Nghiêm Phương Mai dịch – Maria Montessori và hòa bình thế giới

maria-montessoriNhân dịp Giải Nobel Hòa Bình 2014 được trao ngày 10/10/2014 cho Malala Youzafsai, cô gái Pakistan 17 tuổi, và nhà hoạt động Ấn Độ Kailash Satyarthi, vì quá trình chiến đấu chống sự bóc lột trẻ em và tranh đấu cho quyền được đi học của thanh thiếu niên, chúng tôi xin giới thiệu một bài liên quan đến quan điểm về giáo dục và hòa bình của nữ bác sĩ Maria Montessori đã từng được đề cử cho giải thưởng này vì công cuộc tranh đấu cho quyền lợi của trẻ thơ của loài người trên toàn thế giới.

Bản dịch được trích từ quyển sách Giáo Dục và Hòa Bình * (Education and Peace) của BS Maria Montessori là một tổng hợp gồm các diễn ngôn của Montessori trong các thập niên của 1930 tại các hội nghị ở Âu Châu, khi Âu châu đang đứng trước hiểm họa của một Thế chiến. Sau Thế chiến thứ Hai (1939-1945), tổ chức Liên Hiệp Quốc được hình thành vào tháng 10 năm1945 để thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia nhằm hỗ trợ duy trì hòa bình thế giới.

Bản thân Maria Montessori cũng phải lưu vong vì không tán đồng đường lối của nhà độc tài Mussolini ,nhưng lại bị giảm lỏng tại Ấn độ gần 10 năm (1939-1947) vì là công dân của nước thuộc phe Trục trong thời gian chiến tranh. Bà vận dụng thời gian này để tổ chức khoảng 20 khóa huấn luyện và đào tạo hàng ngàn giáo viên cho nước Ấn độ trước khi trở về định cư và mất tại Hòa Lan (1952).

Lời dẫn nhập của Ban biên tập bản tiếng Ý của tác phẩm Giáo Dục và Hòa Bình của B.S. Maria Montessori.

Các nỗ lực không hề mệt mỏi của Maria Montessori trong việc mở ra những hướng đi mới thật là hấp dẫn như một nguồn lực của thiên nhiên.

Khi bà là một y sĩ, bà ngẫu nhiên được tham gia vào công việc điều trị cho các trẻ em bất thường về mặt thể chất và tâm thần, bà đã làm việc với các em trong tinh thần tận tụy tuyệt đối. Bảy năm sau, trời khiến cho bà tiếp xúc với một nhóm trẻ bình thường ở tuổi mẫu giáo. Bà đã khánh thành cái Casa dei Bambini hay Ngôi Nhà của Trẻ thơ đầu tiên cho các em ở Roma vào ngày 6 tháng Giêng , năm 1907. Những biểu hiện tâm lý của các trẻ em này, những đứa trẻ đã hé lộ những đặc điểm về cá tính chưa từng được xét đến và rõ ràng đã bị cản trở không được tự bộc lộ bởi sự áp chế do nền giáo dục truyền thống trong gia đình và học đường, đã dạy cho bà những sự thật không ngờ. Những sự thật này đã được bà kiểm chứng qua thí nghiệm đã được lặp lại và qua công việc đã làm với trẻ em có những hoàn cảnh đa dạng về mặt xã hội và văn hóa trên khắp hoàn cầu. Bà chiếu rọi ánh sáng rực rỡ lên các khám phá của bà thông qua những kiến giải trực cảm mang dấu ấn của một thiên tài. Một khi cơ sở vững chắc cho các học thuyết của bà đã được thiết lập qua kinh nghiệm thực tiễn, các tư tưởng của bà trong cương vị một nhà giáo dục và một nhà triết học đã vươn xa hơn nữa và khơi mở những viễn cảnh ngày càng rộng lớn theo dòng thời gian.

Peace_DoveMục đích của tất cả các tác phẩm của Maria Montessori là mang đến một sự thấu hiểu mới mẽ về các tiềm năng và nhu cầu của trẻ em, đặc biệt ở những năm sớm nhất trong đời của đứa trẻ, và để trình bày một sự phản biện triệt để về các sai lầm và định kiến trong quá khứ, dù vậy phản biện này không hề mang tính khô khan và tiêu cực.

Vào năm 1932, công việc của bà trở nên khó theo đuổi ở nước Italia và đến năm 1934, tổ quốc của bà đã khép lại cánh cửa sau lưng bà. Từ ngày hôm đó, danh tiếng của bà dường như trở thành phai mờ ở Italia, nhưng lại ngày càng sáng chói ở hải ngoại.

