GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triển tỉnh Thừa Thiên – Huế

huếLịch sử mảnh đất sông Hương-  núi Ngự này đã  có người sinh sống  từ 2800 năm ,theo các khai quật  văn minh Sa Huỳnh cũng như các di tích trong vùng . Theo Nguyễn Thiên Thụ ( Dòng Việt số 17 – 2005 ), thời Hùng Vương  289 – 258 trước  Công Nguyên Tây Lịch,  đất đai nước Văn Lang  đã đến  Hà Tĩnh – Quảng Bình và nước Việt Thường là  một bộ phận nước Văn Lang. Tuy rằng có một số thuyết, như Trần Trọng Kim chẳng hạn,  cho rằng  Việt Thường là Chiêm Thành, nhưng NguyễnTrải đã viết: Chiêm Thành xưa là huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam sau đổi tên là Lâm Ấp.

* * *

 

                                                   Sao Anh không về chơi Thôn Vỹ ( Dạ )

                                                    Nhìn mấy hàng cau, nắng mới lên.

                                                    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,

                                                     Lá trúc che ngang mặt chữ điền …

( bài thơ của Hàn Mạc Tử, mộng tưởng làng và cô gái “ Thương Thuơng”)

 

Và Ca dao, Hò , Vè :            

                                                           Sông Hương lắm chuyến đò ngang ,

                                                            Anh nhiều nhân ngãi biết đi đò nào.

                                                            Đò từ Đông Ba chèo qua Đập Đá,

                                                            Đò về Vỹ Dạ thẳng ngã Ba Sình…

( chú thích : sau khi “cầu Trường Tiền đúc lại xi moong” trước năm 1945, các bến đò thông dụng  là bến đò Kim Long- Phường Đúc, bến đò Trường Súng, bến đò Thọ Lộc ( Đập Đá – Hàng Me ) và từ cầu Gia Hội  là bến đò Cồn, Bến đò Cạn, bến đò Chợ Dinh …)

… Những bến đò nặng tình nước non, như đò  bến Phú Văn Lâu với cuộc khởi nghĩa vua Duy Tân, bến đò Cửa Hữu,  bến đò  Kẽ Vạn  ngày “ Thất Thủ Kinh Đô” năm 1885

Đò ai lơ lững bên sông

                                                            Có lòng đợi khách hay không hởi đò ?  

( Bến Văn Lâu : Hò Mái Đẩy)

                                                                Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long

                                                                Sương sa gió thổi lạnh lùng

                                                     Sóng  xao trăng lặng, nặng tình nước non    

                                                                          ( Hò Huế )

Thuê qua một chuyến đò ngang,

                                                      Tiền đồng bạc  lượng, nhiều hàng cả cây.

                                                             ( Vè Thất Thủ Kinh Đô 1885 )

Cũng thời chung một chuyến đò,

                                                        Cũng thời biển rộng, sóng to chòng chành.

(  Vè than óan 2- 6000 ? nạn nhân Cọng Sản Huế,  Tết Mậu Thân năm 1968 )

Xương thịt nào của những bách dân

                                                             Chôn vùi dưới hào lũy Khiêm Lăng

                                                             Kinh đô thịt nát ngày thất thủ

                                                            Sọ trắng giăng hàng Tết Mậu Thân.

( Huy Phương – 2006 )

 

         Phần I : Tổng quát

       Vị trí

 

Thừa Thiên – Huế sau 1975 là tỉnh cực Nam  vùng Bắc Trung Bộ, kéo dài theo  hướng Tây Bắc – Đông Nam.  Lảnh thổ  năm trong khỏang từ 16000’ đến 160 44’ vĩ tuyến Bắc ( 16020’ trung bình ) và từ 107002’ đến 108012’ kinh tuyến  Đông ( trung bình 1070 35’ ).  Ranh giới tỉnh : điểm cực Bắc thuộc xã Điền Hương huyện Phong Điền, điểm  cực Nam  nằm trên  dãy Bạch Mã thuộc huyện Nam Đông, điểm cực Tây thuộc xã Hồng Thủy, huyện A Lưới, điểm cực Đông, không tính  hòn đảo Sơn Chà ( không phải bán đảo Sơn Trà, thuộc Đà Nẳng ) là mũi Cửa Khém  thuộc huyện Phú Lộc và cũng là điểm cực Đông của dãy Bạch Mã – Hải Vân. Thừa Thiên – Huế giáp tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc, Thành Phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam về phía Nam , Biển Đông về phía Đông và các tỉnh Savannakhet, Salavan  và Sekong của Lào về phía Tây.

Diện tích  tự nhiên của tỉnh là 5 062.6 km2 (  Niên Giám Thống Kê năm 1999 ghi  nhỏ hơn một tí xíu  5 053.99  km2 ).  Dân số  năm 1999 là 1 045 134 người,  năm 2009 là 1 088 700,  như vậy năm 2014 có lẽ đã gần 1150 000. Người Kinh – Việt chiếm 97 % tổng số dân. Địa bàn cư trù chủ yếu Kinh –  Việt là thành phố Huế và các huyện ven biển. Sau năm 1975, người Kinh cũng  định cư ở Nam Đông, A Lưới.  Dân Kinh nguồn gốc  chính là tỉnh Thanh Hóa.  90 % tộc dân  thiểu số là ba nhóm Bru – Vân Kiều, Cơ Tu, Ta Ôi thuộc  nhóm Môn -Khmer,  họ ngôn ngữ Nam Á cư trú hầu hết ở khu vực đồi núi.  Dân Bru – Vân Kiều Huế – Thừa thiên cũng như  ở Quảng Bình, Quảng Trị nguồn gốc bản địa làm nương rẫy sinh sống .  Người Cơ Tu  cư trú ở các huyện A Lưới , Phú Lộc  có nhiều tên : Ca – Tàng , Ca Tu, Kha Tu … sống  thành từng bản , mỗi bản 15 – 30 nóc nhà , phá rừng làm rẫm  chọc lỗ tĩa hột không sạ – không cấy, nhưng cũng có thủ công, dệt đan lát. Người Cơ Tu theo chế độ phụ hệ, có sinh họat văn hóa dân gian phong phú  như hát Tơ Len và nhiều truyện cổ.  Ngườì Tà Ôi chủ yếu sống ở huyện A Lưới có nhiều tên gọi như Ba Hi , Pa Cô , Cà Tua,Tà Uốt … Sinh sống gắn với nương rẫy, nhưng nay đã biết làm ruộng nước , rất giỏi săn bắn , đặc biệt là săn bắt và thuần dưỡng voi.  Họ cũng có văn hóa – văn nghệ phong phú có nhiều làn điệu dân ca: Ka Lơi, Ba Hoi,  Roin ; nhạc cụ,  câu đối , truyện kể,  Ngòai ra, trước đây có đôi chút ít người Hoa và sau  hai giai đọan di cư 1955 – 1975, một số người Thái, người Nùng. Phân bố dân cư không đồng đều trong tỉnh, tương phản rõ rệt giữa vùng đồi núi phía Tây và đồng bằng duyên hải phía Đông . Thành phố Huế có mật độ dân số rất cao.  Các huyện dân cư trù mật là Phú Vang, Quảng Điền.  Dân cư thưa thớt nhất là ở các huyện Nam Đông, A Lưới. Phân bố dân thành thị cũng rất chênh lệch. Năm 1999,  dân số thành phố Huế là 292 000, trong khi  các thị trấn huyện lỵ cũng rất ít dân: Phong Điền  5 837 người, Sịa -huyện Quảng Điền 9 680, Tư Hạ -huyện  Hương Trà 7413, Phú Bài – huyện Hương Thủy 11 696, Phú Lộc 10 63, Khe Tre –  huyện Nam Đông 3158, A Lưới  5038. Về hành chánh, Thừa Thiên-  Huế có một thành phố tỉnh quản trị là Huế, 8 huyện ( 7 huyện và một cảng thị trấn ? ) : A Lưới, Hương Thủy, Nam Đông, Phong Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền  và một  cảng thị trấn ( ? ) là Thuận  An.

