Trần Đan Hà – Đọc “Chỉ Là Kỷ Niệm” Tập Truyện của Võ Phước Hiếu

image001Tôi nhận được Tập Truyện “Chỉ Là Kỷ Niệm” với lời đề tặng: “Để kỷ niệm ngày Quốc hận 30/4/2014”.Của một tác giả đã nặng lòng với Văn chương Chữ nghĩa từ hơn nửa thiên kỷ qua. Đến bây giờ là một trong những người ít ỏi nhất còn sót lại và tiếp tục đi theo lý tưởng nầy. Sách có năm truyện vừa gồm các truyện: Tin Hay Không Tin- Tình Muộn – Mùa Xuân, Lang Thang Ngày Cũ – Chỉ Là Kỷ Niệm – Hoài Niệm Học Giả G.Sư Lê Thọ Xuân.

Xuyên suốt nội dung của tập truyện, hình như tác giả có tâm nguyện muốn trao truyền lại cho hậu thế “Bức thông điệp về lịch sử cận đại” đề cập đến nguyên nhân đưa đến cảnh chiến tranh làm tan cửa nát nhà !

Đến bây giờ “những người tạo nghiệp” mới thức tỉnh ! Song vẫn còn loay hoay trong tình trạng “nửa tỉnh nửa mê” ! Nhưng có thể đã lóe lên tia ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm tăm tối. Niềm hy vọng nầy có thế cứu vãn được dân tộc Việt Nam thoát khỏi mộng bá quyền của Trung cộng. Nếu đi đúng con đường chính nghĩa và chân lý để bảo vệ nền tự chủ trong tinh thần độc lập, hòa bình và công bằng.

(Trong khi tình hình Biển Đông lên đến cao độ, thì đương nhiệm Thủ tướng Nhà nước Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố: “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, trước năm 1975 do Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam quản lý. Tháng hai năm 1974, Trung cộng đã xua quân đánh chiếm một số đảo…”. Cũng như cùng thời điểm nầy, đồng bào cả nước, nhất là tại Hà Nội đã làm lễ “Tưởng niệm Cố Trung Tá Ngụy Văn Thà và 72 Chiến Sĩ Hải Quân đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc và Biển Đảo”. Điều nầy cho thấy dân tộc Việt Nam đang đón nhận một “Tin Mừng”. Vì “Lịch Sử” đã chứng minh một sự thật : “Nhà nước và Đồng bào miền Bắc không còn cho Chính quyền Miền Nam trước đây là “Ngụy Quân và Ngụy Quyền” nữa ! Thêm một ghi nhận là toàn dân Việt Nam luôn Tri ân Anh hùng Chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và Đồng bào.

Thứ hai, công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ở Miền Nam để phủ nhận “Công hàm của Cố Thủ tướng Cộng sản Việt Nam, ông Phạm Văn Đồng” đã ký kết với Trung cộng? Hay trưng bày những chứng tích trước dư luận Thế giới tại Đà Nẵng vừa qua, để xác nhận chủ quyền biển đảo của Việt Nam, là lời “Sám Hối Trước Quốc Dân Đồng Bào” cả nước ! Tuy đã muộn màng nhưng nhờ lời sám hối nầy mà Việt Nam đã được sự ủng hộ của nhiều nước trong cộng đồng thế giới như các nước Nhật Bản, Phi Luật Tân, Singapor, Nam Hàn… Đặc biệt hơn hết là các cuộc xuống đường phản đối Trung cộng xâm lăng biển đảo của đồng bào cả ba miền Bắc, Trung, Nam và từ trong nước ra đến hải ngoại. Nhờ vậy mà Trung cộng đã dừng bước trước những đòi hỏi chủ quyền quá đáng !

