ĐỊA DƯ CHÍ ĐẤT VIỆT NƯỚC NAM – QUYỀN THỪA THIÊN – HUẾ của Hồ Đắc Duy

sach-diadu-hodacduyLỜI NÓI ĐẦU CỦA BỘ ĐỊA DƯ CHÍ ĐẤT VIỆT NƯỚC NAM

Địa lý học là một môn học có từ lâu đời, quyển Nam Bắc phiên giới địa đồ được xem là quyển địa lý đầu tiên của nước ta.

Con Vua Lê Lợi là vua Lê Thái Tông đã sai Nguyễn Trãi viết sách Địa Dư Chí. Sau khi Nguyễn Trãi làm xong Địa Dư Chí, Vua sai Nguyễn Kiên Tùng làm Tập Chú Nguyễn Thiên Tích làm cần án Lý Tử Tấn làm thông luận rồi cho in khắc vào bộ Quốc Thủ Bảo Huấn Đại Toàn.

Vua Lê Thánh Tông sai làm sách Thiên Hạ Bản Đồ, đến đời Lê Dụ Tông, vua sai Trịnh Cương định lại biên giới châu huyện rồi làm ra sách Tân Định Bản Đồ, cuối đời vua Lê Hiển Tông ông Lê Nhữ Ngọc viết quyển Thiên Nam Lộ đồ thư Ngô Thì Sỹ, Nguyển Nghiễm soạn ra sách Nam Quốc Vũ Cống.

Dưới triều Tây Sơn có sách Cảnh Thịnh Tân Đồ.

Vua Gia Long sau khi lên ngôi sai Lê Quang Định soạn bộ Nhất Thống Địa Dư Chí.

Dưới thời vua Minh Mạng, Phan Huy Chú soạn Dư địa chí.

Năm 1841 vua Thiệu Trị sai soạn sách Đại Nam Nhất Thống Chí, dưới triều vua Tự Đức quốc sử quán Triều Nguyễn soạn ra Đại Nam Nhất Thống Chí.

Năm 1849, vua Tự Đức cho biên soạn Đại Nam nhất thống chí theo lời tâu của Bùi Quỹ.

Năm 1865 Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bộ sách dựa trên bộ Đại Nam nhất thống dư đồ

Năm 1882, bộ Đại Nam nhất thống chí mới hoàn thành.

Quốc sử quán khi dâng lên vua Tự Đức xem và xin phép khắc in, thì nhà vua bắt sửa kỹ lại và làm thêm tập “Bổ biên”.

Năm 1883, vua Tự Đức mất. Sau đó, trong triều liên tiếp xảy ra nhiều việc bất ổn, và tiếp theo là khi Kinh thành Huế thất thủ vào năm 1885 tất cà tài liệu trong thư khố huầ như bị thất lạc hết

Năm 1886 vua Đồng Khánh sai Hoàng Hữu Xứng làm ra sách Đại Nam Quốc Cương Giới Vùng Biên, gồm có 7 quyển sau đó triều đình sai quốc sử quán biên soạn bộ Đồng Khánh Địa Dư Chí, có 27 quyển và nhiều bản đồ.

Năm 1909, dưới đời vua Duy Tân sai quốc sử quán soạn lại bộ Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là bộ mới vì trước đó vua Tự Đức đã sai làm Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là bộ cũ.

Về địa chí địa phương có Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết năm 1555, ghi về chép núi sông thành trì phong tục của xứ Thuận Hóa tức là Châu Ô Châu Lý của Chiêm Thành cũ, Trịnh Hoài Đức soạn sách Gia Định Thống Chí, Bùi Dương Lịch soạn Nghệ An Chí…

Năm 1910, Đại Nam nhất thống chí được cho khắc in, nhưng chỉ chép hạn chế ở các tỉnh Trung Kỳ

Nội dung từng tỉnh trong bộ sách này cũng tương tự như bộ sách trước, nhưng có thêm bớt vài mục: Lăng mộ thì nhập lẫn vào Cổ tích, Nhân vật thì thêm truyện các hiếu tử. Lại có thêm các mục mới là: Dịch trạm, Lý lộ, và mỗi tỉnh có thêm một bản đồ.

