Hồ Đắc Duy – THỦY TỔ HỌ HỒ ĐẮC LÀNG AN TRUYỀN VÀ NIÊN KỶ CỦA CÁC HẬU DUỆ

image001Quan Thượng-thơ Tài-chánh Đại-thần, Đắc-Khải viết trong HỒ-ĐẮC-THẾ PHỔ TỰ: “Họ Hồ-Đắc ta, gốc tự ngoài Bắc vào, đầu tiên tại làng Phú-Môn và làng Nam-Phổ-Hạ, thuộc về huyện Phú-Lộc, tỉnh Thừa-Thiên, sau có một chi tự làng Nam-Phổ-Hạ nhập tịch tại làng An-Truyền, thuộc về huyện Phú-Vang”.

Khi nghiên cứu vần đề di dân của dòng người Nam tiến vào những năm đầu tiên khi vùng Ô Lý được chuyển giao cho Đại Việt năm 1306 có những vần đề về mặt khoa học và tính khả thi cao nhất cần nên lưu ý.

Hành khiển Đoàn Nhữ Hài hô hào dân chúng ở các vùng lân cận tiếp giáp với biên giới Champa vào khai phá vùng đất mới Thuận Hóa và thành lập các cơ quan hành chính tại đia phương, vỗ yên nhân tâm người Champa bản địa, theo thời gian người Champa bản địa rút lui dần vào phía nam, qua đèo Hải Vân định cư ở Quảng Nam, Trà kiệu …nhường đất đai lại cho người Việt.

Di dân sẽ chọn nơi nào đất tốt phì nhiêu, điều kiện sinh hoat không quá khắt khe và phương tiện giao thông thuận lợi để định cư rồi làm đà phát triển, người đi trước có nhiều lựa chọn hơn kẻ đến sau…

  ĐÌNH LÀNG AN TRUYỀN
ĐÌNH LÀNG AN TRUYỀN

Trong HỒ-ĐẮC-THẾ PHỔ TỰ bài dịch của cụ Hồ ĐắcTuyên dịch từ BÀI TỰA nguyên văn bằng chữ Hán của ngài Hồ Đắc Khiêm thì từ ngài Thủy tổ Hồ Đắc Mười đến ngài Khiêm là 9 đời còn 9 đời trước đó thì: “Hỡi ôi, tự chín đời trở lên, nguồn cơn mù mịt, may được thấy chín đời trở xuống, sự tích rõ ràng; nhơn bản chữ Hán dích ra quốc ngữ, cho con cháu biết sự tích và công đức của ông bà để lại.” Như vậy đến năm 2011 thì sự tích gia phả đã được mô tả rõ ràng trong 14 thế hệ liên tiếp con cháu hôm nay.

14 đời đã biết + 9 đời trước nguồn cơn còn mù mịt, văn tự chưa được ghi chép thành văn bản chỉ có truyền khẩu để lại cho con cháu biết.

Cho đến nay thì:

  • 14 đời + 9 đời = 23 đời
  • 23 đời X 30 năm = 690 năm
  • Năm 2011 – 690 năm = 1321

image002Như vậy sau lễ cưới của công chúa Huyền Trân với vua Chế Mân nước Champa và kể từ khi vua Trần Anh Tông sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đem quân trấn nhậm, phủ dụ dân Ô Lý và đổi tên thành Châu Thuận, châu Hóa vào năm 1307 thì chỉ sau 20 năm, là năm 1321, những di dân đầu tiên họ Hồ đã có mặt tại Thuận Hóa *

Ngài Thế-tổ bản thổ thành hoàng: Hồ Quí Công và Ngài Thủy-tổ Khai canh: Hồ Quãng Lãnh sẽ có mặt trong đoàn người tiên phong đó. Một câu hỏi đặt ra cho các hậu duệ của ngài và các nhà nghiên cứu sử học để tìm ra mối liên hệ huyết thống của cư dân mang họ Hồ ở vùng Thuận Hóa và các nơi khác.

 

image003Trong sách Đại Nam Nhất thống Chí đã mô tả vùng địa lý vùng ven biển châu Hóa khá chi tiết nhất là vùng đầm gồm có phá Tam Giang, đầm Sam, đầm La Bích, đầm Mỹ Á, đầm Tô Đà, đầm An Truyền, đầm Thanh Lam, đầm Võng, đầm Hà Lạc, đầm An Xuân, đầm An Gia, đầm Giáo Liêm, đầm Diêm Hà, đầm Hà Bá, đầm Hà Trung. Cửa biển ăn thông với toàn bộ khu vực đầm phá này, phia bắc là cửa Eo sau gọi là cửa Thuận An, phía nam là cửa Tư Hiền, từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền là 77 dặm.