Vì vậy, thế đứng của Việt Nam bây giơ là sức mạnh của toàn dân bằng cách trưng bày những chứng cứ lịch sử chủ quyền biển đảo, vận động sự ủng hộ của cộng đồng thế giới làm bằng chứng, để giải quyết vấn đề tranh chấp biển đảo trong tinh thần tôn trọng sự bình đẳng và công pháp quốc tế. Muốn vận dụng được thế đứng nầy thì cần phải xây dựng lý tưởng tôn trọng chính nghĩa. “Vì tôn trọng quyền lợi quốc gia tức là phải tôn trọng nền độc lập và tự chủ của nhau, chứ không thế lấy nước lớn đi hiếp nước nhỏ”. Muốn được như vậy thì cần phải mạnh mẻ, nhanh chóng, nắm lấy thời cơ mà ngoại giao, mà vận động cho kịp thời. Vì thời cơ thì không bao giờ chờ đợi chúng ta.

Người xưa đã nói: “Nước có loạn mới biết Tôi hiền, Chúa thánh. Gặp gian nguy mới biết Vợ nghĩa Chồng tình”. (Tôi hiền Chúa thánh ở đây là “Chính nghĩa Quốc gia” và “Vợ nghĩa Chồng tình” ở đây là biết ơn sự hy sinh của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ Tổ quốc, cũng như những người Vợ Hiền đã thờ chồng nuôi con. (kể cả việc nuôi chồng trong các trại cải tạo). Vì sự thật không bao giờ có thể che đậy từ đời nầy qua đời khác. Một khi đã phơi bày sự thật, thì chắc chắn sẽ thấy đâu là con đường chính nghĩa.

Vâng, cuộc chiến huynh đệ tương tàn của dân tộc Việt Nam kéo dài hơn hai mươi năm. Và tiếp theo là hận thù phân hóa triền miên cho đến ngày hôm ngay. Mà nhà văn Võ Phước Hiếu là một nhân chứng của lịch sử, ông thấy cần phải nói lên một sự thật mà ít người biết đến cái nguyên nhân của cuộc chiến, cũng như để chứng minh cho thế hệ mai sau biết đến tội ác của những người đã tạo ra chiến tranh. Theo tinh thần của một Napoleon: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt.” !

 

Nên Tập Truyện “Chỉ Là Kỷ Niệm” có thể gọi là tập truyện mang khá đậm nét màu sắc lịch sử của một giai đoạn từ trước ngày chia đôi đất nước 20/7/1954, và kéo dài cho đến sau ngày đổi đời 30/4/1975 với một cuộc chiến đẫm máu giữa huynh đệ tương tàn, và bây giờ là chia ly với sự hiện diện của người Việt tại hải ngoại. Là nỗi nhục nhã của toàn quân và toàn dân của Miền Nam Việt Nam bị hàm oan dai dẵng. Là chứng tích đau buồn của thân phận nhược tiểu ! Nhiều nét lịch sử chúng ta thường nghe báo chí đề cập đến, nhưng chắc chắn không mấy ai hiểu tường tận về nguyên nhân và tại sao đất nước lại rơi vào một giai đoạn đen tối đến như thế ! (Trong hiệp định chia đôi đất nước đã ký kết thì sau hai năm sẽ thống nhất. Nhưng theo thế chính trị của hai bên không chấp nhận thống nhất bằng tổng tuyển cử. Nên bên nào cũng đang âm thầm chuẩn bị một cuộc chiến tranh, kéo dài cho đến năm 1975. Sự chuẩn bị đó đã được Bộ Chính trị Cộng sản miền Bắc triển khai từ sau khi thi hành các thủ tục “chia đôi đất nước”. Theo giao ước thì tất cả cán bộ và bộ đội Việt cộng phải tập kết ra Bắc trong vòng ba tháng. Và vùng “Nam kỳ Lục tỉnh” đi bằng đường thủy và điểm tập kết là Cà Mâu. Nhưng cán bộ được phân phối ở lại nằm vùng, tỉnh nào cũng có, và tụ điểm của bộ phận lãnh đạo cho công cuộc “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” sau nầy là “Phong Trào Đồng Khởi” ở tỉnh Bến Tre. Sau năm 75 xuất hiện câu ca dao:

“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý

Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do” là vậy.

( Nguyên nhân bắt đầu chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm Miền Nam là “Phong trào Đồng khởi” ở Bến Tre, tiến đến toàn thể “Nam kỳ Khởi nghĩa” và cũng là hai cụm từ thay thế cho tên đường “Công Lý và Tự Do” tại Sài Gòn sau ngày Miền Nam thất thủ).

