Trần Văn Đạt – Sản Xuất và Thương Mại Lúa Gạo Thế Giới và Việt Nam 2014-2015

luagaoTình hình sản xuất lúa gạo thế giới năm 2014 được tiên đoán thấp hơn 2013 khoảng 0,2% do mùa mưa đến muộn ở vùng Nam Á và vài nơi khác, với sản lượng khoảng 744,7 triệu tấn lúa (hay 496,6 triệu tấn gạo) và được trồng trên gần 163 triệu ha. Năng suất lúa trung bình là 4,57 tấn/ha. Khí hậu gió mùa bất thường làm sản xuất lúa tại Ấn Độ giảm 3% và cũng ảnh hưởng đến một số nước khác, như Indonesia, Campuchia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Bắc Triều Tiên và Thái Lan. Trong khi đó, khí hậu tương đối thuận lợi tại các nước: Trung Quốc, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Nam Hàn, Nigeria và Việt Nam. Vùng Phi Châu sản xuất tăng nhưng không bắt kịp mức tiêu thụ. Năm 2014, vùng Bắc Phi (Ai Cập) và Tây Phi bị ảnh hưởng khí hậu bất thường, trong khi miền Đông và Nam Phi Châu (Madagascar và Tanzania) được mùa. Riêng ngành nông nghiệp của 3 nước Guinea, Liberia và Sierra Leone bị ảnh hưởng khá nặng do dịch bệnh Ebola đã làm thiệt mạng gần 7.000 người. Vùng Nam Mỹ và Caribbean sản xuất tăng khoảng 1% do một số nước được mùa, như Argentina, Brazil, Cuba, Guyana và Paraguay; trong khi khí hậu không thuận hòa tại Colombia, Ecuador và Venezuela. Tại Hoa Kỳ, sản xuất lúa được phục hồi 16% so với 2013. Châu Âu sản xuất lúa gạo tăng 2,8% đến 4,1 triệu tấn lúa, phần lớn do phục hồi sản xuất tại Liên Bang Nga. Sản xuất lúa tại Úc Châu giảm 28% so với 2013, do hạn hán và thiếu nước trồng (1 và 2).

Năm 2014, thương mại lúa gạo thế giới tương đối bình ổn, không có những xáo trộn đáng kể xảy ra do mùa màng hoặc biến cố chánh trị. Do nhu cầu của một số nước gia tăng và số lượng lúa gạo thặng dư tại các nước xuất khẩu, sự trao đổi lúa gạo thế giới đạt mức kỷ lục 40,2 triệu tấn gạo hay 8% cao hơn 2013. Theo tiên đoán Cơ quan FAO, trao đổi lúa gạo sẽ giảm bớt 0,7% trong 2015. Thế giới tồn trữ gạo ở mức 177,5 triệu tấn gạo và phỏng đoán 177,7 triệu tấn trong 2015 (Bảng 1). Giá gạo thế giới thấp nhứt kể từ 2008 (1 và 2) (Hình 1). Các nước nhập khẩu chính vẫn là Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Bangladesh, Sri Lanka và Châu Phi. Năm qua cũng có vài sự kiện đáng chú ý làm ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường thế giới. Tháng 2-2014, Chính phủ quân nhân Thái Lan hủy bỏ chương trình trợ giá gạo lớn lao của Chính phủ trước, thúc đẩy xuất khẩu gạo tồn kho, hạ thấp giá để giúp nước này phục hồi ngành xuất khẩu truyền thống và đã trở lại ngôi vị hạng nhứt trong 2014. Dĩ nhiên, điều này có tác động trực tiếp đến giá gạo xuất khẩu Việt Nam và Ấn Độ. Campuchia và Myanmar đang trở nên những nước xuất khẩu gạo giá thấp và có lực cạnh tranh đáng lo ngại cho cả Việt Nam và Thái Lan trong tương lai. Trung Quốc, Úc Châu, Ecuador, Hoa Kỳ, Liên bang Nga và Uruguay cũng xuất khẩu gạo nhưng với số lượng tương đối nhỏ.

image001

Hình 1: Giá gạo Thái 100% B, Hoa Kỳ 2/4%, Pakistan 25%, Việt Nam 5% và Thái A1 Super

từ tháng 12-2013 đến tháng 12-2014 (1)

