MINH LUÂN – Đừng quá nhiều chất sắt trong cơ thể

Eisenmangel_MuedigkeitTrái với các ý tưởng từ trước đến nay, môt sự thừa thãi chất sắt trong cơ thể không phải là không nguy hiểm.
Chất sắt rất tốt cho sức khỏe, nó ban cho ta sức mạnh : đó là một trong những nguyên tắc quan trọng về dinh dưỡng từng được chấp nhận. Hơn nữa, từ lâu người ta đã khuyên nên uống thêm thuốc sắt. Những lượng đa sinh tố, ngũ cốc và chất bột trong bữa ăn được làm giàu thêm với sắt để ngăn ngừa chứng thiếu máu. Gần đây hơn, đa số các chuyên gia cho rằng thừa thãi chất sắt cũng không gây nguy hiểm gì. Thế nhưng những cuộc nghiên cứu mới nhất vừa đưa ra kết luận đáng lo ngại : một sự ăn uống quá thừa chất sắt có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Dù còn cần phải được xác nhận, nhưng kết luận này dường như cho thấy rằng chất sắt chẳng vô hại như người ta tưởng.
Cơ thể cần chất sắt để tạo ra hồng cầu có nhiệm vụ tải oxy đến các mô. Khi lượng hồng cầu không được tái tạo, cơ thể bị thiếu oxy và khó hoạt động tốt được. Những người bị thiếu sắt thường yếu ớt và dễ mắc bệnh hơn. Một khi được hấp thụ vào, sắt chỉ bị mất đi khi có sự mất máu : kinh kỳ, sinh đẻ, bị thương hay hiến máu. Sắt không được sử dụng để tạo hồng cầu sẽ tích tụ trong gan, tụy và tủy xương dưới dạng prôtêin có tên là ferritine. Lượng tích tụ này tăng dần theo độ tuổi, dường như chẳng có gì đáng ngại cho đến khi một sinh viên y khoa tên là Jérôme Sullivan lên tiếng báo động.
Lúc còn là sinh viên nội trú, Sullivan thường có dịp nghiên cứu những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Một câu hỏi ám ảnh anh : tại sao hầu như chỉ là đàn ông ? Tại sao chứng nhồi máu né tránh các phụ nữ trẻ, cho dù họ có mức cholestérol cao ? Các chuyên gia cho rằng đó là do hormone oestrogène đã ngăn ngừa bệnh tim mạch ở phái nữ. Khi đọc lại các chuyên khảo y khoa, Sullivan nhận ra một điều kỳ lạ : tỷ lệ nhồi máu tăng cao nơi những phụ nữ đã bị cắt bỏ dạ con, cho dù buồng trứng tiết ra oestrogène vẫn còn được giữ lại. Dường như hormone này chẳng còn tác dụng một khi mất tử cung. Thế mà ngoài việc chứa bào thai, tử cung chỉ còn một chức năng khác, đó là kinh kỳ. Phải chăng việc mất máu chứa nhiều sắt mỗi tháng đã giúp cho phụ nữ tránh được bệnh tim mạch ?
Sullivan so sánh lượng sắt ở phụ nữ và đàn ông. Trung bình một phụ nữ có kinh sẽ có lượng ferritine từ 10 đến 40 nanogram/ml máu, tức là không đáng kể. Đến tuổi 60, thông thường con số này tăng gấp 3. Đàn ông thường bắt đầu tích tụ sắt ở tuổi trưởng thành, và đến 45 tuổi họ thường có lượng sắt bằng với phụ nữ 70 tuổi. Kế đó Sullivan phân tích tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch ở cả 2 phái. Ở tuổi 45, đàn ông thường tử vong nhiều hơn phụ nữ gấp 4 lần, và lượng sắt trong máu của họ cũng nhiều hơn 4 lần. Đến 70 tuổi, phụ nữ tích tụ sắt nhiều hơn do đã mãn kinh nên tỷ lệ tử vong do nhồi máu bằng nhau ở cả 2 phái.
