Hồ Đắc Duy – DI DÂN KHAI HOANG ĐỊNH CƯ CỦA HỌ HỒ ĐẮC

Cuối thế kỳ 20 cư dân họ Hồ Đắc đã có mặt gần như khắp các tỉnh thành trong nước và một số quốc gia trên thế giới.

Vấn đề di dân nói chung có nhiều nguyên nhân rất phức tạp đôi khi chỉ thuần về kinh tế chứ không phải do chính trị, di dân tự do cá thể, gia đình hay của một nhóm người cùng huyết thống, sắc tộc, tôn giáo hay cùng một làng, xã… Với giòng họ Hồ Đắc làng An truyền thì có một nét đặc thù riêng gắn liền truyền thống gia tộc.

 

Có thể chia ra làm 4 thời kỳ.

Thời kỳ đầu : từ khi ngài khai canh Hồ Quãn Lãnh đến làng An truyền định cư, khai hoang, lập nghiệp và 100 năm sau đó (1306-1406)

Thời kỳ thứ hai : Đi theo phong trào di dân của chúa

Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát

Thời kỳ Pháp thuộc 1858-1945

Thời kỳ sau 1975

Giai đoạn đầu Với chiều dài lịch sử hơn 700 năm tồn tại và phát triển giòng họ Hồ Đắc hôm nay đã phân tán ra nhiều nơi để sinh sống. Tùy thuộc vào tập tục, tín ngưỡng, tôn giáo mà vùng đất mới nơi định cư đã có ảnh hưởng một phần nào lên trên truyền thống gia tộc vốn có, tuy nhiên cái cột lõi, tinh anh, đạo đức của giòng họ thì vẫn tồn tại phát triển bền vững.

Ngài Hồ Quãn Lãnh là trong số người đầu tiên đặt chân đến vùng đất Ô Lý vừa mới được của Champa chuyển giao cho Đại Việt trong lễ cưới của vua Champa là Chế Mân và công chúa Huyền Trân của Đại Việt vào tháng 6 năm 1306.

Ngài Hồ Quãn Lãnh, người từ miền Bắc đi vào Thuận Hóa theo lời kêu gọi của Hành khiễn Đoàn Nhữ Hài được vua Trần Anh Tông sai vào trấn nhậm vùng đất mới này, ông Hồ khai hoang, vỡ đất, lập vườn để làm ruộng, trồng tỉa ở vùng đất An truyền nhỏ bé này (xem huyển thoại về Hồ Quãn Lãnh). Trong vòng 100 năm nỗ lực khẩn hoang lập ấp, chàng trai trẻ ngày nào đã có một cơ ngơi tương đối vững chãi, ông xây dựng gia đình ngay chính trên mảnh đất mình đã đổ mồ hôi để tạo ra,

An Truyền là một doi đất nhỏ, là một loại rừng ngập mặn ven bờ của hệ thống đầm phá Tam Giang Cầu Hai, khu vực này chỉ cách cửa Eo nay là cửa Thuận an khỏang hơn 3 Km. Sau trận lụt khủng khiếp năm 1404, doi dất này biến dạng, nó mang dáng dấp đầu của con mãng xà vương như hình dạng ngày hôm nay.

Vùng An truyền, Thuận an, cửa sông Hương và ven bờ phá Tam Giang là vùng đất không được bình an, luôn luôn bị xáo trộn bởi chiến tranh và cướp bóc. Từ năm 1311 đên năm 1410 có gần 14 trận chiến tranh lớn giữa 2 nước làm chết 2 vị vua, Vua Trần Duệ Tông của Đại Việt và Chế Bồng Nga của Champa, hai lần quân đội Champa chiếm thành Thăng Long, phá hủy kinh đô của Đại Việt.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: “Năm 1371 giặc (quân đội Champa) ùa vào thành, đốt phá cung điện, cướp lấy con gái, ngọc lụa đem về, quân Champa đốt trụi cung điện, nhà cửa. Thư tịch, sổ sách do vậy sạch không. Nhà nước từ đó sinh ra nhiều chuyện”

Vùng địa đầu giới tuyến, biên giới giữa Đại Việt – Champa là châu Thuận Hóa cũng là nơi mà nhân dân Việt hứng chịu nhiều thảm khốc nhất trong mọi cuộc chiến tranh.