 

Mở đầu truyện “Chỉ Là Kỷ Niệm” : “Năm 1954. Hiệp định đình chiến Genève ở Thụy Sĩ được ký kết vào giờ chót ngày 20 tháng 7 chia đôi đất nước Việt Nam làm hai miền Nam Bắc, lấy con sông Bến Hải nơi vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Về phía Miền Nam Quốc Gia, chánh phủ dứt khoát không chấp nhận việc chia đôi đất nước nên từ chối đặt bút ký kết hiệp định nhằm cực lực phản đối cộng sản Bắc Việt cấu kết với thế lực quốc tế vì quyền lợi riêng tư, không tôn trọng chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng sau cùng vì áp lực của Quốc hội Pháp và của các cường quốc nhập cuộc ở bàn hội nghị nên đình chiến cũng được tôn trọng, chờ đợi hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam Bắc sau hai năm. Theo tinh thần của hiệp định, các lực lượng võ trang và cán bộ dân sự các cấp của cộng sản đều phải tập kết ra Bắc theo thời hạn quy định ở nhiều điểm trong Nam, mà lâu nhất là ba tháng như ở địa điểm tập kết Cà Mâu. Với bản chất gian dối, lật lộng cố hữu, vào giờ chót Bộ Chính trị cộng sản chủ trương gài lại Miền Nam một số lớn cán bộ đảng viên nồng cốt, cũng như bí mật chôn dấu vũ khí ở những sào huyệt cũ chờ cơ hội đánh phá cướp chính quyền bằng vũ lực…” (trích trang 179).

 

Truyện kể: Thanh Ba là một thanh niên đầy cao vọng, muốn tìm cho mình một hướng đi vào tương lai huy hoàng. Nhưng vì chiến tranh đã cướp mất người cha yêu quý lúc anh còn rất nhỏ, mẹ là một cô giáo làng nên đã giáo dưỡng cho anh thành nhân. Sau khi học xong chương trình trung học: “May mắn lúc ấy cơ quan Y Tế Quốc Tế (Organisation Mondiale de la Santé, gọi tắt là O.M.S) có triển khai một trụ sở ngay tại đô thành để giúp đỡ về mặt Y tế cho nước Việt Nam son trẻ vừa thu hồi độc lập trên tay người Pháp và đang tiến hành con đường dân chủ hóa. Trong chương trình giúp đỡ tích cực nầy, cơ quan có mở những khóa huấn luyện nhằm đào tạo những chuyên viên trung cấp ở lãnh vực y tế và xã hội” (trích trang 182).

Chương trình đào tạo có trợ cấp hàng tháng, nên Thanh Ba đã xin theo học ngành huyết thanh học và côn trùng học. Chương trình đào tạo vừa lý thuyết vừa thực hành tại viện Paster Sài Gòn. Sau khi học xong lại gặp may là Bộ Y Tế vừa thành lập “Chương Trình Diệt Trừ Sốt Rét”, qua sự đài thọ của phái bộ viện trợ USOM của Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Chương trình với tầm hoạt động rộng rãi trên toàn quốc từ cầu Hiền Lương đến mủi Cà Mâu. Thanh Ba đệ đơn xin vào làm việc với tư cách là một chuyên viên.

Chương trình nầy được đưa chuyên viên về đến tận nông thôn, các vùng hẻo lánh để hướng dẫn cho người dân biết cách phòng bệnh. Nhất là bệnh sốt rét được phun thuốc để diệt trùng độc. Công tác của nhóm chuyên viên nầy chỉ có thế. Nhưng khi đi vào từng nhà để bơm thuốc, lại phát giác một số “cán bộ cộng sản nằm vùng” do các “bà mẹ chiến sĩ” nuôi trong nhà. Vì vậy cán bộ Y tế bị hàm oan là CIA Mỹ.

