Nguyễn Quý Đại – Tết Trung Thu

thangcuoi-goccaydaThằng Cuội ngồi gốc cây đa

Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời

Cha còn cắt cỏ bên trời

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan văn

Quan thì cầm bút cần nghiên

Quan thì cầm tiền đi chuộc lá đa

Bên Úc Châu thời tiết vào Xuân nắng ấm hoa lá đâm chồi nẩy lộc, ngược lại Âu Châu thời tiết vào Thu gió se lạnh, thỉnh thoảng có mưa rơi nhỏ hạt. Rừng lá xanh sắp đổi màu vàng, đỏ uá cho mùa thu đến. Có những đêm không mây mù bao phủ, bầu trời đẹp quang đảng, chúng ta thưởng thức ánh trăng vàng mát dịu. Rằm tháng Tám gợi cho chúng ta sống lại thời thơ ấu vui đùa hồn nhiên với Tết Trung Thu

Năm nay rằm tháng Tám là ngày 08 tháng 9 Dương lịch. Các tiệm thực phẩm Á Châu bán bánh trung thu, lồng đền lộng lẫy, Những hợp bánh Trung thu màu đỏ sậm, bánh dẻo, bánh nướng… những chiếc lồng đèn gợi cho chúng ta nhớ thời ấu thơ, trong dịp tết Trung thu theo mẹ ra chợ, mua những đồ chơi bằng giấy bồi, hoặc dán lên bộ khung bằng tre nứa như lồng đèn hình ngôi sao, hình bánh ú .. một số đồ chơi lớn như đèn kéo quân, tối đến thắp nến sáng các vòng dán hình người, thú và cảnh vật từ chuyển động, từ ngoài nhìn qua các lớp giấy bóng màu, các hoạt cảnh cứ liên tục diễn ra nhịp nhàng, sống động như một màn hình. Ngày xưa ở phố hàng Mã Hà Nội người ta thường bày bán đủ các loại lồng đền, đủ kiểu đủ màu, không thiếu hình các ông tiến sĩ giấy. Nguyễn Khuyến trong bài thơ Ông nghè tháng tám đã viết

Mấy chú Hoa Nam khéo vẽ trò,

cũng cờ cũng cũng biển cũng cân đai

Nhiều người thích mua cho con chơi và mơ ước con cái sau nầy sẽ là những người khoa bảng có điạ vị trong xã hội. Các phố hàng Đường, hàng Bườm bán đủ các loại bánh Trung Thu. Ngày nay khắp nơi đều có bày bàn quà bánh Trung Thu, lồng đền, thời văn minh khoa học phát triễn có thêm những đồ chơi bằng nhựa, những con bướn, chim bồ câu bằng điện tử bay lượn quanh gian hàng, càng tăng phần hấp dẫn hơn.

Hằng năm người Việt ở hải ngoại tổ chức tết Trung Thu, để trẻ em có cơ hội gặp nhau, dự thi lồng đèn dự thi ca nhạc với quốc phục, thi vẽ với đề tài về ngày tết Trung Thu vv… Sinh hoạt vui chơi của các cháu, gợi cho chúng ta nhớ lại thời thơ ấu xa xưa ở quê nhà. Kỷ niệm khó quên thời tôi ở Hội An, năm 1965 Tỉnh trưởng Quảng Nam tổ chức cho các trường Trung – Tiểu học dự thi lồng đền Tết Trung Thu, nhiều trường làm lồng đèn đẹp như: con thỏ ngồi trên qủa điạ cầu cử động đôi tai dài, con bướn vàng, chim bồ câu, đèn kéo quân, hay hình ngôi sao lộng lẫy từ ánh sáng của những cây nến bên trong. Được chấm giải nhất lồng đèn là cái bản đồ Việt Nam dài 2m, dày 20 cm khung tre, bồi giấy kính màu vàng, đỏ chia 2 miền Nam – Bắc, phần miền Nam màu vàng có chú Cuội ngổi thồi sáo, trẻ em vui mừng đón trăng với bánh kẹo đầy mâm, trong khi miền Bắc trẻ em ngồi buồn ở gốc cây đa, diễn tả đúng với trình trạng xã hội ngoải Bắc thời đó!

