Võ Quang Yến – HOA ANH ĐÀO VƯỜN XÔ

image002Mỗi năm đến độ xuân về, hoa nở khắp nơi thì hoa vườn Xô cũng đua nhau khoe sắc, muôn màu tươi sáng. Đặc biệt hoa anh đào rực rỡ nhuốm trắng, nhuốm hồng công viên, nhất là ở hai Lùm cây Bắc và Lùm cây Nam nằm trên hông phía tây Kênh Lớn, trong Công viên Xô (Parc de Sceaux), miền nam Paris, nơi tôi ngư cụ. Hai lùm cây không có anh đào cùng màu : một bên Lùm cây Nam được trồng 150 cây Prunus serrulata “Kanzan” có hoa đôi màu hồng nhạt mà người Pháp gọi là cerisier japonais ; bên kia Lùm cây Bắc chỉ có 104 cây hai loài Prunus avium hoa đơn trắng và Prunus avium “Plena” hoa kép trắng.

* * *

Hỏi chàng quê quán nơi nao
Sao mà chàng biết vườn đào có huê
Anh là khách lạ đường xa
Biết đây có gái đào hoa tới tìm

Bài hát dân gian

Mỗi năm đến độ xuân về, hoa nở khắp nơi thì hoa vườn Xô cũng đua nhau khoe sắc, muôn màu tươi sáng. Đặc biệt hoa anh đào rực rỡ nhuốm trắng, nhuốm hồng công viên, nhất là ở hai Lùm cây Bắc và Lùm cây Nam nằm trên hông phía tây Kênh Lớn, trong Công viên Xô (Parc de Sceaux), miền nam Paris, nơi tôi ngư cụ. Hai lùm cây không có anh đào cùng màu : một bên Lùm cây Nam được trồng 150 cây Prunus serrulata “Kanzan” có hoa đôi màu hồng nhạt mà người Pháp gọi là cerisier japonais ; bên kia Lùm cây Bắc chỉ có 104 cây hai loài Prunus avium hoa đơn trắng và Prunus avium “Plena” hoa kép trắng. Các cây anh đào nầy không có trái. Khi nói hoa anh đào, người ta nghĩ đến Nhật Bản. Thật vậy, vào mùa xuân, ở bên nước ấy, nổi trội là hoa anh đào và đến mùa hoa nở người Nhật thường đến thưởng thức theo phong tục truyền thống lễ hội hanami (hay o-hanami, có nghĩa là ngắm hoa, đọc hán-việt hoa kiến) hiện hữu từ nhiều thế kỷ. Tương đương với hanami mùa xuân là momijian (có nghĩa là xem xét thay đổi màu lá koyo) mùa thu. Có thể phong tục nầy bắt đầu từ thế kỷ 8, vào thời đại Nara (710-784), nhằm lúc Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng đời Đường Trung Hoa : tổ chức hành chánh, đạo giáo, nghệ thuật, bút pháp,…Chùa chiền được xây dựng khắp nơi, chữ viết được sử dụng với những thay đổi cần thiết để phát triển trong tinh thần quốc gia…

Vào thời ấy, phần lớn người Nhật còn là những nhà nông, sống ở đồng quê, tin tưởng nhiều thần như kami sau nầy đóng góp vào đạo shinto. Họ sống trong môi trường thiên nhiên, thờ cây cối, ngày nay ở thời đại nguyên tử, điện tử, còn thấy nhiều vết tích trang hoàng trên những cây lớn, đại thụ. Tập quán thờ hoa ở dân gian, ngắm hoa trong triều đình, giới quý tộc cũng từ Trung Quốc đem qua. Lúc đầu họ không phân biệt các loại hoa đào (ume), nhưng từ thời đại Heian (794-1185) hoa anh đào (sakura, hay đúng hơn sakura no hana) khi nở, được chỉ định là báo hiệu mùa xuân, khởi công mùa màng, lúc cần phải gieo lúa. Trong thi ca truyền thống Nhật Bản (haiku, tanka), sakura rất liên quan với danh từ “hoa”. Nhiều quà cúng lễ được đem đặt duới gốc cây để cầu được mùa lúa đồng thời sùng bái các vị thần. Chính vua Saga (786-842) đã biến dạng lễ dân gian thành buổi ăn chơi, ca hát, nhảy múa, uống rượu saké (sau nầy có rượu bia thay thế) và làm thơ. Những bài thơ vịnh hoa nầy xem như là một ẩn dụ của đời sống, huyền diệu, thần tình nhưng ngắn ngủi. Sau đó, các võ sĩ samourai tiếp tay bành trướng và dần dần qua thời đại Edo (1600-1868) lễ hội phát triển trở ra lại dân gian.image001