Nhưng tình hình đất nước vào giữa và cuối thập niên 60, tất cả thanh niên đến tuổi phải thi hành nghĩa vụ Quân dịch. Thanh Ba cũng nằm trong lứa tuổi động viên vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau khi ra trường anh được bổ sung về một đơn vị tác chiến thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh.

Đến ngày rã ngủ 30.4 cũng như thân phận của đồng đội, anh bị đưa vào các trại “học tập cải tạo”. Sau khi được trả tự do, nhưng vẫn sống bên lề xã hội, vì không được nhìn nhân là một công dân chính thức.

Suy tính hết nước, không còn con đường nào có thể tự cứu mình bằng con đường ra khơi vượt biển đông. Nhưng cũng còn gặp bế tắc vì anh chưa được trả quyền công dân, nên việc đi lại rất hạn chế ! Cuối cùng, Thanh Ba nghĩ ra giải pháp là kết hợp với một vài người bạn đồng ngủ dễ tin cậy nhau để thành lập một tổ hợp sản xuất xà bông, qua chiêu bài thời thượng là phục vụ giai cấp công nông. Nhờ vậy, việc xin giấy phép được tiến hành thuận lợi. Thêm nữa Tổ hợp cũng đã khoản đãi những bửa tiệc tùng để tạo sự dễ dãi của cán bộ phường khóm.

Việc sản xuất xà bông thủ công nầy đòi hỏi nguyên liệu chính là dừa khô để nấu thành dầu. Và Thanh Ba nhớ lại trong thời gian làm một cán bộ Diệt trừ Sốt rét, anh đã đi khắp các vùng miền của đất nước, nên rất rành rẽ… “Nhờ vậy không những anh đi lại thoải mái đến những tỉnh ven biển, ven sông như Bến Tre, Định Tường, Vĩnh Long…mà còn lợi dụng cái quyền được đi lại hiếm hoi để đặt chân đến các quận xa xôi hẻo lánh của những tỉnh ngày xưa anh từng đặt chân tới như Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá… nhằm dò dẫm, nghiên cứu tình hình. Hy vọng bổng dưng lóa lên ánh sáng trong anh…” (trích trang 193).

Tiếp theo là cuộc hạnh ngộ bất ngờ nhưng vô cùng quan trọng cho tương lai. Vì họ vẫn luôn luôn thể hiện tất cả một tấm lòng: “Thật thà, chân chất và thánh thiện của những người bạn sẵn sàng sẻ chia”. Qua nỗi vui mừng, hay trao đổi bằng những tâm tình đôn hậu của người miền Nam: “Thanh Ba bổng dưng đứng khựng lại, trố mắt nhìn trân trân một người đang đi ngược chiều với anh. Chỉ trong giây phút định thần, anh không ngần ngại thốt lên:

   -Dương ! Phải Đại Dương không ?

     Có tiếng đáp lại nhanh gọn:

   -Chèn ơi ! Tao có lầm người không ? Mầy lò dò đi đâu đây vậy Thanh Ba ? Trời đất, ngọn gió lành nào đưa mầy đến gặp tao ở bến bắc nầy ? Lâu quá rồi, mầy có khỏe không ? Gia đình con cái ra sao rồi ?

   Hai người ôm chầm lấy nhau trong niềm vui gặp lại tình cờ, không ước mơ mà là sự thật, bất chấp những cặp mắt hiếu kỳ hay tò mò của những người xuôi ngược xung quanh” (trích trang 195).

 

Đại Dương là người bạn đồng ngũ với Thanh Ba. Anh quê ở Bến Tre có ông chú họ ngày trước nằm vùng trong “phong trào đồng khởi” trở về và đỡ đầu cho Đại Dương thành lập “tổ hợp đánh cá”. Nhưng thực chất là thăm dò đường sá, chờ cơ hội để vượt biện. Dịp nầy Đại Dương mời Thanh Ba xin giấy tờ để vào hợp tác và sống chung một nhà. Lo một mình cho Thanh Ba thì không nỡ để vợ chồng chia ly, nên Đại Dương đề nghị xin cho vợ Thanh Ba vào tổ hợp bánh kẹo tại tỉnh Bến Tre để đợi thời cơ.