 

Suôi dòng thời gian thành lập Phú Xuân,Thừa Thiên- Huế

      Lịch sử mảnh đất sông Hương-  núi Ngự này đã  có người sinh sống  từ 2800 năm ,theo các khai quật  văn minh Sa Huỳnh cũng như các di tích trong vùng . Theo Nguyễn Thiên Thụ ( Dòng Việt số 17 – 2005 ), thời Hùng Vương  289 – 258 trước  Công Nguyên Tây Lịch,  đất đai nước Văn Lang  đã đến  Hà Tĩnh – Quảng Bình và nước Việt Thường là  một bộ phận nước Văn Lang. Tuy rằng có một số thuyết, như Trần Trọng Kim chẳng hạn,  cho rằng  Việt Thường là Chiêm Thành, nhưng NguyễnTrải đã viết: Chiêm Thành xưa là huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam sau đổi tên là Lâm Ấp. Như vậy đời Hùng Vương, Chiêm Thành và Việt Nam là một : một bộ  nước Văn Lang trong số 15 bộ nước Văn  Lang, theo ghi chú  các sách  của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú. Hán Việt Từ Điễn của Đào Duy Anh  cũng định nghĩa Việt Thường là tên nước ta ngày  xưa về đời vua Hùng Vương, thời Bắc Thuộc gọi là An Nam ( nhà Hán gọi là Nam Việt ), đến đời Gia Long góp hai tên cũ mà đặt tên là Việt Nam. Văn Lang là một quốc gia văn minh và giàu mạnh, Bắc gíáp Động Đình Hồ, Nam giáp nước Hồ Tôn có lẽ là Chiêm Thành khi tách ra khỏi Văn Lang ?  Cuối đời nhà Hán,  năm 102 sau Công Nguyên,   ở huyện  Lâm Ấp  quận Nhật Nam,  Khu Liên nổi lên  lập nước  Lâm Ấp. Quân nhà Hán  vì thủy thổ  bất phục, tiếp tế khó khăn, kinh phí  thiếu thốn, không đem quân đánh dẹp Khu Liên. Từ đây Chiêm Thành và  Việt Nam chia hai. Từ đời Hán, Chiêm Thành thường  đem quân cướp phá đất Giao Châu ( là bộ  Giao chỉ  nước Văn Lang ) . Đối với dân Việt,  người Chiêm Thanh rất độc ác, và  theo Nguyễn văn Siêu – Địa Dư Chí (? ), họ đã  tiêu diệt các nước nhỏ  cạnh Lâm Ấp như Đại Kỳ Giới, Tiểu Kỳ Giới, Thức Lộc, Từ Lang, Khuất Đô, Càn Lỗ, Phù Ninh. Năm 981, sau khi Lê Hòan lên ngôi thành vua Lê Đại Hành năm 980, đem binh  đánh nhà Tống xâm lăng và năm  982  đánh Chiêm Thành lần đầu tiên, sau  gần 8 thế kỷ  chịu đựng không biết bao nhiêu  cuộc tấn công của Chiêm Thành. Năm  1044, vua Lý Thái Tông đánh Chiêm Thành vì họ không chịu triều cống  và thường xuyên quấy nhiễu mặt biển nước ta . Quân ta đánh tan quân Chiêm ở Ngũ Hồ ( ở dãy núi Bạch Mã -Hải Vân ? ), tướng Quách Gia Ghi chém vua Sạ Đẩu xin hàng.  Vua tiến quân vào thành Phật Thệ  là làng  Nguyệt Hậu, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên ngày nay, bắt về 5000 người và 30 voi.  Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh thắng Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế  Củ.  Chế Củ xin dâng  đất ba châu  là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội và được tha về nước. Năm  1103, vua Chiêm Thành Chế Ma Na  chiếm lại ba châu. Năm  sau, Lý Thường Kiệt đem  binh sang đòi lại; quân Chiêm Thành thua to, phải trả lại ba châu. Chế Mân  xin dâng Châu Ô và Châu Lý ( Rí )  làm lễ cưới công chúa Huyền Trân và vua Trần Anh Tông thu nhận hai châu này, đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu. Năm 1307, vua Trần Anh Tông  phái  Đòan Nhữ Hải  vào cai trị hai châu này. Chính lúc này là dân Thanh Hóa và một ít dân Nghệ An  vào định cư  ở đây sinh sống  với dân Chiêm sở tại, khởi đầu tỉnh Hóa Châu, lúc đó gồm luôn cả đất tỉnh Thừa Thiên ngày nay. Năm 1368, vua anh hùng Chế Bồng Nga sai sứ  sang đòi lại đất Hóa Châu. Vua  Trần Dụ Tông  sang đánh Chiêm Thành, nhưng rốt cuộc  vua thua trận, các tướng Trần, Đỗ  Tử Bình, Hồ Qúy Ly chạy trốn.  Năm  1390, Chế Bồng Nga bị bắn chết và  Chiêm Thành suy yếu từ đây. Năm 1400, Hồ Qúy Ly lên ngôi,  sai tướng Đỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành nhưng thất bại. Năm 1402, Đỗ Mãn đem  binh lấy đất Chiêm Động  ( phủ Thăng Bình, Quảng Nam ), Cổ Lũy ( Quảng Ngãi )và đặt quan cai trị; dân Chiêm ở những nơi này bỏ đi. Quan trọng nhất là khi vua  Lê Thánh Tông lên ngôi vua, vua Chiêm Thành Trà Tòan quấy phá Hóa Châu, sai sứ sang nhà Minh cầu viện. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem binh bình Chiêm, đánh Thị Nại, Đồ Bàn, chiếm đất Đồ Bàn, Đại Chiêm, Cổ Lũy;  lập đạo Quảng Nam, cắt  Chiêm Thành  làm 3 nước  là Chiêm Thành,  Hóa Anh và Nam Phan.  