HỒ ĐẮC DUY – SỰ THAY ĐỔI ĐỊA TÁNG TỔ TIÊN HỌ HỒ ĐẮC

antruyenHồ Đắc Tộc Phổ ấn phụng ngày 31 tháng 2 năm 1942, trong bài Hiệp tộc kỷ niệm có ghi lại như sau:

“Ngày 25 tháng 3 năm Bảo-Đại thứ 14 (1940), họ Hồ-Đắc ở An-Truyền ủy Hồ Đắc-Văn; Hồ-Đắc ở Phú-Môn ủy Hổ Đắc Ninh đều cung đệ gia-phổ tới tại nhà thờ Hồ-Đắc ở Nam-Phổ-Hạ.

Đầu tiên cáo tổ, đối cứu với bản gia-phổ ở Nam-Phổ-Hạ mới rõ rằng:

Họ ta đầu tiên ở làng Phú-Môn, rồi qua ở Nam-Phổ-Hạ và An-Truyền.

Ấy là một gốc mà hai nhánh. Lại trong bản gia phổ Hồ-Đắc ở An-Truyên về đời ông Tổ 2 Húy-Đắc-Lộc, có chép rằng: ngài Lộc với chánh thất Nguyễn-Thị-Viện hiệp táng tại địa phận xã Phú-Môn. Hiện nay làng Phú-Môn có một ngôi mộ song-hồn ở giữa đồng, thường năm Hồ-Đắc trong 3 làng đều tỉnh-tảo.”

Lời lẽ trong bài hiệp tộc là một văn bản có giá trị rất cao, cũng là một chứng cứ rất căn bản cho các hậu duệ theo đó mà tìm ra nguồn gốc, tông tích của giòng họ mình.

Trong Hồ Đắc Tộc Phổ của làng An Truyền xã Phú An Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên ghi ngài Hồ Công húy Đắc Mười là đời thứ nhất (1571-1611) dưới triều đại vua Lê Anh Tông – Lê Kính Tông (1573-1600) khi ngài Mười tạ thế được táng tại Cồn Bảy Nam Phổ Hạ, con ngài Mười là Hồ Đắc Lộc khi mất, táng tại địa phận làng Phú Môn, con ngài Lộc là ngài Vinh lại được táng tại Bàu Vinh Nam Phổ Hạ, con ngài Vinh là ngài Năng được táng tại Nam Phổ Hạ.

Bốn vị tổ đầu tiên của họ Hồ Đắc làng An Truyền đều được chôn cất tại làng Nam Phổ Hạ, xã Lộc An huyện Phú Lộc vùng Truồi ngày nay.

Sau ngài Năng thì các vi tổ đời sau được an táng tại làng An Truyền xã Phú An, huyện Phú Vang.

Về huyệt táng của tiên tổ họ Hồ Đắc được ghi nhận như sau:

1/ Ngài Thủy Tổ Hồ Quản Lãnh được an táng tại An Truyền.

2/ Lăng mộ của các ngài Hồ Đại Lang từ đời thứ II đến đời thứ IX không rõ nằm ở đầu vì tộc phổ không nhắc đến.

3/ Lăng mộ của ngài Hồ Đắc Mười và các tổ các đời sau gồm có Ngài Lộc, Vinh, Năng đều được táng tại khu vực Truồi (thôn Nam Phổ Hạ, Phú Môn).

Ngài Khương tại Nam Phổ Hạ, ngài Lại án táng tại Long Trung Cai Lậy Tiền Giang.

4/ Các hậu duệ của ngài Năng sau này đều được an táng tại An Truyền.

Khi quan sát về mặt đia lý vùng An Truyền và vùng Truồi (Nam Phổ Hạ – Phú Môn – Bàn Môn) thì có 2 đường đi từ An Truyền đến Truồi.

a/ Bằng đường thủy với lộ trình: An Truyền – Thanh Lam – Hà Trung – Trừng Hà – Thùy Tú – Vinh-Hưng – cửa sông Truồi, nếu thuyền đi với vận tốc 5km/giờ thì chỉ trong vòng 6 đến 7 giờ là tới nơi.

b/ Bằng đường bộ có thể từ An Truyền rồi theo đường thiên lý đi mất một ngày hay dài hơn.