Việt Nam: Với khuynh hướng giảm bớt diện tích trồng lúa, VN năm vừa qua được mùa nhờ khí hậu điều hòa, sản lượng đạt đến 45 triệu tấn lúa hay tăng 2,3% so với 2013, năng suất bình quân 5,77 tấn/ha và xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo trị giá 2,7 tỉ Mỹ kim, so với mục tiêu đầu năm 6,5 triệu tấn và 6,7 triệu tấn của 2013 (3 và 5). Năm 2014, VN xuống vị trí thứ ba xuất khẩu gạo thế giới, sau Thái Lan và Ấn Độ. Hai chương trình trợ cấp trồng lúa lai và sản xuất lúa 3 vụ/năm đã đến lúc cần được nghiêm túc duyệt xét lại vì sự bất hợp lý của nước sản xuất dư thừa và xuất khẩu gạo lớn thế giới, chưa kể đến yếu tố kỹ thuật. Cho nên, cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đặc biệt dành hỗ trợ này cho mục đích khác như ngành trồng bắp, đậu nành cho chăn nuôi và rau cải, màu có trị giá cao. Hơn nữa, trồng 3 vụ lúa/năm trong khi giá gạo xuất khẩu thế giới xuống thấp như hiện nay, nông dân còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Chỉ tiêu sản xuất lúa gạo hàng năm cần đặt trên cơ sở nhu cầu thế giới và nội địa để đảm bảo lợi tức cao cho nông dân thay vì dựa vào đất trồng sẳn có!

Năm 2014, thị trường lúa gạo VN mang một số sự kiện nổi bật. Chính phủ cho phép bổ sung Vinafood 1 (Tổng công ty Lương thực miền Bắc) cùng Vinafood 2 (Tổng công ty Lương thực miền Nam) làm đầu mối giao dịch hợp đồng tập trung tại các thị trường Philippines, Indonesia và Malaysia. Cạnh tranh xuất khẩu gạo vào Trung Quốc ngày càng tăng thêm, Việt Nam chiếm hơn nửa thị trường này, bên cạnh Pakistan, Thái Lan và Myanmar. Cũng giống 2013, VN mua tạm trữ 1 triệu tấn quy gạo trong vụ Đông-Xuân ở đồng bằng sông Cửu Long với lãi suất hỗ trợ để hạn chế dao động giá cả lúa gạo trong nước. Từ 18-4, giá gạo xuất khẩu tối thiểu tăng thêm 20 đô la lên 375 đô la/tấn cho gạo 25% tấm. Suốt năm, giá gạo xuất khẩu bị tác động mạnh do cạnh tranh mãnh liệt với Ấn Độ và Thái Lan. Dù thế, giá gạo xuất khẩu VN tăng lên liên tục từ quý 2 đến tháng 9-2014 mới bắt đầu xuống thấp (Hình 1). Châu Á và Châu Phi là thị trường nhập khẩu chính của VN.

Tháng 4-2014, doanh nghiệp Việt Nam đã thắng thầu 800.000 tấn gạo 15% tấm nhập khẩu của Philippines, nhưng với giá chỉ 436,5 đô la/tấn, thấp khá xa so với giá đề nghị của 3 nhà thầu khác từ Pháp, Hồng Kông và Thái Lan (4). Tuy nhiên, hợp đồng bán gạo này giúp VN có đối trọng đáng kể để Trung Quốc không thể ép giá mua gạo VN xuống thấp.

Năm 2014 là năm xuất khẩu gạo thơm nhiều nhứt hơn 800.000 tấn gạo hay 36% so với cùng thời điểm năm trước, với giá trung bình 600 đô la/tấn (trong khi gạo thơm Hom Mali của Thái Lan từ 1.065 – 1.075 đô la/tấn và Basmati của Ấn Độ 1.515 – 1.525 đô la/tấn), có thể thu hút nông dân trồng nhiều lúa thơm trong những năm tới. Thị trường chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Philippines và Mỹ (6). Một điều đáng mừng cho người Việt hải ngoại là gạo VN bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường Hoa kỳ từ quý 4-2014, nhưng chất lượng và giá cả kém hơn gạo Thái Lan (từ 10-45 đô la/kg), với 3 nhản hiệu: Gạo thơm thượng hạng Bạc Liêu, Gạo thơm thượng hạng 3 MiềnVN Jasmine rice tại miền Nam California. Phản ứng sơ khởi của giới tiêu thụ Mỹ cho biết chất lượng gạo VN không bằng gạo Thái Lan, loại gạo sau này hiện chiếm thị phần to lớn tại Mỹ (hơn 80%).

Thái Lan: Năm 2014, Thái xuất khẩu đến 10,5 triệu tấn gạo, phục hồi vị trí hàng đầu thế giới. Thái còn tồn trữ nhiều hạng lúa trong các kho vựa độ 18 triệu tấn, đã được thu mua với giá trợ cấp từ Chính phủ trước. Để làm giảm bớt gạo tồn kho, Thái Lan liên tiếp hạ giá gạo xuất khẩu. Trong tháng 11, gạo 100%B còn 424 đô la/tấn Fob so với 435 đô la trong tháng 10. Trong tháng 12, giá gạo xuống 423 đô la. Trong khi giá gạo hấp từ 425 xuống 407 đô la, tấm A1 super từ 339 xuống 323 đô la (2).