Rồi đến một hôm, trong nhà tổ chức ngày giổ của ông cố. Sau khi tiệc gần tàn ông Bác của Đại Dương kéo Thanh Ba ra chiếc ghế sau vườn và ông bắt đầu kể cho chàng nghe một câu chuyện về phong trào đồng khởi ở Bến tre: “Hồi đó, bác được đề cử làm xã trưởng, trải qua bao chiến dịch bắt bớ, khủng bố, thủ tiêu của cộng sản nằm vùng thì bác bị kết án tử hình ! Rồi một đêm chúng bắt và bịt mắt bác dẫn đi qua một cánh đồng, đến một khu nghĩa trang chúng trói tay bác vào một cái cọc. Chúng đọc bản án xong rồi nghe tiếng súng sau đó bác gục xuống không biết gì nữa cả. Đến ngày hôm sau gia đình của bác đi tìm gặp bác nằm trong nghĩa trang của dòng tộc bác. Bác bị thương nặng được đưa về nhà chạy chửa thuốc thang và bác được qua khỏi.

Bây giờ bác kể lại cho cháu nghe để sau khi các cháu ra được hải ngoại dùng làm tài liệu để nói lên sự thật về phong trào đồng khởi là nguyên nhân tạo nên cuộc chiến tang tóc cho dân tộc kéo dài hơn 20 năm qua !

Các truyện khác không những mang nhiều nguồn sử liệu quan trọng, mà còn ghi nhận nhiều chi tiết về địa lý của Miền Nam Việt Nam nữa.

 

* Tin Hay Không Tin: Kể lại sự liên hệ giữa tác giả và anh Đồng Tuy lúc trước là một đảng viên cao cấp và kỳ cựu của Tân Đại Việt do cố Giáo sư Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy sáng lập năm 1964 và được bầu làm chủ tịch đầu tiên. Sau ngày đổi đời, anh Đồng Tuy đi học tập cải tạo. Trước năm 75 anh có làm cho vợ chồng tác giả một lá số tử vi, trong đó có chi tiết là “tương lai gia đình chúng tôi sẽ sống ly hương biệt xứ” còn hoàn cảnh sao thì anh không nói. Ngày nay tác giả đã liên hệ được với một người Hoa Chợ Lớn ra Vũng Tàu đóng chiếc ghe mang số V.T 1274. Nhưng vì quá lo lắng nên tiện nội của tác giả tìm đến ông thầy bói mù ở hẻm Văn Hoa, Tân Định, thì được ông thầy bói cho biết: “Quý chủ nên tìm con đường nào khác, may ra mới có hy vọng…” (trang 34). Chờ đợi quá lâu nên tác giả thương lượng với chủ ghe đổi chuyến đi sớm nhất. Và sau khi đến được bến bờ tự do, tác giả viết thư về hỏi thăm tiện nội thì được biết chiếc ghe mang số ấy vẫn nằm tại ụ và sau nầy sáp nhập vào tổ hợp đánh cá Vũng Tàu… chuyện có vẻ rất thật và cũng rất thời đại…

 

* Tình Muộn: Tả lại cuộc tình của đôi trai gái trong một bối cảnh loạn lạc. Nếu không tin vào duyên số, hay định mệnh thì cũng phải ghi nhận một chuyện tình mà từ gặp gỡ rồi chia ly, rồi đoàn tụ trong một thời gian dài và một không gian xa cách từ trong nước ra đến hải ngoại, từ Sài gòn đến tận cuối miền đất nước. Chàng là con của một Sĩ quan miền Nam sau ngày đổi đời thì gia đình khánh kiệt. Được một người bạn quê ở Cà Mâu rủ về dưới ấy để tìm đất sống. Hoàng Hùng được giới thiệu vào làm công nhân cho nhà in quốc doanh của tỉnh. Chàng gặp Mỹ Lệ hai người yêu nhau, nhưng hoàn cảnh không cho phép nên phải chia ly… Nàng chờ đợi trong vô vọng, và chàng kiếm tìm rất gian nan. Đã đưa cuộc tìm đi từ sự tình cờ nầy đến một gặp gỡ bất ngờ khác hết sức lý thú…, và nhất là đoạn kết hậu hỉ của truyện !