Thuận Hóa vốn là đất cũ của Champa,

Tất cả mọi cuộc hành quân của Champa từ năm 1361 trở về sau đều mở màn bằng những cuộc tấn công chớp nhoáng, thần tốc, với tinh thần hung hãn muốn đè bẹp ngay từ đầu. Đánh Thuận Hóa để tiến về Thanh Hóa, Thăng Long. Người dân Thuận Hóa vốn là những nông dân hiền lành. Họ từ Thanh hóa, Nghệ An hay từ miền Bắc di dân đến Thuận Hóa vì đây là vùng đất mới, màu mỡ phù sa lắm tôm nhiều cá dễ lập nghiệp. Nhưng cứ vài ba năm một lần quân Champa lại quấy nhiễu, cướp bóc, tấn công Thuân Hóa khiến cho những nông dân của đất Thuận Hóa đó dần dần trở thành những chiến binh thiện chiến.

Người Champa và đất cũ Ô Lý của họ, người Việt di dân đang là chủ nhân của vùng đất mới Thuận Hóa là những chiến binh hiểu rõ địa hình địa vật hơn bất cứ đội quân nào từ đâu đến, bởi thế trận chiến trên vùng đất này sẽ trở nên khốc liệt, tàn bạo hơn, đau thương và bị thảm hơn mà trong đó con cháu họ Hồ làng An Truyền trong 3 thế hệ đầu cùng chung sức với những di dân khác, quân lính triều đình đã phải chiến đấu rất anh dũng chống lại với những chiến binh người Champa để tồn tại và còn phải gìn giữ đất đai, ruộng vườn, trang trại mà mình đã phải đổ máu, mồ hôi, sức lao động để xây dựng nên.

Trước bối cảnh như vậy, một số gia đình đang sống tại An truyền trong đó gia đình con cháu cùa ông Hồ Quãn Lãnh phải đi tìm một vùng đất mới bình yên hơn, an toàn hơn để định cư và lập nghiệp, lánh xa nơi chiến địa thường xảy ra. An truyền chỉ còn là vùng đất tổ và Truối là miền đất lý tưởng, nó nằm phía Tây Nam và chỉ cách làng An Truyền 30km. Truồi cũng là một vùng ven bờ phá Tam Giang Cầu Hai, nơi mà quân Champa không bao giờ bén mảng đến vì điạ thế hiểm trở không có đường rút lui. Truồi đất rộng, người thưa, rừng già, núi cao, sản vật thú rừng rất phong phú, nguồn nước ngọt, sông suối chằng chịt. Dân tứ xứ từ nhiều nơi đổ xô về lập nghiệp. Ngoài nông sản, người dân còn khai thác các nguồn lợi thủy hải sản, lâm sản…

Thời kỳ di dân này phần lớn là để lánh xa khỏi vùng đất mà người Champa hay đột nhâp và bọn cướp biển thường xuyên lui tới.

Do đó việc tản cư chỉ có tính cách tạm thời cục bộ điạ phương trong phạm vi trên dưới vài chục Km, không đi xa nơi làng cũ là mấy.

Thời gian di dân này xảy ra dưới thời các vua: Trần Anh Tông (1306), Trần Minh Tông, Trần Hiển Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Thuận Tông (1389), Trần Thiếu Đế, Hồ Quí Ly (1399); tháng 5 năm 1407, cha con Hồ Quí Ly bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc.

Giai đoạn thứ hai kéo dài trong khoảng hơn 300 năm từ năm 1406 đến 1765, khởi đầu bằng việc quân Minh đánh chiếm và đặt nền móng đô hộ nước ta với 3 tên cai trị khét tiếng tham lam tàn bạo là Trương Phụ, Mộc Thạnh và Liễu Thăng.

Sử viết :

Năm 1407 khi Chiêm Thành cất quân định thu lại đất cũ, dân di cư sợ chạy tan cả, bọn Hối Khanh trở về Hóa Châu, dân di cư đi đường bộ đến sau, còn những người đi đường thủy thì đến trước, Trấn phủ sứ lộ Thuận Hóa là Nguyễn Phong ngăn không cho vào khu vực này trong khi đó Chiêm Thành lại chiếm cứ Thăng Hoa, rồi sang cướp Hóa Châu. ĐặngTất xin với Trương Phụ cho làm quan để cai quản Hóa Châu, Chiêm Thành sợ nên dẫn quân rút về.

Trong suốt thời gian này nhân dân Thuận Hóa trong đó có họ Hồ Đắc điêu đứng vì lọan lạc và chiến tranh.

Năm 1413 , khi quân Mình bàn kế đánh chiếm Thuận Hóa thì Mộc Thạnh nhận định đất Hóa Châu như sau: “Hóa Châu núi cao biển rộng, chưa dễ lấy được”. Còn Trương Phụ thì nói: “Tôi sống được cũng là vì Hóa Châu, có làm ma cũng là vì Hóa Châu. Hóa Châu mà chưa dẹp được, tôi còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng nữa! ( Vua Tàu )”. Bèn đem quân thủy đi, mất 21 ngày, đánh vào thành Thuận Hóa. Xem như thế đủ biết đất giao tranh thời kỳ này chính là đất Thuận Hóa.