Cửa Eo xưa kia gọi là cửa Noãn, cửa Tư Hiền vào đời nhà Lý gọi là cửa Ô Long, đời nhà Trần gọi là Tư Dung, nhà Mạc gọi là cửa Tư Khách; nó còn được gọi là cửa Ông, cửa Biện…

Vùng đầm phá là một cái túi nước khổng lồ nhận nước từ các nguồn nước như thác, khe suối, sông ngòi từ vùng sông Tả Trạch, sông Hữu Trạch, sông Sơn Bồ , sông Ô Lâu, sông Hưng Bình, sông Hương, sông Nong, sông Truồi… Nước trong đầm phá là nước lợ, vùng nước lợ là một sản phẩm ưu đãi của thiên nhiên, ít nơi nào trên thế giới có được.

image004Phá Tam Giang giới hạn phía Bắc là cửa sông Ô Lâu, phía Nam là cửa sông Hương thông với biển qua cửa Thuận An. Từ Ô Lâu tới Thuận An dài 26 km, chiều rộng phá từ 2 – 3,5km. Thuộc địa phận 12 xã của ba huyện Quảng Ðiền, Phong Ðiền và Hương Trà. Phía Bắc phá là Quảng Thái, một vùng trù phú màu mỡ nhờ phù sa của 2 con sông Ô Lâu và Nịu mang lại sau các mùa lụt. Phá Tam Giang từ đây vẽ một vòng cung ra hướng Bắc, đông Bắc thì gặp một vùng đất đầm thuộc Phong Chương …Điền Lộc, Điền Môn… đầm phá Quảng Thái còn có cá hanh, nâu, thác lác, bống ngạnh, giải áo, liệt, móm, thệ, kình, nục, sơn, lươn, ếch …và đặc biệt là cá dìa Tam Giang – Quảng Thái được coi là loài đặc hữu, có giá trị cao nhất, thịt cá không nơi nào ngọt mà thơm bằng.

Vùng đầm phá Tam giang-Cầu hai là vùng có nhiều nguồn lợi về thủy sản lớn nhất ở duyên hải miền Trung, một vùng mà di dân thời xưa mơ tưởng như một miền đất hứa bởi núi sông đầm phá liền kề nhau, khí hậu tương đối tốt.

Tại làng An Truyền tục gọi là làng Chuồn, phía tây nam có một mộ cổ nằm giữa một cái cồn người ta thường gọi là xứ Cồn Chiếu, ngôi mộ tọa Thân, hướng Dần, kiêm Canh-thân, phân châm Bính Thân, Bính Dần cách làng khoảng 500m với 2 trụ biểu cao ngất. Ngôi mộ này có một lịch sử rất khó hiểu, người nằm trong lăng mộ này là ngài Hồ-Quản-Lãnh, người được dân làng tôn làm Thủy tổ khai canh của làng Chuồn.

Mộ ngài xây bằng gạch, có la thành nội ngoại, có bi đình, có trụ biểu …

image005Làng phụng tự ngài tại gian chính trong đình cả. Trong đình làng An Truyền, bàn thờ Bổn Thổ Thành Hoàng Hồ Quý Công nằm ở gian giữa là gian dùng thờ những bậc có công trạng bậc nhất của làng.

Nhà thờ đại-tôn họ Hồ Đắc có 3 gian 2 chái, gian chánh thờ hai thần vị.

  1. Ngài Thế-tổ bổn thổ thành hoàng: Hồ Quý Công
  2. Ngài Thủy-tổ Khai canh: Hồ Quản Lãnh

Ngày Đông Chí hằng năm, mọi người họ Hồ, bất cứ là Hồ Văn hay Hồ Đắc đều đến lăng Ngài để chiếm bái rồi mới về nhà thờ họ riêng của mình mà cúng vái tế lễ.

image006Ngài Thế tổ Bổn Thổ Thành hoàng và ngài Thủy tổ Khai canh Hồ Quý Công thì hiện chưa tìm ra được nguồn gốc vì Hồ quý Công hay Hồ Quản Lãnh chỉ là một cách gọi trọng vọng của người xưa, tránh gọi tên tục.

Vậy ngài Hồ Quý Công và Hồ Quản Lãnh là ai? Nhân vật nào đến làng An Truyền trước và vào thời điểm nào? Người nào là người khai phá và phát triển nên làng An Truyền?

Có một lý do nào mà người khai canh không phải là Thành hoàng?

Trước hết cần phải hiểu rõ các từ trong phong tục của tiền nhân.

Thành hoàng là cái hào bao chung quanh thành. Thành hoàng là một từ dùng để chỉ vị thần coi sóc, bảo vệ.Thành hoàng được dân tôn thờ trong gian chính của đình làng. Thành hoàng là vị thần giúp nước độ dân, là nhân vật linh thiêng nhất của nhân dân ở địa phương. Thần đã trở thành một biểu tượng tâm linh; bởi theo họ, chỉ có Thần mới có thể giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộc sống của họ ngày một thêm ổn định, thịnh vượng.

image007Vị thần này có thể là một nhân vật có thật hay chỉ là một huyền thoại. Thông thường dân làng thờ phượng 2 nhân vật:

Thành hoàng thường là Thần

Khai canh là Người, bậc khai canh có đóng góp nhiều nhất cho làng, xã …

Bổn thổ hay là Bổn cảnh là cõi đất nơi đó vị thần được thờ.