Căn cứ vào bài Hiệp tộc kỷ niệm có trong gia phả có ghi “Họ ta đầu tiên ở làng Phú-Môn, rồi qua ở Nam-Phổ-Hạ và An-Truyền”. Điều này ý muốn nói là khi các hậu duệ của ngài Hồ Quản Lãnh sau hơn một thế kỷ khẩn hoang các vùng đất chung quanh xã Phú An và đi tìm một vùng đất mới khác dọc ven bờ phía nam của vùng đầm phá Thanh Lam-Hà Trung-Trừng Hà- Thùy Tú – Vinh-Hưng – Phú Môn và quyết định ở lại lập nghiệp ở vùng đất mới phì nhiêu này vì rằng đồng bằng và hạ lưu sông Ttruồi là một vùng đất trù phú trong một tổng thề hạ lưu rộng lớn của ba sông Nong, sông Truồi và sông Cầu Hai tạo nên, phần cuối cùng của hạ lưu này là đầm Cầu Hai với một chu vi rộng lớn chạy dài từ Vinh Hà cho đến chân núi Túy Vân-Vinh Hưng, đầm Cầu Hai là một túi nước lợ khổng lồ, một vùng sinh thái rất đặc biệt, có tiềm năng kinh tế rất cao không thua gì phá Tam Giang.

Từ Đà Nẵng ra Huế, qua khỏi đèo Phước Tượng là địa đầu của đầm Cầu Hai. Khu vực này có núi Linh Thái, Thúy Vân và bên kia là Lộc Bình, Chân Mây, núi non chập chùng, hùng vĩ. Chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân cạnh là Qui Sơn tức là Núi Rủa trên còn những di tích cùa người Champa. Núi Thúy Vân có đỉnh cao 60m so với mặt nước là một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ, khí hậu mát mẻ.

Truồi vừa có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp và ngư lâm sản cũng là vùng có đủ yếu tố, thiên thời đia lợi nhất trong vùng để hình thành một khu dân cư tương đối an toàn thời bấy giờ, có thể tránh xa nơi giao tranh trực diện với quân Champa hơn là ở An Truyền.

Tổ tiên của họ Hồ Đắc trong quá trình nam tiến sẽ di dân và chọn vùng đất màu mỡ này để phát triển kinh tế. Có thể sự di cư này xảy ra từ thời ngài Hồ Đại Lang đời thứ 4, 5,6… vào khoảng năm 1400 đến năm 1500.

image001Sau sự kiện đó, vương triều Champa suy tàn dần vả mối nguy hiểm từ phương nam chấm dứt nhất là vào thời các chúa Nguyễn.

Từ năm đầu tiên khai hoang, lập làng ở An Truyền là năm 1307 cho đến ngài Hồ Đại Lang đời thứ 9 là vào khoảng 270 năm: Hồ Đại Lang đời thứ 9 sống vào khoảng hậu bán thế kỳ thứ 16 cùng thời với Nguyễn Hoàng (1525-1613) người khởi nghiệp cho vương triều nhà Nguyễn sau này. Nguyễn Hoàng đặt tên cho con trai mình là Nguyễn Phúc Nguyên thì Hồ Đại Lang đời thứ 9 của họ Hồ ở Truồi cũng đặt tên cho con trai mình là Hồ Đắc Mười.

Diễn tiến lịch sử này có thể làm sáng tỏ tại sao có sự di chuyển địa táng của họ Hồ Đắc từ An Truyền qua Nam Phổ Hạ rồi sau đó trở lại An Truyền.

image002

            BẢN ĐỒ VỆ TINH VÙNG TRUỒI – NAM PHỔ HẠ

 Tổ tiên của họ Hồ Đắc có thể từ ngài Hồ Đại Lang đời thứ 4, 5, 6, 7, 8 và 9 đã di cư từ vùng An Truyền đến Truồi để lập nghiệp vì những lý do khá đơn giản của vùng Truồi như đất đai màu mỡ phì nhiêu, nơi mà đất thì rộng bao la cò bay thẳng cánh, người thì thưa thớt ít oi, tôm cá, chim muông, tre mây, gỗ quí, trầm hương, sản vật vô cùng… Đất lại thích hợp cho nghề nông, cư trú lại vừa tránh xa nơi chiến tranh rình rập.

