ở ngã ba, ngã tư sông rạch mọc lên ở những nơi giao thông thuận tiện.

NHỮNG DI DÂN KHAI HOANG ĐẦU TIÊN

Trong số những người tiên phong vào khai hoang ở Cai Lậy là ông Cai Cơ Ngô Tấn Lễ, ông Hồ Đắc Lại (năm 1760) còn gọi là ông Chòi; đến đời thứ hai con ông Chòi là Hồ Đắc Tây. Đời thứ ba, cháu ông là Hồ Đắc Học thì gia đình giòng họ Hồ Đắc này đã sở hữu cả ngàn mẫu đất ờ vùng Trà Tân.

image001

Rạch Trà Tân

Hiện tại ngôi mộ song hồn của ông bà Chòi và của ông Hồ Đắc Tây vẫn con bên bờ sông Trà Tân, làng Ba Dừa Long Trung, Cai Lậy Tiền Giang.

image002

Theo Hồ Đắc Tộc Phổ thì từ ngày Ngài Thủy tổ khai canh (1750) đến nay là được 10 đời (2012).
Đến nay tính đến ngày hội giỗ, ngày 8 tháng 12 năm 2012, có hơn 500 nhân khẩu.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s