Ấn Độ: Sản xuất lúa 2014 giảm 3% so với 2013, với 155,5 triệu tấn lúa trên 38 triệu ha do mưa muộn, sau đó gặp lũ lụt và giông bão; nên xuất khẩu không quá 9,5 triệu tấn gạo so với 10,5 triệu tấn 2013 và phải nhường lại vị trí hạng nhứt cho Thái Lan, đứng hàng thứ hai thế giới. Giá gạo xuất khẩu cũng giảm xuống liên tục để tranh thủ các hợp đồng với Pakistan và Việt Nam. Tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu trong tháng 12 vẫn còn cao hơn hai nước này; do đó ảnh hưởng đến số lượng xuất khẩu của nước này. Trong tháng 12, giá gạo 5% tấm là 395 đô la/tấn, gạo 25% tấm còn 354 đô la. Trong tháng giêng 2015, giá gạo còn tiếp tục hạ xuống (2).

Pakistan: Giá gạo xuất khẩu của nước này cũng xuống thấp để có thể cạnh tranh thương mại trên thế giới. Tổng sản lượng xuất khẩu gạo 3,5 triệu tấn so với 3,6 triệu tấn trong 2013. Họ đang tìm thị trường mới ở Trung Mỹ và Caribbean. Trong tháng 12, giá gạo 25% là 337 đô la/tấn (2).

Trung Quốc: Sản xuất đạt đến 206, 4 triệu tấn lúa hay 1,4 % hơn 2013, phần lớn do năng suất tăng đến 6,8 t/ha trên diện tích trồng 30,3 triệu ha (1).

Nam Mỹ: Nhóm quốc gia tự do thương mại của lục địa này được gọi là Mercosur hay Mecosul gồm các nước ArgentinaBrazilParaguay, Uruguay và Venezuela. Giá gạo xuất khẩu tương đối ổn định trong 3 tháng cuối năm, chung quanh 295 đô la/tấn gạo (2).

Bắc Mỹ: Trong 3 tháng cuối năm, giá gạo xuất khẩu của Hoa Kỳ tăng lên           từ 533 đến 545 đô la/tấn trong tháng 11-12. Năm 2014, Mỹ xuất khẩu 3,3 triệu tấn gạo so với 3,5 triệu trong 2013, kém hơn 3%. Vào tháng 12, giá gạo dài 2/4 là 530 đô la/tấn so với 545 đô la tháng 11. Đầu tháng giêng còn 515 đô la (2).

Châu Phi: Sản xuất lúa ở miền nam Sahara chỉ tăng từ 13,7 triệu tấn trong 2013 lên 14 triệu tấn trong 2014, hay tăng 1,5%. Tại Madagascar là nước sản xuất gạo lớn ở châu lục này, chỉ sau Nigeria, sản xuất tăng 8%, nhưng vẫn còn thấp hơn mức sản xuất trong 2012. Châu lục này vẫn còn nhập khẩu gạo hàng năm với một số lượng lớn, khoảng 14 triệu tấn trong 2014 và có thể tăng 3% trong 2015 hay 14,5 triệu tấn (1). Các nước nhập khẩu chính gồm có Nigeria, Senegal và Nam Phi.

Bảng 1: Sản lượng, xuất khẩu và dự trữ gạo tại một số nước xuất khẩu quan trọng và thế giới 2013 và 2014.

Quốc gia trồng lúa quan trọng Sản lượng (triệu tấn gạo)   Xuất khẩu (triệu tấn gạo)   Gạo tồn trữ

(triệu tấn gạo)

  2013 2014 a 2013 2014 a 2014 a
Thế giới 497,5 496,6 37,3 40,2 177,5
Trung Quốc 140,7 141,7 0,5 0,3 99,9
Ấn Độ 106,5 103,5 10,5 9,5 23,5
Indonesia 44,9 44,0 6,4
Việt Nam 29,3 29,7 6,7 6,2 5,2
Thái Lan 25,2 24,8 6,6 10,5 17,0
Brazil 7,9 8,1 0,8 0,9 1,0
Hoa Kỳ 6,8 6,7 3,6 3,5 0,7
Pakistan 6,1 7,0 3,5 3,3 1,0