Một khi ra khỏi nước Italia, mối đe dọa chiến tranh- mà mọi người ở Âu châu đều lo ngại – đã bắt đầu đè nặng lên bà. Mối quan ngại sâu sắc của bà không bắt nguồn từ chiến tranh về mặt chính trị, nhưng đúng hơn là cái vấn đề về mặt con người. Nó khiến bà quan tâm sâu sắc, cũng giống như vấn đề của những năm đầu đời của thời ấu thơ đã ám ảnh bà trong thời tuổi trẻ của bà. Trí lực đầy ấn tượng của bà một lần nữa đã được vận dụng. Tương tự như kinh nghiệm của bà với trẻ em đã từng cho bà niềm cảm hứng để bà khám phá ra những qui luật về sự phát triển của con người, thì nay vấn đề chiến tranh đã khiến bà dấn thân vào cuộc truy tầm say mê để tìm ra những sự thật mới mẽ về con người. Với điểm khởi đầu là niềm thâm tín vững chắc rằng đứa trẻ phải là người thầy của chúng ta cũng như với các ý tưởng của bà về sự phát triển tự do, hài hòa và cân đối của con người cá thể, bà tiếp tục khảo sát các vấn đề của sự phát triển của con người và của xã hội và bà khởi xướng một cuộc vận động dưới danh nghĩa của giáo dục : “Thiết lập một nền hòa bình lâu dài là công việc của giáo dục, tất cả những gì chính trị làm được chỉ là để giữ chúng ta khỏi lâm vào cảnh chiến tranh.’

Khai sáng như những tia sấm sét, các tư tưởng của bà mang đến niềm hy vọng cho các nước ở Âu châu. Các phe nhóm chính trị và các tổ chức tập hợp lại quanh bà, tiếp nhận niềm tin của bà vào giáo dục và sự cứu rỗi do trẻ em có thể dẫn đưa ta đến. Khi Maria Montessori nêu lên các từ ngữ về hòa bình và chiến tranh, các khái niệm trở thành mục tiêu của một tinh thần phản biện mới, làm phá vỡ những lối tư duy truyền thống, lỗi thời về chúng và khơi mở một thứ chân lý mới thích hợp hơn với tư duy hiện đại. Maria Montessori khảo sát vấn đề mới này cũng với sự chú tâm chính trực và xuyên thấu đã luôn luôn là đặc trưng của sự truy tầm chân lý của bà.

Năm 1932, trong một bài diễn văn có ảnh hưởng sâu rộng , được đưa vào trong cuốn sách này, bà đã nói về vấn đề hòa bình tại Văn Phòng Giáo dục Quốc tế tại Geneva, lúc bấy giờ là trung tâm của phong trào hòa bình tại Âu châu.

Năm 1936, một hội nghị về hòa bình tại Âu châu được tổ chức để xét đến các khía cạnh chính trị của vấn đề. Tại hội nghị, được tổ chức tại Bruxelles, Maria Montessori cũng đã trình bày những tham luận về hòa bình, như nhiều phát ngôn viên chính trị hàng đầu của Âu châu. Khi cuộc nội chiến bùng nổ ở Espanã, bà trốn sang London và đã đọc những bài diễn văn về hòa bình tại nước Anh.

Năm 1937, chính phủ nước Đan Mạch trao cho phong trào Montessori quyền sử dụng sảnh đường của Quốc hội tại Copenhagen để tổ chức một hội nghị chính, với chủ đề ‘Giáo dục vì hòa bình’. Bác sĩ Montessori mổ xẻ đề tài về sự bảo vệ nhân loại về mặt đạo đức qua một loại các bài diễn văn tại hội nghị.

Dưới sự bảo trợ của Hội Khoa học của thành phố Utrecht, bà đọc ba bài diễn văn trước giới thính giả của Trường Quốc tế về Triết học vào tháng Mười Hai, năm 1937. Và tháng Bảy năm 1939, khi đám mây đen của chiến tranh dần dần dầy đặc, bà đọc một bài diễn văn trước Hiệp hội Liên Tôn Thế giới (World Fellowship of Faiths), một tổ chức về tôn giáo quốc tế.