Năm  1558, Nguyễn Hòang vào trấn thủ Thuận Hóa và từ đây Nam Tiến thêm và phát triễn miền Nam. Theo Thân Trọng Tuấn (  cũng ở tuyễn tập Nhớ Huế số 17 – 2006),  Nguyễn Hòang ( 1558 – 1631 )  lập căn cứ  ở Ái Tử, Trà Bát và Dinh Cát. Cả ba đều là đất tỉnh Quảng Trị. Năm 1602, chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên  dời Dinh Cát  từ Quảng Trị vào  xã Phước An , huyện Quảng Điền,  cải tên Dinh Cát thành phủ Thừa Thiên. Năm 1636, chúa Thượng Nguyễn Phước Lan  cho dời phủ Phước An vào  xã Kim Long, gọi là phủ Thuận Nghĩa, thuộc Thừa Thiên. Năm 1697,  chúa Nghĩa Nguyễn Phước Trăn  cải tên phủ  Thuận Nghĩa làm Miếu Thái Tông, thờ cha là chúa Hiền Nguyễn Phước Tần. Chúa Nghĩa lập phủ mới là Phú Xuân,  cách Miếu Thái Tông  vài dặm, ở  xã Phú Xuân , huyện Hương Trà. Theo cuốn thứ 6 Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, lấy núi  đằng trước Phú Xuân tức là Núi Ngự Bình làm án, đắp  tường thành, xây cung điện,  trước mặt đào hố lớn, trồng hoa cỏ cây cối ,thể chế rất tráng lệ. Phủ lập chưa xong thì chúa băng. Con là chúa Minh Nguyễn Phước Chu tiếp tục xây cất  Phú Xuân, tạm gọi là vương phủ. Nhưng dân quen gọi là  phủ Phú Xuân, sát cạnh phố Huế. Năm  1712, chúa Võ Nguyễn Phước Khóat cho lập phủ chánh ở phía Đông phủ  cũ xã Phú Xuân và  tháng giêng năm 1739, phủ chánh Thừa Thiên hòan thành. Theo cuốn Kinh Sư, cuốn sách thứ nhất của bộ sử Đại Nam Nhất thống Chí  sọan năm Duy Tân thứ ba – năm 1910,  thì thành cũ Phú Xuân thuộc góc  Đông Nam trong kinh thành Huế ,khỏang từ cửa Thượng Tứ( cửa Đông Nam )  theo đường Đinh Bộ Lĩnh  vào gặp đường Hàn Thuyên,  Đường Hàn Thuyên  bắt đầu từ của Hiển  Nhân vô ra Đại Nội , tới gặp đường Nguyễn Thành. Đường Nguyễn Thành vòng ngược lại  gặp đường Ông Ích Khiêm, từ Nam sang Tây  băng qua các cửa Thượng Tứ Đông Nam, cửa Thể Nhân ( của Ngăn ), Kỳ Đài ( cột cờ Ngọ Môn )  cửa Quảng Đức ( của Sập ) và của Chính Nam ( cửa Nhà đồ ). Di tích thành cũ Phú Xuân nay không còn nữa, vì tất cả đã bị phá hủy để xây  Viện Cơ Mật, sau cải làm tam tòa ( tòa án ), trường tiểu học Trần Quốc Tỏan, chùa miếu, nhà cửa v.v… Trước kia không có thị xã Huế, mà chỉ có Kinh  Sư , thêm chín phường  ngoại thành,  tính từ phường đệ nhất tới phường đệ cửu như dưới triều Thành Thái. Chỉ ở các bản chánh văn viết bằng tiếng Pháp , từ Huế mới được  dùng từ lâu.  Triều Thành Thái,  quân đội Pháp  của nhà nước Bảo Hộ  dành tòan quyền việc giữ gìn an ninh trật tự 6 khu phố ngọai thành. Triều Khải Định đặt ra chức thị trưởng thành phố cũng do Pháp đảm nhiệm cho đến năm 1945 . Thời Kinh sư trước năm 945  có 6 khu phố : phố Gia Hội,  Phố Đông Ba  ( nguyên là Đông Hoa   cải tên vì Hoa là tên mẹ của vua  Thiệu Trị ), phố Đông Hội , phố Chợ Dinh, phố của Đông và phố Trường Tiền . Ít hơn Hà Nội có đến 36 phố phường.  Phú Xuân ( Huế,  đọc trại của Hóa ? ) được thành lập năm 1687, thời chúa Nguyễn Phúc Trăn. Các chuá Nguyễn hành quân Nam Tiến từ  Phú Xuân,  mãi cho đến  khi quân chúa Trịnh Hòang ngũ Phúc đánh lấy Phú Xuân năm 1775.  Năm 1771, anh em  Tây Sơn nổi dậy, thắng trận ở Phú Xuân,  chiếm Phú Xuân năm 1786 , tiếp tục đánh ra Bắc và lật đổ  nhà Trịnh.  Nguyễn Huệ xưng vương là vua Quang Trung ở Phú Xuân, trước khi ra đánh Bắc đánh Trịnh và đuổi quân nhà Thanh viện trợ vua Lê  về Tàu.  Hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ  tranh dành nhau chia đôi đất nước ở một sông nhỏ Bến Ván( ? ) tỉnh Quảng Nam.  Năm 1792, Nguyễn Huệ chết. Thừa cơ Nguyễn Ánh  tiến chiếm Gia Định  rồi  lấy Phú Xuân, lên ngôi  năm  1802 và cũng lấy Phú Xuân làm kinh đô nước Việt Nam thống nhất từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, mãi cho đến  năm 1975  mới thôi. Trong thời Chiến Tranh Việt Nam  tỉnh Thừa Thiên là nơi chiến tranh khốc liệt nhất  đứng hàng thư hai của Cộng Hòa Miền Nam, vì gần vĩ tuyến thứ 17 chia đôi đất nước Dân Chủ Cộng Hòa Miền Bắc ký kết,  sau khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ,  dưới áp lực của Thủ tướng Trung Quốc  Châu Ân Lai. Binh lính Hoa Kỳ  chết ở đây là 2 893 người, cao nhất  mọi tỉnh Cọng Hòa Miền Nam. Thảm trạng Tết Mậu Thân 1968  cũng xảy ra ở Thừa Thiên, nơi ước lượng  từ  2000 đến 6000 thường dân và binh lính Cọng Hòa miền Nam về Huế nghĩ Tết, bị bắt làm tù binh, bị sát hại.