Tết Trung Thu người ta uống rượu, uống trà thưởng trăng, và vì vậy Tết này còn được gọi là Tết Trông Trăng, ngày rằm Trung Thu ở Việt Nam nhằm vào tiết Thu phân nên khí âm và Dương điều hòa với đêm ngày bằng nhau. Bầu trời quang đãng, khí hậu ôn hòa nên người ta cảm thấy dễ chịu nhất trong năm. Hơn nữa, thu là mùa lúa chín, nên việc đồng áng rảnh rỗi.. Nhiều gia đình nhân dịp nầy làm nhiều thứ bánh bày cổ trông trăng, làm lễ cúng tổ tiên ông bà rất phong phú nhiều trái cây, bánh kẹo.

Theo sự tích Việt Nam, phong tục trông trăng cũng liên quan đến sự tích Chú Cuội trên cung trăng, (1) chú Cuội bám vào rễ cây níu kéo lại nhưng không được và bị bay lên cung trăng với cả cây của mình. Nhìn lên Mặt Trăng, có thể thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, và trẻ em tin rằng, đó là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa.

Các vì sao trên trời cao sáng nhấp nháy, dưới trần gian các cháu mời trăng, rước trăng về trẻ em lũ lượt kéo nhau ra phố, mỗi đưá cầm chơi một cái lồng đền thắp nến bên trong càng tạo một không khí huyền hoặc dưới ánh trăng vàng vằng vặc.

các em cùng nhau hát gọi trăng những bài đồng dao, bài ca “Ông giẳng, Ông giăng …” Ở một số nơi người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử, múa rồng để các em vui chơi.

Ông Giăng ơi, xuống chơi với tôi

Nhà tôi có một bát cơm xôi

Có nồi cơm nếp, có nệp bánh chưng

Có lưng hũ rượu, có khướu đánh đu

Thằng cu giữ lại, mẹ đẻ bồng con

Cái lon mức nước, cái lược chải đầu

Con trâu cày chiêm, cái liềm hái lá

Con cá có vây, thợ rèn có buá

Nhà chuá có tàn, nhà quan có lọ..

Hết ngồi hát vỗ tay, các em lại đứng lên nắm tay nhau thành vòng tròn xung quanh mâm cỗ, vừa đi vừa hát:

Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi

Đến cửa nhà trời, tìm nơi gió mát

Cùng hát véo von, mời ông trăng tròn

Ra chơi với bé, xì xà xì xạp..

Sau đó các em đi ngược lại và hát tiếp như điệp khúc:

 

Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi

Đến cửa nhà trời, lạy cậu lạy mợ

Cho cháu về quê, cho dê đi học

Cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp

Ngồi xệp xuống đây…

 

Đôi khi trẻ em quây quần bên bà nội hay mẹ nghe kể chuyện về trăng có Hằng Nga dịu dàng tươi trẻ, hoặc về chú Cuội láu lỉnh “ngồi gốc cây đa, thả trâu ăn lúa, gọi cha hời hời…” Các em nghe chuyện, ăn quà bánh người lớn cũng vui với trăng hoà mình với thiên nhiên: Nói về trăng như những luyến ái với nhân gian. Với lứa tuổi nam nữ yêu đương là những vầng trăng thề, trăng chia phôi, trăng nhớ nhung, trăng khắc khoải… trong truyện Kiều 3522 câu lục bát chỉ nhắc đến hai ba chữ “nắng ” nhưng đã nhắc đến 38 chữ “trăng” với bao nhiêu sắc vẻ trữ tình như trăng bạc, trăng già, trăng gió, trăng hoa, trăng huyết, trăng mới. trăng tà, trăng tàn, trăng thâu, trăng thề, trăng tròn …

Vầng trăng rất quan hệ đến sinh hoạt, tính khí và sinh lý của vạn vật trên mặt đất qua hiện tượng thủy triều và ảnh hưởng huyền bí trên mùa màng cây cỏ. Về hình dáng và thời điểm xuất hiện của vầng trăng trong tháng được nhà nông kể thuộc lòng theo vần theo điệu như sau:

