HỒ ĐẮC DUY – TÁC GIẢ BÀI TỰA CỦA HỒ ĐẮC TỘC PHỔ LÀNG AN TRUYỀN

Viết một bài tựa, một lời nói đầu hay một lời dẫn nhập, một lời giới thiệu không phải là việc ai cũng có thể làm được
Xem như sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách Khâm Định Việt Thông Giám Cương Mục là 2 quyển chính sử của nước ta được biên soạn công phu có khi kéo dài trăm năm do các sử thần của Quốc Sử Quán của nhiều triếu đại chấp bút cũng chỉ là vâng theo chiếu chỉ của hoàng đế mà thực hiện, những sách nghiên cứu khảo cứu vể lịch sử, văn học, truyện ký, thơ văn sáng tác…khi viết một bài mở đầu cho cuốn sách thì bài tựa, lời nói đầu hay lời giới thiệu cũng phải nhờ một người khác mà chức vụ, danh tiếng về kiến thức hay đạo đức cao vọng của bậc hiền giả này bảo đảm cho giá trị một phần nào của tác phẩm.
Việc chọn lựa, nhờ người viết là một đắn đo cân nhắc rất kỹ lưỡng, thận trọng của tác giả và việc chấp nhận để viết lời tựa quả là một quyết định rất tế nhị vừa mang tính chất tình cảm vừa mang tính chất khách quan, đánh giá về mặt giá trị văn chương hay khoa học của tác phẩm.
Việc giao phó cho một người chấp bút viết lời tựa cho một cuốn gia phả là cực kỳ khó khăn hơn bất cứ một loại tác phẩm nào. Vì sao vậy? Người xưa đã nói “Có chính trị của một đời tất phải có sử một đời, mà ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt. Người thiện biết có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn… ” Còn ngòi bút, văn phong chép gia phả thì sao? Người chép sử là sử thần, do nhà vua bồ nhiệm, có ăn lương; người chép gia phả là người được cả hội đồng gia tôc đề cử, không ăn lương, phải là một người uyên bác, tinh thông về việc xưa nay trong quan hệ huyết thống giòng họ mồ mả, tổ tiên và các mối quan hệ làng xã và với các họ tộc khác… Tri thức, kinh nghiệm, và tư liệu họ phải tự tìm lấy, tự sưu tập lấy… Một lãnh vực hoàn toàn khác với các sử thần, nơi họ làm việc, biên soạn là một tòa nhà quốc sử quán có đầy đủ nhân viên phục vụ, có một kho sử liệu sẵn trong thư khố… còn người chép gia phả thì hoạt động đơn độc, có chăng thì chỉ vài người trong giòng họ…
Vinh danh một số bậc tiền bối có công gầy dựng Hồ Đắc Tộc Phổ: Ngoài những ngài đầu tiên biên soạn gia phổ, có ngài Hồ Đắc Khiêm, tộc trưởng đời thứ 10, tông đồ thứ 11 người viết lời tưa cho quyển Hồ Đắc Tộc phổ bằng chữ Hán, ngài Hồ Đắc Tuyên đời thứ, tông đồ thứ phụng dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc Ngữ, ngài Hồ Đắc Hàm, tộc trưởng đời thứ10, tông đồ thứ 6 viết Hồ Đắc Tộc Phổ Tự Ngôn, các tộc Trưởng quản vệ Hồ-ĐắcThưởng, Hồ-Đắc-Kiệp, Hồ-Đắc-Biện đã thay mặt cả họ làm văn bia ca tụng công đức của tiền nhân, tộc trưởng Hồ-Đắc-Bèn đứng tên trong trích lục của Địa chánh, ngài Hồ-Đắc-Tử ký vào năm Minh-Mạng thứ 13 khi làm lại phụng cứu trong điền bộ của làng năm Gia Long thứ 11, ngài Hồ Đắc Khải đời thứ 11, tông đồ thứ 12 viết Hồ Đắc Thề Phổ Tự.
Công đức vô lượng của các bậc tiền bối đã để lại cho con cháu muôn đời sau một tài liệu gia tộc vĩ đại. Hậu duệ của các ngài dùng các tài liệu có trong gia phả để xiển dương giòng họ, nêu cao truyền thống đạo đức gia tộc.
Lời tựa viết:
“Trộm nghĩ: Tích xưa không ghi vào sách vở, người sau khó tự phụ thông minh; nhà có gia-phổ như nước có sử in, kìa nhớ lấy khăn khăn, đời càng càng xa lại càng mất tích; chi cho bằng mực đen giấy trắng, đời này qua đời nọ biên chép rành rành; vậy nên giòng dõi người xưa, nghìn thu còn để, nhắc đến công xưa gầy dựng cảm mến không cùng, kể từ các ngài tiên tổ cho đến viễn tôn, hoặc một gốc mà chia nhánh, một giòng mà khác phái, hễ đã vào vòng thân thuộc chẳng dám chút quên.

Hỡi ôi, tự chín đời trở lên, nguồn cơn mù mịt, may được thấy chín đời trở xuống, sự tích rõ ràng; nhân bản chữ Hán dịch ra quốc ngữ, cho con cháu biết sự tích và công đức của ông bà để lại”.

Viễn tôn Biên-tu
Hồ Đắc Tuyên phụng dịch
Ngày 23-12-1919

Vài nét về tiểu sử của ngài Hồ Đắc Khiêm, người viết lời tựa cho quyễển Hồ Đắc Tộc phổ. Ông là con thứ 8 của Ngài Hồ Đắc Kiệp và Bà Hồ Thị Thu. Sinh ngày 8 tháng 6 năm Đinh sửu (1877) gìờ sửu, và mất ngày hai-mươi-mốt (21) tháng mười (10) năm Mậu thìn (1928). Hưởng dương 52 tuổi. Đương thời ông làm Chánh Tổng nên bà con trong làng thường gọi bằng Ông Chánh, ông là người uyên bác hiểu rõ lịch sử địa phương, phong tục tập quán, các giòng họ trong khu vực mình làm chánh tổng, ông lại là người hiền lành và phúc hậu nên đươc nhân dân yêu mến. Vợ ông là bà Đoàn thị Liễu (1881-1938). Lăng mộ của ông bà được an táng tại Cồn Nam Giao, nghĩa trang đồng An-Truyền.

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s