Sau năm 1975, dân  gian  Cọng Hòa Nhân Dân  miền Bắc  ồ ạt vào Huế – Thừa Thiên  cũng như khắp mọi tỉnh, thành phố, thị trấn Cọng Hòa Miền Nam. Tháng 6 năm 1976,  tỉnh Bình Trị Thiên  được thành lập  trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh.  Quốc Hội khóa 8, tháng 6 năm 1989, tỉnh Thừa Thiên – Huế được tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên. Lúc đó, Thừa Thiên – Huế  gồm các đơn vị hành chánh: thành phố Huế, huyện Hương Điền, huyện Hương Phú, huyện Phú Lộc và huyện A Lưới. Nay  gồm thành phố Huế , 8 huyện  và 8 thị trấn như đã nói trên.

 

Địa hình

Thừa Thiên-  Huế  nằm trong một dãi đất hẹp có chiều dài  khỏang 127 Km , chiều rộng trung bình  60km  với  các dạng địa hình kế tiếp nhau : núi cao  từ 750m trở lên chiếm 29.5 % diện tích, đồi chiếm 34.5 % , gò cao – cồn cát  hiếm 4.1 % , thung lũng 15.4 % , đồng bằng 11.6 % , đầm phá 4.4 % . Địa hình thấp dần  từ Tây sang Đông , phức tạp và bị chia cắt mạnh. Núi đồi  chủ yếu ở  phía Tây. Sau đó là các lưu vực sông Hương, sông Bồ, sông Truồi và sông Ô Lâu, tạo nên những đồng bằng nhỏ hẹp duyên hải.  Cuối cùng là vùng đầm phá .

Thuộc địa hình đồi núi  đáng kể ra là khu vực Động Truồi(  2 1154m ),  núi  Ba Đa  Lẽ( 1102m  ? ) , các núi A Lay, A Tây (919 m ) , Động Mang Chan (861m ), A So , Động Ngãi  (cao  1774m ). Khu vực  thượng nguồn sông Hương  núi thấp hơn  nhưng ở cảnh quan Bạch Mã – Hải Vân, núi lại cao. Dãy Bạch Mã, cao độ 1444m ở phía Nam huyện Phú Lộc, giáp giới Đà Nẳng,  do đá granit – thạch cương tạo ra.  Vùng Bạch Mã có nhiều cảnh quan đẹp, rất  có  giá trị về du lịch,  như dòng suối Hòang Yến,  thác Bạc ( cao 8-10m , rộng 4m ), Ngũ Hồ, đá granit chặn  dòng suối thành  5 hồ liên tiếp ở 5 bậc độ cao  giữa các hồ là  thác cao 3- 4m , thác Đỗ Quyên , cao hơn 100m , rộng 20m.

Phần  phía Tây và phía Nam  có địa hình  thung lũng xâm thực , tích tụ.  Đáng chú ý là thung lũng Nam Đông hay thung lũng Khe  Tre, chạy dọc theo  thượng nguồn sông Tả Trạch; thung lũng A Lưới,  dọc sông Xê Xáp kéo dài tới biên giới Việt Lào.  Càng đi về phía Nam,   thung lũng càng mở rộng , nhất là tại thị trấn Khe Tre  cao độ 60m.  Từ Khe Tre đi về phía  nguồn các phụ  lưu sông Tả Trạch , thung lũng lại hẹp dần. Thung lũng A Lưới  là một thung lũng hẹp, kéo dài  40 km theo hướng Tây Bắc -Đông Nam.  Diện tích 18000 ha , nằm trong đia phận huyện A Lưới, đáy thung lũng  cao độ 550m . Phía Bắc thung lũng là dãy Động Ngãi , có nhiều đỉnh cao  hơn 1000m và cao nhất  tỉnh là đỉnh Động Ngãi  1774m như đã nói trên , và độ dốc lớn . Phía Nam cũng có nhiều đỉnh cao trên 1000 m , nhưng độ dốc nhỏ hơn.

Phần phía Đông  là dải đất thấp  phù sa sông,  biển và sự bào mòn các đồi thấp dọc theo bờ biển chiều dài 70km, rộng trung bình 12 Km , tạo thành.  Địa hình không cao , nhưng  phân hóa phức tạp, gò đồi, cồn cát,  đồng bằng ,đầm phá và các cửa  sông,   xen kẻ nhau .

Đầm phá  tỉnh nhà , kéo dài theo hướngTây Bắc- Đông Nam,  khá điển hình, nối nhau thành một dãi,  gồm : phá Tam Giang ,đầm Thanh Lam – Sam, đầm Hà Trung – Thủy Tú (  Hà Trữ ? ), đầm Cầu Hai. Về phía Nam là đầm Lăng Cô ( còn có tên là  đầm Lập An , hay vụng An Cư),. Dải đầm phía Bắc  thông ra biển qua cửa Thuận An ở phá Tam Giang và cửa Tư Hiền ở đầm Cầu Hai .Chiều  rộng mỗi cửa gần 1km.  Riêng đầm Lăng Cô  nối biển qua cửa lạch Lăng Cô.   Dải đầm – phá – lagoon Tam Giang, Cầu Hai  là dãi  đầm phá lớn  nhất Đông Nam Á,  dài  68 km và diện tích mặt nước lợ là 22 000 ha (đầm Cầu Hai 11 400 ha, phá Tam Giang 4900 ha ).

Địa hình  cồn cát , đụn ( độn ) cát và bải biển trải dài từ Quảng Trị đến  cửa Tư Hiền , chỉ bị gián đoạn ở vài nơi. Bề dài các bãi biển là 128 km . Phía Nam địa hình này lại xuất hiện các dạnh mũi tên cát, điển hình  ở Lăng Cô. Bãi biển – mũi tên cát Lăng  Cô,   dài gần 6 km, thoai  thỏai, trông tựa  dải lụa trắng  viền mép nước biển trong xanh .  Bãi Cảnh Dương dài 8 km ,  rộng 150 – 250 m  có cảnh quan rất ngọan mục  mà ngay dân Huế cũng ít biết.  Bãi biển  Thuận An  rì rầm  tiếng sóng  quyện lẫn  tiếng gió xào xạc  rừng phi lao đón mời du khách .

Nối tiếp  về phía Tây Nam  là dải đồng bằng và đồi bóc mòn.  Các đồng bằng tương đối bằng phẳng.  Cao nhất là  đồng bằng xâm thực – tích tụ  Cổ Bi,  thuộc huyện Phong Điền, độ cao trung bình 14 – 20m.  Thấp nhất  là đồng bằng hạ lưu Sông Hương- sông Bồ  chỉ cao 3- 4m.  Phần lớn  thành phố Huế  nằm trên đồng bằng này,  nên thường bị ngập lụt, tai hại nhất mới đây là ngập lụt năm 1999.  Xen kẻ đồng bằng là một số đồi bóc mòn tạo ra nhiều cảnh đẹp.