Sullivan tính được rằng một phụ nữ có kinh sẽ thải ra trung bình 500mg ferritine mỗi năm. Một người đàn ông hiến máu 2 lần trong năm (mỗi lần 0,5 lít) cũng sẽ mất một lượng sắt tương đương. Sullivan kết luận rằng nếu kinh kỳ đã bảo vệ cho phụ nữ, việc hiến máu thường xuyên cũng có tác dụng như thế đối với đàn ông.
Sullivan đăng kết quả công trình của mình trong chuyên san “The Lancet” vào năm 1981 nhưng không được giới y học chú ý. Tuy nhiên anh cảm thấy rằng mình đã chạm đến điểm mấu chốt. Dù đã có nhiều loại thuốc hữu hiệu làm giảm cholestérol nhưng không ai chứng minh được rằng chúng sẽ ngừa được các bênh tim mạch. Sullivan tin rằng còn có một yếu tố khác làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Năm 1990, nhà tim mạch Mỹ John Murray nhận thấy rằng không có một người châu Phi du mục hơn 50 tuổi nào bị bệnh tim mạch cả, tuy thức ăn của họ thường là sữa chứa nhiều chất béo và cholestérol. Dựa theo công trình của Sullivan cho rằng chất béo và cholestérol không gây hại nếu không kết hợp với tác dụng oxy hóa của sắt, Murray đo lượng cholestérol ở một số người trước và sau khi được cung cấp thêm chất sắt. Ông nhận thấy khi lượng sắt tăng, sẽ kéo lượng cholestérol “xấu” (LDL) tăng theo.
Nhiều cuộc nghiên cứu trên loài vật cũng cho thấy rằng sự thừa thãi sắt có thể có tác dụng nguy hại cho tim. Giáo sư Joe McCord đã chứng minh rằng chất sắt dư thừa có thể thúc đẩy những tổn thương mô tim sau một cơn nhồi máu bằng cách giải phóng các gốc tự do.
Dù không mắc chứng nhiễm sắc tố sắt (hémachromatose), bạn cũng nên áp dụng vài sự cẩn trọng sau đây :
* Thường xuyên đo lường lượng sắt : Phụ nữ có kinh thường có lượng ferritine trong khoảng 12 đến 40nanogram/ml; đàn ông và phụ nữ mãn kinh có từ 70 đến 150. Mức nguy hiểm là 200nanogram/ml. Ngoài ra, những ai có mức này bằng hoặc cao hơn 150 thì nên giảm mức tiêu thụ sắt.
* Hạn chế bớt ăn thịt heo, bò : Một cuộc nghiên cứu trên 45.000 người tại Mỹ đã cho thấy mối liên hệ giữa việc tiêu thụ sắt (có trong thịt bò) với nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
* Đừng lạm dụng thuốc sắt : Nếu bạn bằt đầu 1 ngày bằng cách uống 1 viên vitamin có sắt và 1 chén ngũ cốc tức là bạn đã đưa vào cơ thể ít nhất 35mg sắt – gấp đôi nhu cầu hàng ngày. Dù sự nguy hiểm do thừa chất sắt chưa được khẳng định một cách tuyệt đối, nhưng vì nó cũng không mang lại ích lợi gì, tốt hơn không nên lạm dụng.
* Nên hiến máu : Theo một cuộc nghiên cứu tại Phần Lan vào năm 1994, đàn ông hiến máu thường xuyên sẽ giảm được 44% sự oxy hóa của cholestérol LDL. Đàn ông hiến máu 4 lần trong năm sẽ giảm lượng ferritine xuống 50nanogram/ml; phụ nữ thì còn 25nanogram/ml. Những người hiến máu trên 65 tuổi sẽ giảm nguy cơ tử vong xuống một nửa.
Tuy nhiên chúng ta cũng đừng quên vấn đề chính yếu : những người bị thiếu máu vẫn cần phải được cung cấp thêm chất sắt.
(theo Sélection)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s