Năm 1418 đến 1428, Lê Lợi khởi binh đánh quân Minh và đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi giành lại độc lập cho nước nhà. Năm 1433 Lê Lợi qua đời. Lợi dụng vua mới còn nhỏ. Chiêm Thành ra tay cướp bắt người Châu Hóa.

Năm 1470, quân Đại Việt do vua Lê Thánh Tông trực tiếp chỉ huy lại tấn công Chăm Pa. Quân Đại Việt lúc này đã rất mạnh và có tổ chức tốt. Thủy quân Đại Việt do các tướng Đinh Liệt và Lê Niệm chỉ huy tấn công trước. Lê Thánh Tông dẫn đại quân theo sau. Vua Lê Thánh Tông dẫn thủy quân tiến đánh quân Champa ở huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam). Quân Việt nhanh chóng tiến lên đánh bại quân Champa, Vua Chăm là Trà Toàn bị bắt sống và chết trên đường chở về Thăng Long. Ít nhất hơn 60.000 người Chăm bị giết và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại Việt. Sau chiến thắng, vua Lê Thánh Tông đã sát nhập các đất chiếm được và lập nên thừa tuyên Quảng Nam. Vua Lê Thánh Tông cũng phong vương cho tiểu vương xứ Kauthara là vùng đất tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay và nước Nam Bàn (sau này là hai nước Thủy XáHỏa Xá) ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon TumĐăk Lăk tức miền đất Tây Nguyên ngày nay. Chính thất bại này đã dẫn đến việc suy vong của vương triều Champa.

Từ năm Canh Thân (1500 ) đến năm 1527 chỉ có 2 sự kiện, một là Mạc Đăng Dung truất phế Lê Cung Hoàng vào tháng 6 năm 1527 để lên làm vua, và hai là năm 1558 Nguyễn Hoàng xin anh rể là Trinh Kiểm vào trấn nhậm đất Thuận Hóa.

Trong giai đoạn này quân Champa suy yếu, không còn là mối đe dọa cho các di dân, họ tiến dần, lấn dần vào phía nam. Công cuộc Nam tiến càng ngày càng phát triển nhất là sau khi vua Lê Thánh Tông đánh chiếm được kinh đô và bắt sống Trà Toàn là vua Champa thì một số gia đình ở Quảng Bình, Thuận Hóa trong số di dân đợt này có họ Hồ Đắc thuộc đời Hồ Đại Lang 6, 7 (năm 1471 về sau ) mới di cư vượt qua đèo Hải Vân vào ngụ cư ở Quảng Nam, phần lớn là ở vùng Cẩm Sa Điện Bàn… Vào thời các chúa Nguyễn cai trị, Cẩm Sa trở thành đầu mối liên lạc giữa Phủ Chúa ở Thuận Hoá với Dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm. Mãi cho đến năm 1760 dưới thời của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát là vị chúa Nguyễn có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi của nước ta từ đô thành Phú Xuân cho đến tận Mũi Cà Mau, Chúa Nguyễn Phúc Khoát là ngưởi hoàn thành công việc Nam Tiến và chính trong thời điểm trọng đại này, gia đình ông Hồ Đắc Vinh ở làng Nam Phổ Hạ xứ Truồi gốc gác ở An Tuyền vào khoảng năm 1740 – 1750 đã tiễn đưa người con trai thứ 2 là ông Hồ Đắc Lại và con dâu lên đường vào nam tiếp tục công viêc khai hoang lập nghiệp và tạo thành một chi nhánh họ Hồ Đắc tại làng Ba Dừa, xã Long Trung, huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang bây giờ. Khai hoang, lập ấp vốn là một truyền thống trong máu huyết của giòng họ Hồ Đắc.

Giai đoạn thứ ba trong thời kỳ Pháp đô hộ

Vào năm kỷ dậu 1789 khi vua Quang Trung đánh đuổi quân Mãn Thanh về Tàu và thống nhất đất nước giành lại nền độc lập từ tay người Trung Quốc. Vua Quang Trung chết sớm, các vị vua kế nhiệm và quyền thần toàn những người bất tài tham nhũng thối nát đã đẩy đất nước lại rơi vào cảnh suy vong. Nhà Tây Sơn rơi vào cảnh “cốt nhục tương tàn”, trong khi đó vị chúa Nguyễn cuối cùng là Nguyễn Ánh tìm mọi cách cũng cố lại lực lượng để khôi phục lại quyền lực. Nguyễn Anh lên ngôi vua sau khi đè bẹp các lực lượng chống đối khác, ông là người mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn từ năm 1802. Từ khi Quang Trung lên ngôi và trong suốt 50 năm sau khi nhà Nguyễn cai trị là thời gian tương đối thanh bình, nhân dân có thể đi lại làm việc bất cứ nơi nào họ muốn và cư dân họ Hồ Đắc cũng bắt dầu ra khỏi lũy tre lảng đi tứ xứ cho nên việc di dân kinh tế không còn khó khăn như thời xưa nữa, vấn đề còn lại chỉ là phương tiện giao thông.