Thế Tổ thường là người gây dựng nền móng của vị đời trước.

Thủy tổ Khai Canh được hiểu như là người đầu tiên khai khẩn canh tác biến một vùng hoang hóa thành làng mạc. Thủy tổ Khai Canh có thể là một người, một nhóm người, một giòng họ bộ tộc hay nhiều giòng họ khác nhau.

Các vị này khi còn sống có công lao to lớn với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các bậc ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng.

Hồ Quý Công hay Hồ Quản Lãnh chỉ là một cách gọi như Hồ Tướng công hay Hồ Đại lang, chứ không có tên mà là chỉ có họ, ấy là họ Hồ.

Từ ngài Quý Công và Quản Lãnh đến ngài Hồ Đắc Mười là 9 đời, đến năm 2011 là 23 đời.

Như vậy ngài Hồ Quản Lãnh (1280) sinh vào khoảng trước sau năm 1300. Nếu tính theo niên phổ trong Hồ Đắc Tộc Phổ thì từ ngài Hồ Quản Lãnh là đời thứ nhất đến ngài Hồ Đắc Mười là đời thứ 10. Trước ngài Mười thi không biết tên, tuổi .. chi tiết nhân thân còn mù mờ; thời kỳ này gọi là thời ngoại kỷ, sau ngài Hồ Đắc Mười gọi là thời bản kỷ, về sau nữa gọi là tục biên.

Gọi là thời ngoại kỷ vì sự tích mù mờ, các sự kiện chỉ được truyền khẩu không được ghi lại bằng văn tự hay vật chứng.

Và theo như trong HỒ-ĐẮC TỘC PHỔ TỰ NGÔN, ngài Hồ Đắc Khiêm viết, thì “Làng ta hễ có ai họ Hồ, bất cứ Hồ-Đắc, Hồ-Văn đều công nhận ngài Khai-Canh Hồ-Quản-Lãnh làm thủy tổ”.

Hai châu Ô Lý chính thức thuộc vào lãnh thổ nước Đại Việt năm 1307.

Có thể ngài Hồ Quãn Lãnh nằm trong những tốp người đầu tiên di dân vào vùng Thuận Hóa và ông được vua Trần Anh Tông hay Hành Khiển Đoàn Nhữ Hài ban cho chức Quản Lãnh, một chức quan nhỏ quản lý, coi sóc một ấp xã nhỏ vùng làng An Truyền.

Sự hiện diện của ông Quản Lãnh họ Hồ có nghĩa đúng là ngài Thủy-tổ Khai canh là tiên tổ của giòng họ Hồ Đắc và Hồ Văn có gốc gác từ làng An Truyền.

Từ ngài Thủy tổ Hồ Quản Lãnh (1280) đến các hậu duệ của ngài được ghi trong Tộc Phổ Hồ Đắc ở làng An Truyền như sau:

Ngài Hồ Đắc Mười đời thứ 1 (1571-1601) đời vua Lê Anh Tông – Lê Kính Tông (1573-1600).

Ngài Hồ Đắc Thành đời thứ 6 sinh năm 1704 dưới đời vua Lê Hy Tông (1676-1705).

Ngài Hồ Đắc Tuấn đời thứ 9 sinh năm 1836 dưới đời vua Minh Mạng (1820-1840).

Ông Hồ Đắc Khương đời thứ 12 sinh năm 1919 dưới đời vua Khải Định (1916-1925).

Ông Hồ Đắc Nhẫn đời thứ 13 sinh năm 1946 dưới đời vua Bảo Đại.

Ông Hồ Đắc Walter đời thứ 14 sinh năm 1983.

A/ Và nếu cọng thêm 9 đời (thuộc thời ngoại kỷ cho đến nay) thì ngài Mười là đời thứ 10 tương ứng với đời thứ nhất trong giòng Gia Phả Hồ Đắc Tộc Phổ, ngài Hồ Đắc Thành đời thứ 16 sinh năm 1704 dưới đời vua Lê Hy Tông (1676-1705), ngài Hồ Đắc Tuấn đời thứ 19 sinh năm 1836 dưới đời vua Minh Mạng (1820-1840), ông Hồ Đắc Khương đời thứ 21 sinh năm 1919 dưới đời vua Khải Định (1916-1925), ông Hồ Đắc Nhẫn đời thứ 22 sinh năm 1945 dưới đời vua Bảo Đại và Hồ Đắc Walter đời 23 sinh năm 1983.

B/ Trong gia phả năm 1941 thì kể từ ngài Hồ Đắc Nghi mới thấy ghi niên kỷ rõ ràng và chúng ta có thể căn cứ vào đó để tính ra niên kỷ của các bậc tiên tổ trong giòng họ chúng ta.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s