Vườn Prunus avium ở Công viên Xô  

image002Vườn Prunus serralata ở Công viên Xô

Tiệc tùng được tổ chức ngay dưới gốc cây, không những trong khuôn khổ gia đình mà cả ở công ty, bàn giấy, vào giờ ăn trưa hay buổi tối, lắm khi được cấp cầm quyền chỉ đạo. Thay vì bàn ghế, chăn chiếu được trải ngay dưới đất. Dân trai trẻ vừa mới vào làm trong sở thường được cử để đứng giữ chỗ dưới cây sakura. Lắm lúc, lễ kéo dài đến khuya và các ông ra về say lướt mướt. Phong tục phát triển mạnh mẽ đến nổi những buổi phát khí tượng truyền thanh, truyền hình cũng đóng góp cho biết tình hình hoa ở từng nơi trong nước. Nhật Bản được trình bày như một làn sóng hoa nở, từ miền nam trong một tháng tiến dần lên phía bắc : sớm nhất ở Okinawa và chậm nhất vào tháng năm ở Hokkaido. Hai thời buổi quan trọng nhất là lúc những đóa hoa đầu tiên hé nở (kaika) và lúc hoa nở nhiều nhất (mankai). Đấy cũng là lúc máy chụp hình được sử dụng tối đa trong năm và các nhiếp ảnh gia nghiệp dư mặc sức trổ tài. Nhật kiều vùng Paris không quên tập quán hanami và thường vào trung tuần tháng tư, một ngày chủ nhật đúng vào lúc hoa anh đào nở đẹp (tùy thời tiết, từ lúc hé nở cho đến lúc bắt đầu tàn, hoa chỉ đẹp giữa một và hai tuần lễ), họ rũ nhau cùng gia đình và bạn bè người Pháp lại Công viên Xô vui chơi thưởng ngoạn. Vào chơi vườn Xô hôm đó tưởng như mình lạt vào xứ Phù Tang nhất là khi có vài ba bộ y phục cổ truyền nổi bật giữa rừng màu hồng hoa đào.

Anh đào thuộc giống Prunus họ Hoa hồng Rosaceae, gồm có khoảng 400 loại mà hai loại nguyên thuỷ trồng từ thời thượng cổ ở châu Au, châu Á và ở Trung Đông, không có khả năng thụ tinh chéo, là Prunus avium L. và Prunus cerasus L., hai giống Prunus ăn trái. Prunus serrulata tức anh đào Nhật Bản là giống trang trí không có trái. Ở Pháp và châu Au có một loại P.avium hoang, có trái nhỏ, chát, ít người thích ăn, cho ướp rượu cồn để ăn và uống như rượu tiêu hóa. Những nhãn hiệu anh đào ướp rượu có tiếng là Kirsch, Cherry, Marasquino. Bên Bồ Đào Nha, rượu loại nầy mang tên Ginjinha chế biến từ trái anh đào chua ginja từng được cho có những tính chất dược liệu. Bên Nhật, hoa anh đào còn được trữ trong muối, sau đem chế biến với nước nóng thành một thức uống giải khát mang tên sakura-yu tức là trà anh đào. P.cerasus mọc ở Tây Á, cạnh Hắc Hải, có trái chua. Tương truyền quan chấp chính Lucius Licinus Lucullus, năm 73 trCN, sau khi thắng Mithridate VI, đưa cây về Roma từ thành cổ Kerasous, ngày nay là Giresun, ở tiểu vương quốc Pont bên Thổ Nhi Kỳ, nên cây được gọi P.cerasus. Từ đó Thổ Nhi Kỳ có tên kiraz, ngưòi Anh cherry, người Đức kirsch, người Pháp cerise. Người Bỉ chế tạo với một loại anh đào chát một thứ rượu bia Kriek là tên trái cây bên Hòa Lan. Hằng năm bên Hoa Kỳ có Festival Hoa Anh đào ờ Washington DC kỷ niệm 3000 cây do Nhật Bản tặng năm 1912 và trồng trong Công viên Tidal Basin. Cây anh đào là cây thiêng bên Ấn Độ và truyền thống tin nhà nào có trồng cây nầy thì trong nhà ít thiếu thốnimage003