 

Khí hậu,  thủy văn

Khí  hậu Thừa Thiên – Huế  là chuyễn tiếp giữa Gió Mùa Á Xích đạo miền Nam và Gió Mùa Nội chí tuyến  miền Bắc Việt, nói chung là khí hậu ẩm  ướt gió mùa. Dãy Bạch Mã đồ sộ  kéo dài ra tận biển, tạo thành hai vùng khí hậu hác biệt nhau. Tuy rằng khí hậu tỉnh nhà có nhiều điểm  giống khí hậu miền Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 250C ở các vùng đồng bằng ( tiểu vùng phía Bắc thành phố Huế, tiểu vùng  từ Phú Bài đến Truồi và tiểu vùng đồng bằng đầm phá huyện Phú Lộc)  và  vùng đồi. Trung bình cho vùng núi là 210C. Muà mát lạnh  là từ tháng 11 đến tháng ba sang năm, có gió mùa lạnh Đông Bắc.  Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng giêng : 200C. Nhiệt độ mùa mát lạnh có thể rơi xuống dưới 12oC  ở đồng bằng  và ẩm độ khí trời cũng cao 85-95% . Tiếp theo là mùa  nóng nực từ tháng 4 đến tháng 9 ; nhiệt độ trung bình  đến 290C  vào tháng 7, có khi lên tới 410C. Tuy tháng 7 cũng ẩm uớt, nhưng ẩm độ tương đối thập hơn, có  khi chỉ 50%.

Lượng mưa Thừa Thiên – Huế   thuộc vào lọai nhiều nhất nước nhà. Tác động giữa  địa hình  và hòan lưu khí quyễn đã tạo ra cho tỉnh nhà một số trung tâm  mưa lớn như Bạch Mã – Nam Đông (  3400 – 4000 mm, năm 1980 là 8 664 mm ), Động Ngãi ( 3200 mm, năm  1990 : 5086mm ).  Vùng núi phía Tây  và Tây Nam, mưa tới 7 tháng. Vùng đồng bằng ven biển, mưa kéo dài 4 tháng.  Lượng mưa nhiều nhất là vào tháng 10 -11. Các tháng còn lại mưa không đáng kể.  Tính chất mùa mưa  cọng với địa hình thường xuyên gây ra hạn hán là lũ lụt  Những nơi  có nhiều diện tích  đất cát hay đồi núi trọc , khả năng giữ nước mặt hạn chế, thường bị thiếu nước trầm trọng  từ 2 đến 3 tháng,  tỉ như ở các xã phía Bắc tỉnh . Ngược lại những nơi thấp, trũng lại bị ngập lụt vào mùa mưa.

Thừa Thiên – Huế thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, tập trung vào các tháng 8,  tháng 9, tháng 10. Trung bình mỗi năm gần có một cơn  bão đổ bộ  trực tiếp vào tỉnh. Tỉnh còn chịu ảnh hưởng rất mạnh các cơn bão đổ bộ vào miền Bắc hay miền Nam. Nếu bão đổ bộ vào  phía Nam  thỉ tỉnh nhà  bị mưa lớn. Hướng Trường Sơn  gần như trùng với hướng di chuyễn bão, nên mưa bão tiến rất xa lên phía Bắc. “Đại  hồng thủy”  xảy ra  ngày 7 tháng 11 năm 1999  tại Thừa Thiên – Huế đã làm cho 352 người chết ( có tài liệu ghi là đến 600 người chết ), 305 người bị thương, phá hủy tòan bộ 25 056 ngôi nhà và làm thiệt hại  600 000 gia cư .

Về thủy văn, mưa nhiều nên mạng lưới sông ngòi khá dày dặc, nhưng các sông đều  nhỏ , độ dốc lớn. Tổng chiều dài các dòng sông chánh chảy trên lảnh thổ tỉnh là 300 km, trong đó hệ thống sông Hương chiếm tới 60%.  Sông Hương dài nhất,  lưu  vực lớn nhất tỉnh, gồm 3 nhánh hợp thành là sông Bồ, sông Hửu Trạch và sông Tả Trạch. Sông Bồ bắt nguồn   từ sường  Đông của dãy Trường Sơn, dòng chính  dài 4 km, chảy theo hướng Nam Bắc, rồi Tây Nam – Đông Bắc  qua các huyện  A Lưới, Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền, nhập vào sông Hương ở ngã ba Sình, trước khi đổ ra phá Tam Giang. Từ vùng núi phía Tây Động Ruy,  sông Hửu Trạch   chạy  theo hướng Nam – Bắc  qua các huyện Nam Đông, A Lưới, Hương Thủy, rồi hợp lưu với sông Tả Trạch ở ngã ba Tuần, chiều dài 51 km. Sông Tả Trạch  khởi nguồn  từ sườn Tây Bắc  của dãy Bạch Mã, chảy theo hướng  Nam Đông Nam – Bắc Tây  Bắc qua các huyện Nam Đông, Hương Thủy, Hương Trà rồi về ngã ba Tuần , dài 60 km.   Hai sông Hửu Trạch và Tả Trạch  hợp lưu ở ngã ba Tuần ,cách thành phố Huế khỏang 10 km  về phía Nam, tạo thành dòng chảy chánh, quanh co của sông Hương  qua vùng đồng bằng rồi đổ vào phá Tam Giang . Sông Ô Lâu  và hai phụ lưu là sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh , bắt nguồn  từ vùng núi huyện Phong Điền  cao độ chừng 900m . Sông Mỹ Chánh có một  đọan chảy vào lảnh thổ tỉnh Quảng Trị,  trước khi hợp lưu với sông Ô Lâu  ở ngã ba Phương Tích trên ranh giới hai tỉnh.  Sông Ô Lâu chủ yếu chảy  trong huyện Phong Điền  rồi đổ vào phá Tam Giang qua cửa Lác, chiều dài dòng chánh là 69 km. Sông Truồi  bắt nguồn từ  vườn quốc gia Bạch Mã, ở độ cao 820m  và đổ vào đầm Cầu Hai . Sông Truồi chủ yếu  chảy trong địa phận huyện Phú Lộc, chiều dài 24 km. Trên lảnh thổ tỉnh nhà, còn có  sông Nông, dài 20 km,  bắt nguồn  từ sườn Tây Bắc Động Truồi  và đổ vào Đại Giang. Sông Bu Lu, thuộc huyện Phú Lộc, bắt nguồn từ sườn Bắc của đọan cuối dãy Bạch Mã, chảy thẳng ra Biển Đông ở Cảnh Dương, dài 18 km. Sông Cầu Hai  chỉ dài 5 km, bắt nguồn từ phía Bắc vườn quốc gia Bạch Mã , đổ vào đầm Cầu Hai. Sông ngòi tỉnh Thừa Thiên – Huế  có giá trị chủ yếu là cung cấp nước. Về lý thuyết, tổng lượng nước  các sông suối tỉnh là trên 5 274 triệu m3, trong khi nhu cầu  nước hàng năm của tỉnh là khỏang 535 triệu m3 , chiếm chưa đầy 10% tiềm năng.  Tuy nhiên, vì địa hình dốc, thảm thực vật  bị phá hủy mạnh , sự phân hóa theo mùa của dòng chảy, việc khai thác nguồn nước gặp nhiều khó khăn. Một số khu vực  bị thiếu nước nghiêm trọng như Phong Điền, A Lưới và  một phần Hương Trà, Hương Thủy.