Nghĩ xem như thế mới thấm thía lời nhận xét của các bậc tiền nhân của chúng ta khi đối cứu với bản gia-phổ ở Nam-Phổ-Hạ mới rõ rằng: “Họ ta đầu tiên ở làng Phú-Môn, rồi qua ở Nam-Phổ-Hạ và An-Truyền. Ấy là một gốc mà hai nhánh”. Một nhánh đí vế lại An Truyền đất tổ nơi nắm mồ của ngài thủy tổ khai canh đang tọa vị ở cồn Xóm Đồng, một nhánh tiến sâu về phía tây bắc qua Nam Phổ Hạ. Còn lại thì định cư ở Phú Môn , Bãi Đáp…

Thông thường thì sống ở nơi nào thì thác chôn nơi đó, trừ trường hợp các bậc vua chúa, quan lại hay người giàu có.

Có lẽ vì thế mà mộ các ngài Hồ Đại Lang đời thứ 4, 5, 6, 7, 8 và 9 hay của ngài Mười, ngài Lộc, Ngài Vinh, Ngài Năng sau này đều chôn cất ở khu vực Phú Môn, Nam Phổ Hạ.

Riêng kể từ sau Ngài Năng thì con cháu đều được an táng tại An Truyền. Tại sao vậy?

Khi khào cứu Tộc Phổ họ Hồ Đắc làng An Truyền xã Phú An huyện Phú Vang, chúng tôi thấy có một biến cố rất lớn có thể liên quan đến địa táng tổ tiên họ Hồ Đắc tại làng này.

Tai sao lại có một chuyện đổi dời lăng mộ từ ngài thủy tổ Hồ Quản Lãnh từ An Truyền sang ngài Hồ Đắc Mười, ngài Lộc Vinh Năng sang Truồi rồi sau đó trở lại An Truyền,

Từ ngài thủy tổ khai canh cho đến các vị tiên tổ cùa giòng họ Hồ Đắc làng An Truyền chỉ là những người nông dân hiền lành chân chất, siêng năng nghề nông như trong huyền thoại của chàng thanh niên họ Hồ đi khai hoang vỡ đất miền Ô Lý, rồi đột nhiên một biến cố xảy ra vào đời thứ 4. Đó là ngài Hố Đắc Năng con thứ 4 của ngài Vinh và bà Trần-Thị-Phi, mà trong tộc phổ họ Hồ Đắc làng An Truyền có ghi như sau: ;
”Ngài Hồ Đắc Năng là một người siêng nghề làm ruộng. Dưới làng Nam-Phổ-Hạ có một cái ao nhỏ, thường ngày cho trâu ra mẹp tại đó, đến chiều đem trâu về nhà, ngài thấy có vài trự tiền dính dưới bụng trâu, lấy làm lạ, tới chỗ trâu mẹp được tiền nhiều lắm, rồi đem về tạo mãi ruộng vườn trở nên giàu có”.

Từ khi ông bà trở nên giàu có thì ông bà đổi ý không hướng các con làm nghề nông nữa mà cho các con cái đi học, hoc càng cao càng tốt, cái học sẽ mở mang trí tuệ, thu nhận nhiều kiến thức hơn. Ngạn ngữ có câu “Nhân bất học, bất tri lý”,        “Ấu bất học lão hà vi”, học sẽ làm cho con người sống tốt hơn, hiếu thảo hơn, học được một cái nghề cứu người giúp đời, một cái nghề nhân ái sẽ để lại phước đức cho con cháu muôn đời sau… ông bà Hồ Đắc Năng có lẽ đã hiểu chuyện ấy nên đã chuyên hướng cho con cháu thay vì làm ruộng thì làm một nghề khác liên quan đến viêc học.

Muốn cho con cái ở gần trường thì phải thay đổi chỗ ở từ Truồi lên Huế mất 40 Km, từ An Truyền lên Huế chỉ có 6Km, câu chuyện đổi nhà của mẹ Mạnh Tử đã phần nào ảnh hưởng lên quyết định của ông bà Hồ Đắc Năng khi cho con cháu dời về lại đất tổ để tiện cho việc học hành cho con cháu vì vùng đất ấy không còn chiến tranh rình rập như mấy trăm năm trước.