Lễ hội hanami ở Công viên Xô

  1. avium nguyên gốc châu Âu, Tây Á và Phi châu còn được gọi anh đào hoang, anh đào rừng hay anh đào các loài chim (merisier). Ở Pháp, giống được trồng nhiều mang tên anh đào ngọt (cerisier doux) chia làm hai loại guignier (thịt mềm, nhiều nước, hơi chua) và bigarreau (thịt chắc, hơi ngọt) gồm có burlat, marmotte, napoléon, reverchon, hedelfingen,… Ở Canađa, merisier cũng là tên những cây P. pensylvanicaP. virginiana. Ngành khảo cổ học cho biết P.avium có mặt ở Âu châu ôn đới, miền Caucase, miền bắc Thổ Nhi Kỳ, từ thời kỳ đồ đá mới. Những anh đào hoang nầy có trái màu đỏ sẫm, thịt ngọt tuy có phần chua. Trái đã được hái từ thời đại đồ đồng nhưng đến thế kỷ IV trCN mới được trồng trước ở Caucase, Anatolie, trong thời cuôc viễn chinh chữ thập được nhập cảng vào nước Do Thái, sau qua Hy Lạp, La Mã. Ở Trung Quốc, P. pseudocerasus Lind. được trồng từ nhiều thế kỷ trong những vùng miền bắc và miền đông qua tên yangyingtao (anh đào ngoại). P. avium có nhiều loại, khó phân biệt. Nói chung, chúng có hai hay ba tuyến mật đỏ nằm dưới những ngọn, thuôn dài, có răng cưa và lông mịn. Cao 20-25m, rộng 0,50-0,60m, mau lớn ở chỗ có nhiều ánh sáng, nó có thể sống đến 100 năm. Những sâu bọ phá hoại là loại ruồi Rhagoletis cerasi, các loại rệp Myzus cerasi, Myzus cerasi, Rhopalosiphum padi. Những chứng bệnh thưòng gặp là vết lốm đốm trên trái, vết trên lá do nấm Coryneum beijerenckii, cây tàn lụi vì vi khuẩn Pseudomonas syringae, bệnh nấm chuổi hạt do nấm Monilia laxa, bệnh loét trên lá do nhiều thứ nấm Gloeosporiu.. P. avisum ngày nay trong dân gian thường được dùng để làm dễ dãi tiêu hóa đã từng được nhà thực vật học – thầy thuốc Pedanius Dioscoride ghi trong sách từ thế kỷ 1.

 

Anh đào là cây mọc nơi khí hậu ôn hòa, mùa đông lạnh và mưa nhiều, thích đất màu mỡ, ẩm ướt nhưng tiêu nước. Những cây Prunus thường rụng lá mùa đông nhưng cũng có loài giữ lá suốt năm. Lá rụng xuống kết thành một tấm thảm hồng đỏ làm tăng vẻ đẹp của vườn hoa. Lá đơn, có răng cưa, hình ngọn giáo, dài 6-12cm, cuốn ngắn, mọc so le, mùa xuân màu đồng, trở qua xanh bóng mùa hè và vàng cam mùa thu. Cây không cao lắm (7-12m), hình dáng loe ra và dựng đứng, cành rủ xuống chút ít. Hoa trắng hay hồng, không có mùi thơm đặc biệt, thường 5 cánh nhưng cũng có hoa kép (nhiều cánh), sắp thành chùm hay cánh dù. Tuy để trang trí, có loại cho trái có thể ăn được tuy chát và chua, có khi độc nhưng hiếm. Bên Nhật, anh đào Prunus serrulata là một cây cảnh đặc biệt linh thiêng trong đạo shinto. Nó là hoa được người Nhật ưa chuộng nhất và mùa hoa nở là mùa vui thích trong năm. Mặc dù có hoa cúc tượng trưng cho hoàng gia đồng thời là biểu hiệu của tổ quốc, anh đào tiêu biểu cho sắc đẹp phù du vì hoa chỉ nở vài tuần. Anh đào nhập sâu vào tâm hồn người Nhật đến nỗi trong thời chiến hoa được nâng lên hàng tượng trưng để cổ võ quần chúng. Những phi công Nhật cho vẽ hoa lên máy bay trước khi ra trận. Chính quyền khuyến khích dân chúng tin tưởng mỗi linh hồn chiến sĩ tử trận sẽ nhập vào hoa anh đào. Hoa rơi rụng vào lúc huy hoàng nhất là một tượng trưng dũng mãnh nên vào thời Trung Cổ, Phật giáo và những võ sĩ samourai suy diễn nó như là người đạt đỉnh cao tiến hóa khi thoát ly ra khỏi trần tục. Dần dần cuộc nở hoa trở thành tượng trưng cho tinh thần võ đạo samourai. Có nhiều thứ Prunus serrulata L. nguồn gốc khác nhau : var. Kanzan, lannesiana (Nhật Bản), var. pubescens, serrulata (Trung Quốc), var. tomentella, quelpaertensis (Hàn Quốc), P. serrula (Tây Tạng) …từ đấy sinh ra một loạt các thứ chế biến có hoa kép hay bán kép. Ngoài ra còn có những Prunus khác : P.virginiana (anh đào Virginie), P.serotina Ehrh (anh đào đen, muộn), P. Padus L. (anh đào chùm), P. prostrata (anh đào ủ rủ)…