Maria Montessori đã chiếu rọi ánh sáng chân chính lên tư tưởng xã hội, chính trị, khoa học, và tư tưởng tôn giáo. Các đại học, tổ chức, hiệp hội ở nhiều quốc gia khác nhau, đoàn kết trong quyết tâm tái cấu trúc xã hội con người, đã đề cử bà làm ứng viên cho giải Nobel Hòa Bình vào các năm 1949 và 1950.

Nhiều năm công tác tận tâm không bị cản trở của Maria Montessori tại Ấn độ, bắt đầu từ năm 1939, đã cung cấp một nền tảng khoa học cho các tư tưởng của bà về sự tái cấu trúc của xã hội và về hòa bình và đã cho phép bà xây dựng nên một triết lý vững chắc và nhất quán trước mắt của các độc giả của bà, nó được thể hiện trong tác phẩm có thẩm quyền nhất là, Trí tuệ thấm hút*

Chúng tôi đã gom góp ở đây những bài nói chuyện trong đó bà đã nắm bắt cái vấn đề to lớn về tương lai của nhân loại, và lần đầu tiên bà đã nhiệt thành diễn đạt các thấu thị của mình về chủ đề này.

Tất cả những ai tò mò muốn biết vì sao Maria Montessori đã từng được đề cử là ứng viên của Giải thưởng Nobel về Hòa bình và đã nhận được nhiều phiếu bầu từ khắp nơi trên thế giới, họ sẽ khám phá ra trong bộ sưu tập các diễn văn trước công chúng nhiều mắt xích trong chuỗi tư tưởng của bà khi nó đang khai triển và hoạt động của bà khi nó đang hé mở và họ sẽ tìm thấy ở đây những vết tích đầu tiên của dấu ấn sâu đậm mà trí tuệ mạnh mẽ của bà đã để lại.

Lời Dẫn nhập do Maria Montessori đã viết cho quyển ‘Giáo Dục và Hòa bình’

Chúng ta không thể nào thảo luận về hòa bình một cách nghiêm túc nếu chỉ đơn thuần từ một quan điểm tiêu cực, như nó thông thường đã được xem xét đến qua nhãn quan chính trị, theo cái nghĩa hẹp là sự tránh né chiến tranh và sự giải quyết phi bạo lực cho các xung đột giữa các quốc gia.

Khái niệm tích cực về sự cải cách xã hội mang tính xây dựng được bao hàm trong chính ngữ nghĩa của cái từ ngữ hòa bình. Ta thường công nhận rằng chúng ta phải sáng tạo ra một loại con người khác hầu có được một thứ xã hội khác, nhưng điều này vẫn còn đang không là gì hơn một sự trừu tượng. Mặc dù hầu như đúng rằng con người, với tính cách là một cá thể, nó có thể cải thiện, và rằng xã hội có thể dựa trên các nguyên tắc về công bằng và tình thương, tất cả chúng ta đều ý thức rằng các mục tiêu này không cấu thành môt hiện tại vượt quá tầm tay của chúng ta, mà đúng hơn, nó là một khát vọng mà sự hiện thực còn nằm xa xôi trong thì tương lai.

Tuy nhiên, có một thực tế cụ thể, ngay trước mắt, phải được xét đến từ quan điểm của hòa bình, một thực tế rằng xã hội con người vẫn chưa đạt được hình thái của một tổ chức cần thiết để đối mặt với các nhu cầu hiện nay của nó. Do vậy có một lý do thôi thúc chúng ta phải hướng mối quan tâm của mình đến các nhu cầu thiết yếu của hiện tại hơn là đến sự tổ chức một tương lai tốt đẹp hơn.

Xã hội ngày nay không chuẩn bị con người một cách thích đáng cho đời sống dân sự. Không có sự ‘tổ chức mang tính đạo đức’ cho đám đông quần chúng. Các sinh linh con người được dạy dỗ để tự xem mình là những cá thể riêng lẻ phải thỏa mãn các nhu cầu tức thời của họ bằng cách tranh đua với những cá thể khác. Một chiến dịch mạnh mẽ về tổ chức hẳn sẽ được đòi hỏi để khiến cho con người hiểu rõ và để tạo ra cấu trúc cho các hiện tượng xã hội, để đề ra và theo đuổi các mục tiêu tập thể, và nhờ vậy đem lại sự tiến bộ có trật tự về mặt xã hội.