Vì thế việc địa táng của các con cháu ngài Năng về sau này thường được an táng tại An Truyền, nhất là chung quanh ngôi mộ tổ ở Cồn Xóm Đồng hay ở Cồn Đá, Cồn Theo…

Theo thống kê trong Tộc Phổ thì chỉ trong vòng một đời khi cho con cái theo nghiệp bút nghiên thì đã có người làm đến chức Thủ Huân, Giáo Thiện, thế hệ cháu nội của ông bà Năng thì có người đã đậu Hương Cống. Thế hệ thứ 3 thì có người tham chính làm đến chức Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Tuần phủ, hai người là quan Ngự Y, có người là nhân viên làm việc tại Quốc Sử quán… Đa số cháu chắt hậu duệ của ngài Năng đều đậu Tú tài, Cử nhân,Tiến sĩ, Bác sĩ, Kỹ sư, Luật sư, Bác học, có người là Tứ Trụ triều đình, là Tổng tài Quốc Sử Quán, là Thầy dạy học cho vua, là Tu sĩ, là quan Đại thần, một số biên soạn, nghiên cứu lịch sử, khoa học, các tác phẩm văn thơ, tuồng chèo của các tác giả mang họ Hồ Đắc cũng đã được lưu hành… Nói tóm lại theo việc bút nghiên sách vở đã làm thay đổi các thế hệ của giòng họ Hồ Đắc sau này, ý thức về bảo tồn, ghi chép các sự kiện trong giòng họ tốt hơn.

Đầu thế kỷ thứ 20, sự phát triển giao thông càng ngày càng nhanh kèm theo với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, một nền công nghiệp mới ra đời đã làm cho nông nghiệp không còn chiếm địa vị tối ưu đối với xã hội nữa, người ta bắt đầu tìm kiếm những công ăn việc làm mới thay cho nghề nông, sức mạnh kinh tế của thành phố cuốn hút nhân công về đó, một bộ phận nông dân rời bỏ làng mạc ruộng đồng để chọn lối mưu sinh khác, một số bà con họ Hồ Đắc ở An Truyền lên Huế hay vào Sg hoặc đi đến các thành phố khác làm việc, thậm chí có người định cư ở nước ngoài.

Những biến cố xã hội hay chính trị hay do công việc đã làm vơi đi số cư dân Hồ Đắc ở làng, nhưng cho dù ở nơi đâu Huế Saigon Hà Nội thậm chí ở Moscu, Paris hay Waschington những bà con có mang giòng máu Hồ Đắc hằng năm vẫn hướng về quê cha đất tổ để tưởng niệm nơi mà tổ tiên mình đã là những người tiên phong khai hoang, phá rừng lập ấp để xây dựng một giòng Hồ Đắc và tiên tổ của chúng ta phải rất cố gắng học cách để chống lại các thiên tai dịch bệnh, đói nghèo, dốt nát để sinh tồn. Phải học cách để biết duy trì nòi giống để không tuyệt tự. Có những giòng họ rất nổi tiếng mà đến nay không còn thấy bóng ai là hậu duệ của họ, chúng ta đến vào đầu thế kỷ thứ 21 vẫn có được một cách liên tục đến đời thứ 23, 24. Đó không phải giòng họ nào cũng có cái may mắn đó. Học được cái cách phát triễn bền vững và duy trì cái gen Hồ Đắc là niềm hãnh diện của giòng họ chúng ta.

Hằng năm giòng họ chúng ta có một ngày hiệp kỵ vào tháng 3 ở làng An Truyền xã Phú An tỉnh Thừa Thiên; tháng 10 ở Long Trung Cai Lậy Tiền Giang, tháng …   ở Nam Phỗ Hạ. Bà con hãy nhớ lấy để trở về nếu có thể.

One comment

  1. Trộm nghe rằng Phật Tử nên cố gắng hành trì để thấy vạn pháp là vô ngã , không có Ngã , Nhơn , Chúng Sanh. Thọ Giả . Nếu còn thấy Ngũ Uẩn chưa giai không thì làm sao qua các khổ ách . Ngã còn không có thì ngã sở là chuyện viễn vông .

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s