Nguồn: a/ Tiên đoán FAO Tháng 12-2014

Năm 2015, theo một số chuyên gia, thị trường xuất khẩu gạo thế giới có thể gặp khó khăn do nhiều nước đang được mùa và thế giới “xả hàng” nên nguồn cung nhiều hơn cầu. Ngoài ra, giá xăng dầu liên tục xuống thấp làm cho nhu cầu sản xuất nhiên liệu sinh học giới hạn, số lương thực như bắp, đậu nành… sẽ thặng dư làm giá lương thực khó tăng lên trong tương lai, giá lúa gạo có thể thấp hơn (7). FAO tiên đoán thị trường lúa gạo thế giới sẽ kém hơn 2014 một chút, chỉ độ 0,6% hay số lượng đạt đến 40,5 triệu tấn gạo. Hiên nay, các nước ở Nam bán cầu đang gieo trồng, theo tiên đoán sơ khởi, sản xuất lúa của Argentina và Uruguay giảm bớt do mưa quá nhiều và giá thành cao; trong khi tăng thêm tại Bolivia, Chile và Paraguay. Ở Indonesia, chính phủ đặt chỉ tiêu tăng 4% (73,4 triệu tấn lúa) so với 2014. Sri Lanka sản xuất phục hồi nhờ mưa trở lại. Tại Châu Phi, triển vọng sản xuất của Madagascar và Tanzania khá tốt. Tuy nhiên, sản xuất lúa của Úc Châu sẽ co lại 18% do thiếu nước và giá thành cao. Ngoài ra, Thái Lan và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ với nội dung Trung Quốc sẽ mua 2 triệu tấn gạo từ Thái Lan trong 2015-2016 dù thực tế chưa xác định như đã thấy trong 2014 (1).

Theo FAO tiên đoán, sau khi xuất khẩu được 6,2 triệu tấn gạo trong 2014, Việt Nam có thể xuất khẩu 6,9 triệu tấn gạo trong 2015 do được mùa năm qua, mà phần lớn đến các nước nhập khẩu chủ yếu: Trung Quốc, Philippines và Đông Nam Á. Thái Lan sẽ tiếp tục vài trò dẫn đầu xuất khẩu gạo thế giới ở tầm mức cao hơn, khoảng 11 triệu tấn gạo, do họ còn gạo tồn kho khá lớn. Một số nước khác như Campuchia, Trung Quốc, Guyana, Myanmar, Pakistan, Paraguay và Hoa Kỳ có khả năng xuất khẩu gạo nhiều hơn, trong khi các nước Argentina, Úc Châu, Brazil và đặc biệt Ấn Độ sẽ bị cạnh tranh gay gắt hơn do giá cả thiếu hấp dẫn. (2).

Theo nhận định gần đây của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, Trung Quốc hiện giữ số lượng tồn kho gạo rất lớn (46,8 triệu tấn gạo), chiếm đến 42% tồn trữ thế giới (111,2 triệu tấn gạo). Số lượng gạo dự trữ này đủ cho người dân dùng trong 117 ngày so với phần còn lại của thế giới chỉ 71 ngày; do đó, an ninh lương thực Trung Quốc khá ổn định nên họ có thể ngưng thu mua bất cứ lúc nào khi họ muốn (8). Các nhà xuất khẩu VN nên cẩn trọng khi làm ăn với họ. Thái Lan và Myanmar ký hợp đồng G2G giữa Chính phủ và Chính phủ để bán gạo cho Trung Quốc dễ dàng hơn Việt Nam; tuy nhiên, VN còn tiếp tục giao thương với nước này qua dạng tiểu ngạch, mặc dù WTO yêu cầu giảm bớt.

Trong tương lai, số lượng gạo chất lượng trung bình và thấp sẽ tăng cao trên thị trường thế giới do Ấn Độ, Myanmar và Campuchia sản xuất mạnh trong khi nhu cầu gạo với chất lượng này sẽ không thay đổi nhiều, gây cho ngành xuất khẩu gạo VN bị cạnh tranh khốc liệt và giá cả hạ thấp. Hơn nữa, các sản phẩm nông nghiệp, nhứt là lúa gạo sẽ được tiến hành tự do hóa thương mại vào năm 2015 trong khu vực ASEAN. Do đó, xuất khẩu gạo thơm và gạo có chất lượng cao cần được hỗ trợ khuyến khích nhiều hơn nữa để nâng cao lực cạnh tranh của khâu này, nhưng phải thực sự đảm bảo chất lượng cao.

Ngoài ra, mong đợi lộ trình thực hiện chủ trương thương nhân đầu mối xuất khẩu gạo phải có vùng nguyên liệu hoặc hợp tác, liên kết, đặt hàng với hộ nông dân trồng lúa sớm được nghiêm chỉnh áp dụng đại trà, vì đó là bước cơ bản để thiết lập thương hiệu cho lúa gạo VN và đảm bảo quyền lợi người trồng lúa.

Trần Văn Đạt, Ph. D.

14/01/2015

 

Tài liệu tham khảo:                                             

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s