Nhưng ngày nay tất cả những gì chúng ta có được chỉ là một sự tổ chức về các sự vật mà không có được sự tổ chức về con người. Chỉ có môi trường được tổ chức. Tiến bộ về kỹ thuật đã khởi động một thứ ‘cơ chế máy móc’   chụp bắt các cá thể vào trong các cạm bẫy của nó, thu hút họ như một thỏi nam châm hút lấy các mạt giũa bằng sắt. Hơn nữa, điều này đúng cho cả giới lao động chân tay lẫn giới trí thức. Mỗi cá nhân bị tách xa mọi người khác bởi các mối quan tâm riêng tư của chính mình, mỗi người chỉ muốn một loại công việc nào đó để thỏa mãn được các nhu cầu vật chất của bản thân, mỗi người đều bị lôi cuốn và bị kẹt vào các bộ phận đan kết của một thế giới máy móc và quan liêu. Rõ ràng là riêng các cơ chế không thể làm cho con người tiến bộ được, bởi tiến bộ tùy thuộc vào con người. Và cuối cùng rồi thì cái thời điểm sẽ phải đến khi nhân loại nắm lấy quyền kiểm soát sự tiến bộ và điều khiển nó.

Thời điểm ấy đã đến. Hoặc loài người, như một tổng thể, sẽ tổ chức và làm chủ cái thế giới đã cơ giới hóa, hoặc cái thế giới máy móc sẽ tiêu diệt nhân loại.

Để đạt được mục tiêu vô cùng khó khăn này – là sự hợp tác toàn cầu đòi hỏi ở nhân loại để sự tiến bộ được tiếp tục – loài người phải tổ chức lại. Điều cần thiết cấp bách là mọi người đều phải tham gia và để chỉnh sửa một khiếm khuyết đang đe dọa chính sự tồn tại của văn minh. Nhân loại phải được tổ chức, ở trận tuyến yếu kém nhất, trận tuyến sẽ chịu thua đầu tiên và cho phép kẻ thù – nghĩa là, chiến tranh- xâm nhập, nó không phải là một biên giới vật chất cụ thể giữa quốc gia này với quốc gia khác, mà là sự thiếu chuẩn bị của con người và sự cô lập của cá thể. Chúng ta phải phát triển đời sống tâm linh của con người và sau đó tổ chức nhân loại lại cho hòa bình. Khía cạnh tích cực của hòa bình nằm trong sự tái cấu trúc xã hội con người trên một cơ sở khoa học. Nền hòa bình và sự hài hòa trong xã hội chỉ có thể có một nền tảng; đó chính là con người.

Tái kiến tạo – nghĩa là một trật tự xã hội vững vàng và có cơ cấu tốt – không được xét đến ngay khi xã hội được nhìn đến một cách thực tiễn, bởi một cái nhìn như thế tự thân nó là bảo thủ. Tuy nhiên, rõ ràng là những thay đổi đột ngột và kỳ diệu đã xảy ra trong cái cơ cấu của thế giới vật chất của con người trong vòng năm mươi năm sau này, như là cái hệ quả của các khám phá khoa học đã mang đến những điều kiện bị thay đổi triệt để như thế trong đời sống con người khiến bây giờ ta hoàn toàn bị bắt buộc phải suy nghĩ nghiêm túc đến khía cạnh về mặt con người của các sự vật nhằm giúp chính con người thay đổi cho tốt đẹp hơn.

Đó là nhiệm vụ của giáo dục.

Giáo dục ngày nay vẫn còn khép kín trong các giới hạn của một trật tự xã hội nay đã thành quá khứ. Giáo dục ngày nay không những đi ngược lại với các mệnh lệnh của khoa học, nó còn chạy ngược chiều với các nhu cầu xã hội của thời đại chúng ta. Giáo dục không thể bị gạt bỏ như một yếu tố vô nghĩa trong đời sống của người ta, như một phương tiện để trang bị một vài nguyên tắc cơ bản về văn hóa cho giới trẻ. Trước tiên, nó phải được xét đến từ cái quan điểm phát triển các giá trị con người trong cá nhân, đặc biệt là các giá trị đạo đức, và kế đến, từ quan điểm tổ chức các cá nhân mang lấy các giá trị đã được củng cố này thành một xã hội ý thức rõ ràng về vận mệnh của nó. Một hình thái đạo đức luân lý mới phải đi kèm với hình thái văn minh mới này. Trật tự và kỷ luật phải nhằm đạt tới sự hài hòa giữa con người, và bất kỳ hành động nào cản trở sự thiết lập một cộng đồng đích thật của toàn thể loài người phải được xem là vô đạo đức và là một mối đe dọa đối với sự sống của xã hội.