image001Trong gia tộc họ Hồ Đắc có khá nhiểu gia đình hay con cháu định cư ở các tỉnh khác như Nha trang, Đà lạt, Bình Dương, Củ Chi, Biên hòa, Cần Thơ… các thành phố lớn như Saigon, Hà Nội, Hải phòng… phần nhiều họ di dân là do nhiệm sở, công ăn việc làm, đất mới phì nhiêu màu mỡ hơn… Phần lớn sau khi ông bà cha mẹ của những di dân này qua đời thì các hậu duệ cũng dần dần quên mất gốc gác, quê cha đất tổ. Cho dù có muốn về thăm quê cũng không biết tìm ai để hỏi han, chia xẻ thành ra xa dần mất dần. Ngay trong nhà thờ họ cũng không còn có nhiều sắc phong, văn bản, tài liệu, giấy tờ ghi chép về gia tộc, vả lại chiến tranh, thiên tai, lụt lội nên chỉ hơn một 100 năm sau là đã mất mát, mục nát hư hao…

Thật đáng tiếc

Năm 1858 sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng dần dần chiếm cứ theo chiến dịch tầm ăn dâu. Năm 1862 chiếm 3 tỉnh miền Đông và năm 1867 chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây. Người Pháp gọi vùng đất mới là Nam Kỳ Lục Tỉnh bằng cái tên Basse-Cochinchine tức là vùng Cochinchine “hạ”, chúng đặt vùng Nam Kỳ là đất thuộc địa của Pháp, ở đây có một thể chế cai trị khác với Trung Bắc kỳ.

Dân Nam Kỳ hưởng quy chế “thuộc dân Pháp” được hưởng quyền lợi nhiều hơn các xứ khác. Muốn vào Pháp tịch để bình đẳng như dân mẫu quốc thì phải nộp đơn để thành citoyens français. Nam Kỳ cũng là xứ có bầu cử định kỳ và vận động cử tri. Người có Pháp tịch hoặc hội đủ một số điều kiện tài chánh mới có quyền đi bầu. Người dân Đông Dương chia thành ba hạng: Công dân Pháp, Thuộc dân Pháp và Dân bảo hộ.

Chúng tách dần dân Nam Kỳ ra khỏi ảnh hưởng của vương triều nhà Nguyễn ở Huế, chúng tạo ra trong xã hội Việt Nam một nhóm người dân Tây gốc Việt, ăn uống nói năng giao tiêp với nhau bằng một lối sống lai căn nhố nhăng không giống ai, tha hóa một bộ phận trong dân chúng VN làm đảo lộn luân lý đạo đức cũa xã hội, làm biến thái và thực dụng hóa, kinh tế hóa mọi tư duy làm mất đi nét hiền hòa vốn có của xã hội cũ, một xã hội có nền móng Nho giáo.

Những di dân của họ Hồ Đắc trong giai đọan này: phần nhiều họ di dân là do việc bổ nhiệm của triều đình Huế đến trấn nhậm ở các tỉnh thành khác, một số ít do công ăn việc làm, do kinh tế, một số khác đi tìm đất mới để khai hoang, cho đến gần cuối thế kỷ thứ XIX thì khuynh hướng mới là xuất ngoại qua các nước lân bang như Singapor, Nhật bản và khá nhiều du học sinh họ Hồ Đắc qua Pháp, phần lớn các du học sinh này sau khi tốt nghiệp, ra trường, thành đạt thì trở về nước, một số ít ở lại định cư ở Pháp và các nước ở Âu Châu, lấy vợ người bản xứ sinh con đẻ cái lập thành một họ Hồ Đắc ở hải ngoại.

Thời kỳ sau 1975

Sau khi thống nhất đất nước, một số dân miền Nam di cư ra nước ngoài và định cư tại các nước sở tại trong đó có một số gia đình họ Hồ Đắc, phần lớn ở Pháp và Hoa Kỳ, số này vào khoảng trên dưới 100 người, họ vẫn còn giữ được truyền thống văn hóa gia tộc, hằng năm họ cũng có trở về thăm quê hương.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s