Mồng một lá trai,

Mồng hai lá lúa,

Mồng ba câu liêm,

Mồng bốn lưỡi liềm,

Mồng năm liềm giật,

Mồng sáu thật trăng,

Mười rằm trăng náu,

Mười sáu trăng treo,

Mười bảy sảy giường chiếu,

Mười tám trăng lẹm,

Mười chín dụn dịn,

Hai mươi giấc tốt,

Hăm mốt nửa đêm,

Hăm hai bằng tai,

Hăm ba bằng đầu,

Hăm bốn bằng râu,

Hăm lăm bằng cầm,

Hăm sáu đã vậy,

Hăm bảy làm sao,

Hăm tám thế nào,

Hăm chín thế ấy,

Ba mươi không trăng.

Qua những kinh nghiệm theo nghề nông Việt Nam còn có những câu sau để tiên đoán việc nông gia

Muốn ăn lúa ré, xem trăng rằm tháng giêng,

Muốn ăn lúa tháng 5, xem trăng rằm tháng 8

Muốn ăn lúa tháng 10, xem trăng mồng tám tháng 4

Tô Đông Pha trong hai bài Tiền Xích bích phú và Hậu Xích bích bất hủ sáng tác vào mùa thu năm Nhâm Tuất (năm 1082) đã tạo một ảnh hưởng sâu đậm cảnh sông nước Trường giang dưới ánh trăng thu, Tô Đông Pha đã luận về thân phận phù du của con người trong vũ trụ mênh mang bất diệt để kết luận với cái triết lý hưởng lạc trước mắt trong kho tàng thiên nhiên vô tận:

Nước kia vẫn xuôi giòng chẩy xiết,

Mà chưa từng đi hết chút nao!

Trăng kia có lúc đầy hao,

Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm

Cứ lúc biến mà xem trời đất,

Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.

Cứ khi không biến mà coi,

Thì ai ai cũng lâu dài như nhau

(Tiền Xích Bích Phú dịch nôm của Đào Nguyên Phổ)

Nói về Trăng là cả một nguồn thi hứng để sáng tác. Các thi nhân ca tụng trăng khi nghe đờn hát, khi ngắm hoa, khi lên núi cao, khi dong thuyền trên sông nước…. Những áng văn nổi tiếng của những thi hào đều được sáng tác dưới trăng: Trong bài Tương tiến tửu, thi bá Lý Bạch khuyến khích người ta:

Khôn nỡ để chén vàng trơ dưới nguyệt.

Nhân sinh khi đắc ý nên càng,

Trong Tỳ bà hành (mùa thu năm 816 CN), Bạch Cư Dị đã tả:

Thuyền không đậu bến mặc ai,

Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.

Những ngày xa quê hương muốn có những đêm trăng để thưởng thức rất khó ,vì thời tiết ở Âu Châu vào thu trời không đẹp như ở bên quê nhà, nhờ vẽ đẹp của thiên nhiên với ánh trăng vàng mùa Thu! Tản Đà với thơ ngông, chán đời đã gởi chị Hằng một phần tâm sự

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần giới em nay chán nửa rồi.

Cung Quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi

 

Có bầu có bạn can chi tủi

Cùng gió cùng mây thế mới vui

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Chúng ta khó quên kỷ niệm thời ấu thơ, vui chơi Tết Trung Thu chỉ còn lại trong ký ức tuổi đời theo bóng ngã chiều tà. Thời gian đi mãi không đợi chờ ai!

Ai đâu trở lại mùa thu trước,

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

./.

 

Một phim ngắn Tết Trung Thu của gia đình nghèo rất cảm động.

 

Tham khảo tài liệu Tết Trung Thu

1/ Sự Tích Chú Cuội

Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con, bốn con cọp con vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.

Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:

– Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó! Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.

Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi. Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.

Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội. Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.

Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.

Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!”. Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.

Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.

Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.

Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Nhìn lên Mặt Trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa….

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s