 

image004                                  Hoa Prunus avium

 

image005Hoa Prunus serrulata

 

Người ta trồng cây Prunus chính để thưởng ngoạn hoa, nhưng gỗ cây cũng có tiếng và được ưa chuộng. Gỗ cây màu từ nâu hồng qua vàng được dùng làm mặt nền cho giấy khuôn rập estampe, làm bàn ghế, lắm khi thay thế những gỗ quý, choáng chỗ những gỗ nầy trong ngành chạm trổ hay tiện gỗ. Thớ thanh, màu hổ phách, dễ mài nhẵn, gỗ chỉ có một khuyết điểm lớn là không bền chặt dù vật liệu không phơi nắng dầm mưa. Hột cây cống hiến một loại dầu vàng lạt, không nặng mùi, tỷ trọng 0,917-0,920. Dầu chứa đựng 1-2% không thể xà phòng hóa nên cống hiến những tính chất tái tạo. Dầu cũng chứa nhiều acid mỡ cốt yếu không bảo hòa cần yếu trong cuộc điều hòa sự gắn nước và sự cấu tạo lại biểu bì. Đằng khác, sự thăng bằng giữa hai oleic và linoleic acid rất hợp với một chế độ ăn uống nhắm mục đích giảm hạ cholesterol và phòng ngừa các bệnh tim mạch. Tỷ lệ những acid mỡ sắp theo (%) ít nhiều : pamitoleic (0,1-06), myristic (0,5), linolenic (omega-3) (0,1-1,0), alpha-oleostearic (0,1-13,2), arachidic (# 1,3), stearic (1,6-3,4), palmitic (5,1-9,4), oleic (23,9-54,3), linoleic (omega-6) (33,7-48,9). Anh đào là một nguồn sắt, vitamin A, đường (fructose, glucose). Những nhà khảo cứu ở viện đại học Michigan chứng minh nó có thể dùng để chữa các bệnh viêm khớp, thống không vì cấu tạo các hóa chất tương tự aspirin và nhiều chất giảm đau khác mà không có chút phản chỉ định. Những chất phản oxy trong cây mảnh liệt không kém những vitamin E và C với điều kiện là phải ăn ít nhất 20 trái ! Trong truờng hợp táo bón, một kilô mỗi ngày là cần thiết để giảm bớt hay chữa lành. Trong môn liệu pháp thực vật, nhờ những muối kali và những flavonoid là những chất phản oxy, cuống trái có tính chất tiêu trừ độc tố trong cơ thể và thường được dùng trong thuốc lợi tiểu chắc chắn và không có phản ứng phụ, chữa viêm bọng đái, giúp đào thải sỏi niệu. Anh đào thuộc nhóm những cây chứa đựng trong lá và nhân hột hytro cyanua là một chất độc có mùi quả hạnh. Dùng với liều lượng nhỏ, nó kích thích hô hấp, cải thiện tiêu hóa, phần nào hiệu nghiệm trong cuộc điều trị ưng thư nhưng quá mức nó có thể gây khó khăn trong hô hấp đưa đến tử vong.

 

 

image006

Dưới cánh hoa anh đào. Tranh Kunisada 1852

 

Cây vừa đẹp vừa có ích, ta không lạ khi biết người Nhật lấy anh đào làm tiêu biểu cho tổ quốc họ. Đi xem hoa nở trong dịp lễ hội hanami cũng là phong tục truyền thống có ý nghĩa. Lẽ nào Nhật kiều ở Paris, có lẽ trên tất cả thế giới, hằng năm họp lại trong vườn anh đào nơi mỉnh cư ngụ cùng nhau vui xuân đón năm mới. Và dân bản xứ có dịp sống một ngày lễ phong tục nước ngoài tại ngay đất nước mình.

Bài và ảnh Võ Quang Yến

image007

Thành Xô mừng Tết Ất Mùi – 2015

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s