Bờ biển Thừa Thiên-  Huế giáp biển Đông dài 120 km. Ven biển là hệ thống đầm phá nổi tiếng từ lâu đời, tổng diện tích bề mặt 22 000 ha như đã ghi. Vùng biển rộng lớn, có nhiều tài nguyên phong phú, là một trong những thế mạnh hàng đầu của tỉnh. Năm  2010 ghi là đã đánh bắt được 40 000 tấn hải sản  thuộc 500 lòai khác nhau.  Tuy nhiên  thềm lục địa tỉnh Thừa Thiên nhỏ hẹp, tuyến đẳng sâu 200m chỉ cách bờ biển có 30 km  và ra xa bờ là vực sâu qúa 3000 m.

 

 Tài nguyên đất đai, sinh vật, khóang sản

     Về đại thể, đất đai Thừa Thiên – Huế có thể chia ra  thành 3 nhóm chánh. Nhóm feralit  phát triễn trên các  lọai đá khác nhau, tỉ lệ mùn và các chất dinh dưỡng không cao vì bị bào mòn – rữa trôi mạnh; nhiều nơi đất vị xói mòn, trơ sỏi sạn.  Phân bố rộng rãi  ở đồi núi phía Tây tỉnh .  Nhóm đất phù sa  tập trung phần lớn ở dãi đồng bằng duyên hải  và có một diện tích nhỏ,  dọc theo thung lũng sông suối. Đất phù sa đồng bằng tương đối khá phì nhiêu nhờ phù sa sông ngòi bù đắp. Nhóm đất mặn cũng tương đối nhỏ, hình thành ở  vùng cửa sông , đầm phá nơi bị ảnh hưởng của thủy triều, có thể nên phát triễn một số cây chịu mặn. Thống kê năm 2000 cho thấy gần 48% đất đai chưa sử dụng,  đa số là đất trống ,đồi núi trọc phân bố chủ yếu ở các nơi đất cát và ở đồi núi. Diện tích đất cát lớn nhất là ở huyện Phong Điền, rồi đến huyện Phú Vang. Đất trống ,đồi núi trọc  trải dài trên một diện tích rộng lớn  từ Quảng Trị đến Đà Nẳng qua các huyện  Phong Điền, Hương Trà, thành phố Huế, Hương Thủy và Phú Lộc, rồi lan dọc theo thung lũng các sông Ô Lâu, sông Bồ , sông Hửu Trạch và sông Tả Trạch.  Dọc thung lũng A Lưới có đến 40 000 ha và ven thung lũng Nam Đông  có hơn 18000 ha đất trống.

Về Thực vật , Động Vật   ở  170200 ha rừng tự nhiên còn lại trong tỉnh, năm 2000,  là  rừng giàu và rừng trung bình  ở các vùng  cao, độ dốc lớn, hoặc ở các đầu nguồn sông, khá liên tục ở khu vực núi Động Ngãi dọc theo địa giới hai huyện Phong Điền, A Lưới, vùng biên giới Việt- Lào , dãy Bạch Mã – Hải Vân, chứa nhiều lòai gỗ qúi  và động vật rừng hiếm có .  Đặc biệt là vườn quốc gia Bạch Mã, thành lập  năm 1986, diện tích 22 031 ha, nằm trên lảnh thổ hai huyện Phú Lộc  và Nam Đông. Năm 2000, vườn Bạch Mã kiểm kê được 287 tông – chi của 144 họ thực vật,   55 lòai thú   thuộc 23 họ, 150 loài chim  thuộc 37 họ , trong đó có một số lòai đặc hửu  như  gà lôi lam mào đen  và mào trắng, vọoc …. Năm 2004 , Qủy Đời Sống Hoang Dã  Thế giới – World Wildlife Fund ,  khởi xướng  dự án Hành Lang Xanh – Green Corridor  cho khu vực  rừng luôn luôn xanh  nguyên thủy, đất thấp ẩm ướt  miền Trung Trường Sơn còn sót lại của nước nhà. Dự án thành lập Hành Lang Xanh năm 2008 , rộng 1340 km2 của rừng quý hiếm thuộc các huyện A Lưới, Nam Đông, Hương Thủy. Từ năm 2005 đến 2006, Hành Lang Xanh  đã khám phá ra  11 lòai động vật và thực vật mới, gồm  2 lòai bướm và một lòai rắn. 5 loài hoa lan và ba lòai thực vật mới khác, đặc hửu riêng cho các rừng nhiệt đới  thuộc dãy Trường Sơn Việt Nam. 10 lòai thực vật , gồm 4 lòai hoa lan đang  định danh, nhưng đã tỏ ra là những lòai mới. Trong thập niên 1990, ở đây  đã  tìm thấy nhiều động vật có vú lớn  kể cả Sao La.  Lòai rắn mới tên gọi là rắn  lưng gồ sống tàu, môi trắng- white lipped keelback snake Amphiesma Leucomystax, dài 80 cm, thân điểm chấm đỏ. Hai lòai bướm mới  thuộc 8 lòai  mới  khám phá ra trong tỉnh nhà từ năm 1996.  Lòai bướm nhảy nâu – quick flight skipper thuộc tông Zela. Lòai thứ hai là bướm mắt rắn – satyrid , thuộc tông mới họ phụ Satyrinae. Ba  trong số  các loài lan mới hòan tòan không có lá – leafless, một điều ít thấy ở lòai lan. Chúng hòan tòan không có diệp lục tố, sinh sống  trên chất liệu đang phân hủy.  Các lòai mới khác gồm lòai lan hoa đen aspidistra .  Một lòai họ ráy, môn – aroids mới có những mo – spathes  màu vàng rất đẹp,nhưng có một lòai tông Arum độc hại .  Những khảo cứu mới  trình bày rỏ là ở Hành Lang Xanh cũng có nhiều lòai bị hiểm nguy tuyệt chủng, trong đó có 15 lòai bò sát, lưỡng cư – amphibians  và 6 lòai chim. Hành Lang Xanh là nơi cư trú lòai vượn  mào má trắng – white cheek crested gibbon , một trong những lòai linh trưởng – primates bị  nguy cơ nhất thế giới.  Nhiều người cho rằng Hành Lang Xanh là vị trí bảo tồn tốt nhất cho Sao La, một lòai “ súc vật” hoang dã  độc đáo, các nhà khoa học chỉ mới tìm thấy năm 1992 trên thế giới .