Nguyên bản bộ sách được biên soạn dưới triều Tự Đức, có 28 tập với 31 quyển được xem như như tài liệu là bộ sách đầy đủ nhất

Mỗi quyển chép một tỉnh, bao gồm: Kinh sư (Huế), phủ Thừa Thiên, Hà Nội, Hưng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Quảng Yên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Vĩnh Long, Gia Định, Biên Hòa, An Giang, Định Tường, Hà Tuyên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên, và Phụ các nước lân cận Campuchia, Thái Lan, Thủy Xá, Hỏa Xá, Miến Điện, Lào

Mỗi tỉnh được trình bày theo các mục: 1/ Phân dã (giới hạn theo các vị sao trên bầu trời)hiện nay chúng tôi cải biên lại bằng tọa độ, 2/ Kiến trí diên cách (lịch sử thay đổi, tách nhập), 3/ Hình thế (vị trí địa dư), 4/ Khí hậu (thời tiết, mưa nắng), 5/ Phong tục tục lệ, thói quen), 6/ Thành trì 7/ Học hiệu (trường học), 8/ Hộ khẩu (dân số), 9/ Điền phú (thuế ruộng), 10/ Sơn Xuyên (núi sông), 11/ Cổ tích (di tích lịch sử văn hóa), 12/ Quan tấn (cửa ải và đồn biên phòng), 15/ Đê uyển (đê điều), 16/ Lăng mộ (mộ vua, quan), 17/ Từ miếu (đền miếu), 18/ Chùa quán (chùa, đền, nhà thờ), 19/ Nhân vật (tiểu truyện các danh nhân), 20/ Liệt nữ (phụ nữ tài giỏi, có công), 21/ Tiên thích (các bậc chân tu), 22/ Thổ sản (sản vật địa phương), 23/ Giang đạo (đường sông), 24/ Tân độ (bến đò).

Về bản dịch ra chữ quốc ngử thì:

Ở miền Nam Việt Nam, Đại Nam nhất thống chí đã được dịch ra tiếng Việt lần đầu bởi Á Nam Trần Tuấn Khải và Tu Trai Nguyễn Tạo; và đã được Nha Văn hóa thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa ấn hành năm 1960.

Ở miền Bắc, bộ sách đã được ông Phạm Trọng Điềm phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính; và được nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1970-1971.

Khác với môn lịch sử thì hầu hết các sách về địa lý thường được viết bằng văn xuôi. Quyển lịch sử nước ta được viết bằng văn vần, cuối cùng cách đây 170 năm là của 2 ông Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, riêng về Địa Lý chúng tôi chưa tìm thấy một tác giả nào viết Địa lý bằng văn vần, chỉ thấy một số bài thơ phong cảnh được các tiền bối vịnh ngâm mà thôi.

Sau  hơn 20 năm  bộ Đại Việt Sử Thi gồm có 31 quyển dưới dạng thơ song thất lục bát được ra đời và lưu hành trên mạng internet đến tháng 8 năm 2013 chúng tôi bắt đầu quyết đinh soạn bộ Địa Lý nước ta dưới dạng thơ với dự định sẽ viết mỗi tỉnh là một tập, mỗi tập có khoảng từ 800 đến 1200 câu thơ song thất lục bát. Bộ địa dư chí này sẽ có 70 tập, trong đó có 63 tập mà mỗi tập viết về một tỉnh.

Khi đất nước thống nhất, bản đồ hành chính giửa các vùng. tỉnh, huyện lỵ liên tục được sắp xếp. tách và sát nhập lại đến nay toàn quốc có 63 tỉnh và 3 tập viết riêng cho Hà nội, Huế, Sàigon, 2 tập viết về núi sông, biển đảo

Địa dư như là môt sinh ngữ nó luôn luôn được cập nhật từng ngày theo những biến đổi hình thể khí hậu, môi trường, chính trị…

Các tài liệu sẽ  được cập nhật hóa  trong sách cho đến năm 2013.

Chúng tôi phải cập nhật và thêm vào các mục mà sách xưa chưa đề cập đến như bến phà, phi trường, nhà ga. bến xe, bến tàu , hải cảng, đường cao tốc. khu du lịch, khu công nghiêp, đập thủy điên, khu sinh thái, khu bảo tồn. Hầm mõ tài nguyên khoáng sãn, mõ dầu, khách sạn, bải tắm…

Với các tài liệu có được trên cổng thông tin điện tử của từng tỉnh một. Và một số rất lớn các dữ liệu quí giá mà chúng tôi tìm được trên mạng đã giúp cho chúng` tôi soạn bộ sách này

Tên của sách được gọi: “Địa Dư Chí  Đất Việt Nước Nam”

Sách sẽ  được phổ biến trên trang web khoahocnet.com mỗi tháng.

Vì sách chỉ được soạn bởi một người cho nên không thể không có khiếm khuyết, tác giả rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp từ các bạn đọc đễ sách càng hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau ngỏ hầu góp một phần nhỏ vào việc giáo dục giối trẻ tự hào về non sông đất nước gấm vóc của mình

Saigon, tiết Thanh Minh, xuân Giáp Ngọ 2014

Hồ  Đắc Duy

 

 

4 comments

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s