Không thể đạt được mục tiêu này mà không cần có sự cố gắng thực tiễn và cụ thể. Rao giảng một nguyên lý trừu tượng hay cố thuyết phục kẻ khác là chưa đủ. Một ‘công trình’ lớn lao phải được xúc tiến. Một nhiệm vụ mới cực kỳ quan trọng đang ở trước mắt chúng ta: đó là khởi động giá trị của con người, cho phép nó đạt tới sự phát triển tối đa các năng lượng của nó, thật sự chuẩn bị  cho con người cái khả năng mang đến một hình thái xã hội khác của con người ở một tầm mức cao hơn. Con người xã hội đâu có thể được tạo ra ngay trong chốc lát từ hư không. Cá nhân đã lớn lên tới mức trưởng thành sau khi đã bị ức chế, cô lập và khiến cho nó chỉ biết theo đuổi  những mối quan tâm hay lợi ích cá nhân riêng tư qua thời thơ ấu và niên thiếu, dưới sự thống trị mù quáng của người lớn, những kẻ chỉ có quá nhiều khuynh hướng bác bỏ các giá trị của đời sống và chỉ hướng nó tới cái mục tiêu thấp hèn và ích kỷ là tìm ra một công ăn việc làm tốt cho bản thân trong cái vòng trật tự của xã hội.
Giáo dục ngày nay khiến cá thể trở nên cằn cỗi và các giá trị tâm linh của nó khô héo đi. Họ trở thành một kẻ tầm thường, một con ốc trong guồng máy mù quáng mà môi trường của họ đã biểu hiện. Ở mọi thời đại, một sự chuẩn bị như thế cho cuộc sống đều là phi lý; ngày hôm nay nó là một tội ác, một tội lỗi. Và nền giáo dục đàn áp và bác bỏ những lời nhắc nhở của cái bản ngã luân lý, dựng lên các trở ngại và rào cản trên đường phát triển của trí thông minh, kết án rất nhiều giới trong dân chúng phải chịu ngu dốt là một tội ác. Bởi của cải của chúng ta đến từ sức lao động của con người, không nhìn nhận chính con người là tài nguyên cơ bản nhất của chúng ta là một điều vô lý. Chúng ta phải truy tìm, phải vun trồng, phải bồi đắp giá trị của các năng lượng của con người, trí thông minh của nó, tinh thần sáng tạo của nó, các năng lực đạo đức của nó để không gì phải bị mai một đi. Các năng lượng đạo đức của con người đặc biệt phải được tính đến, bởi con người không chỉ là kẻ sản xuất. Nó còn được kêu gọi nhận lãnh và hoàn tất một sứ mệnh trong vũ trụ. Cái gì con người tạo ra phải được hướng đến một mục đích mà chúng ta có thể gọi là nền văn minh, hay nói cách khác, là sự sáng tạo nên một siêu thiên nhiên như là tác phẩm do bàn tay của con người! Nhưng con người phải nhận thức được tầm vĩ đại của chính mình; nó phải tự biến mình thành chủ nhân của cái thế giới bên ngoài mình và của các biến cố của con người một cách có ý thức.

Lãnh vực đặc biệt của luân lý là mối tương quan giữa các cá thể, và nó chính là cái nền tảng của đời sống xã hội. Đạo đức phải được xem là một khoa học tổ chức xã hội của những con người có giá trị cao nhất là tính cá biệt của bản ngã, chứ không phải sự hiệu quả của những bộ máy của họ. Con người phải học cách tham gia có ý thức vào cái kỷ luật xã hội đang tổ chức tất cả chức năng của họ một cách trật tự bên trong xã hội và học biết cách duy trì sự cân bằng giữa các chức năng này.

Điểm then chốt của vấn đề hòa bình và chiến tranh như thế không còn nằm trong nhu cầu cung cấp những khí giới vật chất cho con người để họ bảo vệ các biên giới địa lý chia cách quốc gia này với các quốc gia kia, bởi cái lằn tuyến phòng vệ đích thực đầu tiên để chống lại chiến tranh chính là bản thân con người, và nơi nào con người bị rối loạn trật tự về mặt tổ chức và đánh mất giá trị của mình, thì kẻ thù chung của toàn cầu sẽ xâm nhập vào qua cái khe hở.

Trích từ Education and Peace (NXB Clio), với sự đồng ý của MPPC và AMI (Asociation Montessori Internationale).

* Chúng tôi đang xúc tiến việc xuất bản

 

Nghiêm Phương Mai dịch

© 2014 Nghiêm Phương Mai

 

 

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s