 

* Mùa Xuân, Lang Thang Ngày Cũ: Nội dung truyện nầy đúng với lời tựa chăng ? Ngồi nhìn xuân về trên đất tạm dung mà lòng ngổn ngang trăm mối ! Vì đang nhớ về những ngày xưa thân ái. Những mùa xuân dân tộc đang nở rộ ngàn hoa để chào đón, để chúc tụng, để nghinh xuân. Trước bàn thờ gia tiên trầm hương nghi ngút, mứt bánh tràn đầy, áo mới xênh xang… “Tôi nhớ những ngày cực kỳ vui nhộn đó, bà và mẹ tôi lăn xăn lít xít ngày đêm gói bánh tét để mừng Xuân…”. (trang 141). Rồi hình ảnh cây nêu đầu ngõ, ngày mồng một Tết xông nhà đạp đất. Những hội hè vui xuân, là những hình ảnh trân trọng mùa Xuân muôn đời của Dân tộc Việt Nam…

 

* Hoài Niệm Học giả Giáo Sư Lê Thọ Xuân: Tác giả kể lại chuyện đi tìm gặp Cụ Lê Thọ Xuân, để nhờ cụ viết bài cho số báo dự trù sẽ ra mắt của tập san nghiên cứu Văn học Nghệ thuật mà tác giả được Bộ Thông Tin Dân Vận Chiêu Hồi cấp giấy phép xuất bản. Đây có thể gọi là một sinh hoạt văn hóa huy hoàng nhất của một thời. Với những Học giả, Sử gia, Nhà văn, Nhà báo như Giáo sư Thạc sĩ Nguyễn Thế Anh, tác giả cuốn “Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc” (Lửa Thiêng, Sài Gòn). Giáo sư Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy tác giả nhiều tác phẩm như “ Đề Tài Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chính Trị Trung Quốc Cổ Thời (Cấp Tiến, Sài Gòn). Giáo sư Tiến sĩ Lâm Thanh Liêm, Trưởng ban Địa lý Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Kỷ sư Nguyễn Kim Môn, chuyên viên Khí tượng tác giả cuốn “Khí Tượng Canh Nông” (Lửa Thiêng, Sài Gòn). Giáo sư Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, Tổng trưởng bộ Quốc gia Giáo dục với bài “Ngữ lý học – Cơ cấu dạng vị học so sánh của Danh từ trong các Ngôn ngữ Đông Á. Hệ thống loại danh và số danh. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, cựu Tổng trưởng và Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, qua bài “Rong và việc giàng dạy”. Gs Lâm Thanh Liêm, bài “Cơ cấu nông nghiệp tại Nam kỳ dưới thời Pháp thuộc” v.v…

 

Tóm lại, tập truyện “Chỉ Là Kỷ Niệm” là một tổng thể về lịch sử trong một giai đoạn cực kỳ đen tối của đất nước Việt Nam. Những nguyên nhân đưa đến bối cảnh lịch sử tang tóc nầy, đã diễn tả sự cùng khổ của người dân miền Nam trong thời kỳ chiến tranh, và sau khi chiến tranh chấm dứt nhưng đất nước không được hòa bình độc lập. Vì các thế lực ngoại bang chủ trương tranh giành ảnh hưởng quốc tế. Đây cũng là kinh nghiệm cho chính quyền đối với đất nước thì cần phải độc lập tự chủ, chứ đừng nên dựa vào một thế lực nào. Vì dựa vào thì con cháu chúng ta sẽ phải trả nợ, không chỉ bằng tài nguyên mà còn đến cả xương máu của dân tộc nữa !

Trân trọng giới thiệu đến độc giả một tập truyện rất phong phú về lịch sử nước nhà thời cận hiện đại. Rất cần thiết cho tủ sách gia đình và lưu lại mai sau.

 

Muốn có sách xin liên lạc về:

Võ Đức Trung – Nhóm Văn Hóa Pháp Việt

1 Allée des Peupliers

59320 Hallennes Lez Haubourden. FRANCE.

2 comments

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s