Về thủy hải sản, năm 2000 , riêng vùng đầm phá Thừa Thiên – Huế đã kiểm kê được 162 lòai cá  thuộc 57 họ và  17 bộ.  Trong số này,  gồm 85 lòai bộ cá vược , 13 lòai bộ cá đối, 12 lòai  bộ cá trích , 11 lòai bộ cá chép, 10 lòai bộ cá chình …

Về khóang sản, nhìn chung Thừa Thiên là tỉnh nghèo khóang sản.  Hiện đã phát hiện  hơn 100 điểm khóang sản, phần lớn là đá vôi ở Long Thọ ( 500 triệu m3 , năm 2000 ), Nam Đông (  500 triệu m3 ), Phong Xuân- Phong Điền ( 240 triêu m3 )  thuận lợi để  phát triễn công nghiệp xi măng.  Mỏ đá granit đen và xám ở Phú  Lộc có trữ lượng lớn, có thể khai thác phục vụ nhu cầu trong nước, xuất khẩu.  Cao Lanh tập trung ở Lại Bằng ( Hương Trà ), Nguyệt Biều ( TP Huế ), cát thủy tinh  ở Phong Hải, ( Phong Điền), Phú Đa (Phú Vang ),  mỏ sẻt Long Thọ, Phú Thứi, Phú Bài, Hương Hồ, A Lưới . Trữ lượng than bùn ở Phong Điền và ở các trầm Bàu Bàng , Trầm Sen , Phong Nguyên, Hóa Chăm  hạn chế , cũng như quặng sắt ở Hòa Mỹ ( Phong Điền ), Vĩ Dạ Thượng , Phú Xuyên ( Phú Lộ c ) v.v… hay ti tan sa khóang ở Kẻ Sung , ( Phú Vang )  , Quảng Ngạn ( Quảng Điền  ), Vinh Phong – Vinh Mỹ  ( Phú Lộc )  và vàng sa khóang ở Phổ Cần ( Phú Lộc ), Bản Gôn ( Nam Đông ), Rào Nhỏ ( A Lưới)  …  Tỉnh nhà có   một số nguồn nước khóang ở Mỹ An ( Phú Vang) độ sâu 120m, nhiệt độ 51 – 52 oC ,  Thanh Phước ( Hương Trà)  độ sâu 41 – 145m, nhiệt độ 43.5 0C.

 

II –  Lạm bàn phát triễn Thừa Thiên- Huế

         Thắng tích kiến trúc Huế xưa

Năm 1802,  Gia Long lên ngôi vua đóng đô ở Huế. Suốt 143 năm các vua Triều Nguyễn  đã cho xây dựng  ở Huế và vùng ven một hệ thống công trình đồ sộ và hòan chỉnh, bao gồm  thành trì, cung đình, lăng tẩm, đền miếu, nhà chùa  phố phường , nhà vườn … mang sắc thái đặc biệt, giá trị nghệ thuật cao, một kỳ  quan Đông Nam Á. Tháng 12 năm 1993 , Thành Citadel Huế đã được Cơ Quan Văn Hóa Hóa Quốc tế UNESCO  công nhận là  Vị trí Di Sản Văn Hóa  Thế Giới – World Cul tural Heritage Site. Tháng 11 năm 2003, lại  tuyên bố  Nhã Nhạc Cung  Đình  Huế -Royal Musical  là Di Sản Tinh Thần  Văn hóa Thế giới – World Intangible Cultural Heritage.

Theo kiến trúc sư Đòan Đức Thành ( 2000 ) và các bổ sung của vài tác giả khác, Thành Huế thiết lập trên một khu đất bằng phẳng, cao ráo, bờ phía bắc sông Hương, bố cục theo truyền thống Việt Nam, gồm 3 tòa  thành cổ kính , khép  kín lồng nhau. Phòng Thành  là thành phòng ngự  ngòai cùng, mặt bằng hình vuông chu vi  9950 m, cao 6.5 m, rộng 25 m.  Mặt trước xoay về hướng Nam, có dòng Hương Giang bao bọc,  núi Ngự ( Bình ) và núi Bân làm bình phong.  Con sông đào tên là Hộ Thành ( sông An Cựu ? ), đưa nước sông Hương chảy qua 3 mặt chân của Phòng Thành, rồi lại trở về sông Hương. Kiến trúc phòng ngự có ảnh hưởng thành Vauban ( Vô Băng ) của Pháp. Góc thành phía Bắc hướng ra cửa biển, có một thành phụ  hình mang cá, gọi là Trấn Bình . Vòng Thành  Giữa nhỏ hơn, gọi là Hòang Thành, Hòang Cung hay Đại Nội .  Mặt bằng Hòang Thành gần vuông vức, chu vi 2450m, cao 4m, tường gạch dày 1m.  Bốn xung quanh có hào nước Kim Thủy Trì bảo vệ.  Mỗi  mặt thành có một cửa ở chính giữa: cửa Ngọ Môn phía Nam, cửa  Hòa Bình phía Bắc, cửa Hiển Nhơn, Chương Đức, hướng Đông – Tây.

Kiến trúc dinh thự Cung Đình Huế có đặc điểm là không vươn lên cao  mà dàn trải theo bề rộng, hòa nhập vào thiên nhiên. Hơn 140  công trình lớn nhỏ trong 9 khu vực  riêng biệt, cách nhau bằng hàng rào và cổng, vẽ trang trọng  nghiêm mật đúng độ  cho từng công trình. Các công trình  quan trọng trong Kinh Thành được bố trí đối xứng trên trục  trung tâm Nam Bắc, tức đường Dũng Đạo, gồm có  từ Nam sang Bắc:

-Kỳ Đài, vua Gia Long cho đắp năm 1807,gồm 3 tầng, tầng dưới cao 5.60 m, tầng giữa  cao hơn  chút ít 5.80m, tầng trên cao cao nhất  6m. Cột Cờ gồm 2 đọan bằng gỗ, từ chân lên ngọn cao 29.52 m. Trên Kỳ Đài, xây 8 nhà để súng và 2 điếm canh. Ngày 23 tháng 5 năm 1885, Kinh Thành thất thủ: 7 giờ sáng vua Hàm Nghi xuất bôn và khỏang 8 giờ sáng, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, cờ tam tài  Pháp màu  xanh, trắng, đỏ, phấp phới trên Kỳ Đài trước Ngọ Môn, dấu hiệu chánh thức Việt Nam cả nước nô lệ Pháp  cả Trung  lẫn Bắc Nam
– cửa Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, sân Bái Mạng, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, điện Kiến Trung, cửa Hòa Bình. Nơi ở sinh họat của nhà vua  như điện Càn Thành, điện  Kiến Trung, điện Thọ Ninh, cung Khôn Thái, cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, Duyệt Thị đường, Thái Bình lâu, Nhật Thành lâu, vườn Thượng  Uyển…  là hệ thống các công trình nội dung phong phú, chứa đựng nhiều yếu tố nhà ở dân gian. Trong Hòang Thành còn có 5 miếu thờ. Thế Miếu là  nơi  thờ 10 vua Triều Nguyễn. Nổi bậc nhất là Hiển Lâm Các, cấu trúc gỗ truyền thống ba tầng cao , tương đương  với  Ngọ Môn là  công trình đẹp và cao nhất Hoàng Thành.  Ở đây còn có  kiệt tác  Cửu Đỉnh- Dynastic Urns , 9 cái đỉnh đồng, mỗi cái  mang một chữ trong  miếu hiệu của  một ông vua nhà Nguyễn:  Cao, Nhân, Chương, Anh,  Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền. Mỗi đỉnh có  hàng chục hình chạm nổi, thể hiện vũ trụ, thiên nhiên rất đặc sắc.

    Lăng tẩm các vua Triều Nguyễn được xây dựng phía Nam Kinh Thành Huế bên dòng sông Hương, trong vùng gò đồi, có sông suối, khe, hồ, thông cao bóng cả.  Cả 7 ngôi lăng  xây dựng trên đồi, hội đủ các nguyên tắc “ phong thủy”: “ Sơn triều thủy tựu“ núi án  núi chầu” “ tả long hửu hổ” . Quy mô các lăng đều rộng lớn, nhiều lăng có tường thành bao bọc, phối trí tài tình  giữa kiến trúc và thiên nhiên. Khởi dựng từ khi vua đang trị vì, cho nên trong kiến trúc lăng tẩm, có sự kết hợp giữa  sống và chết, đạo và đời. Lăng tẩm nào cũng có 2 khu; khu lăng để chôn thi hài khi vua qua đời, khu vực tẩm  dành riêng cho nhà vua khi còn sống, thỉnh thỏang đến chơi thăm. Đặc điểm này đến thời Nguyễn mới có.  Nhiều công trình mang nội dung sinh họat được xây dựng trong khu vực này, như thể một hành cung thứ hai: các điện để làm việc, ăn, ngủ ; minh lâu , đình tạ, hồ đảo, vườn hoa để vua thưởng ngọan, có cả các viện cho cung tần mỹ nữ đến chầu hầu.

Lăng Gia Long nằm giữa  rừng tông bao la  bố cục thành 3 khu : lăng ở giữa, điện thờ bên phải và  bia công đức bên trái. Các công trình gần gủi với kiến trúc  truyền thống, hài hòa với cảnh chung quanh, tạo một vẻ đẹp hùng tráng. Lăng Minh Mạng  thể hiện một quần thể kiến trúc trật tự nghiêm ngặt. Các công trình chánh đều nằm  trên trục đường Thần Đạo, từ dưới cao dần lên là  cửa Đại Hồng Môn, Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân, Minh Lâu đến Lăng  ở gò đất cao nhất. Hai bên đường Thần Đạo, có tượng đá, sân vườn, cây cảnh, hồ nước  cầu đường đối xứng nhau  từng đôi một, tạo một vẻ trang nghiêm, sâu lắng. Lăng Tự Đức gồm khu điện thờ ( nơi nhà vua sinh họat khi còn sống ) và khu bia mộ đặt gần nhau, cùng hướng ra con đường xuyên suốt, chạy ngoằn ngòeo  từ cửa Vụ Khiêm, men theo bờ hồ  Lưu Khiêm ở phía trước. Các công trình kiến trúc xen  trong hoa lá, soi bóng xuống mặt hồ êm dịu và thơ mộng. Lăng Khải Định  trên núi Châu Re  không cây xanh, không mặt nước. Tầng tầng lớp lớp kiến trúc dày dặc và chóang ngợp, một màu xám xi măng. Những mảnh tranh tường mang hình tứ linh- tứ quý,  ghép bằng gốm màu hết sức tinh xảo, tạo những cảnh sắc rực rỡ, linh động. Các lăng khác : lăng Thiệu Trị thanh thóat, lăng Đồng Khánh xinh xắn, lăng Dục Đức  khiêm nhường. Còn lăng thứ 8 Duy Tân , mới  xây dựng năm 1987, vẻ đẹp giản dị trong sáng.

    Ở Huế còn có gần 100 ngôi chùa. Nổi tiếng nhất là Chùa Thiên Mụ, trên đồi Hà Khê làng An Ninh bên bờ sông Hương. Từ năm 1601 là năm khởi dựng đến nay, đã nhiều lần hư hỏng và tu  sữa, bổ sung. Chùa có tường vây 4 mặt, chia ra làm 2 khu. Phía  ngòai, ở trên độ cao 49 bậc cấp, có cổng trụ tam quan. Từ đây mở ra một khỏang sân rộng, nổi bật trong tầm nhìn là Tháp Phước Duyên, cao 7 tầng và đình Hương Nguyện,  xây dựng năm  1846, cạnh đó  là lầu chuông  và nhà bia.  Qua khu tưởng niệm là khu vực các điện thờ Phật  ở phía sau, nối tiếp nhau trên một trục dọc của Chùa. Gồm các điện Đại Hùng, Địa Tạng, Quán Âm và nhà trai cùng với sân vườn đẹp. Chùa Thiên Mụ có nhiều tượng đẹp, đặt trên 7 tầng tháp Phước Duyên  và điện Đại Hùng. Trong lầu chuông  có quả chuông  đồng,  đúc từ thế kỷ thứ 18, nặng hơn 2 tấn, cao 2.5 m. Bia đá đặt trên lưng rùa đá cao to, chạm trổ tinh vi.

Đình làng Huế không nhiều. Tiêu biểu nhất là các đình Kim Long, Lại Thế, Dương Nổ.

Có lẽ không nên quên 6 dãy phố xưa.  Theo cuốn Thừa Thiên Phủ, mục Phố thị, ngòai quách kinh thành các nhà cửa khu phố đều lợp bằng tranh, chen chúc và thường bị hỏa họan. Vua Gia Long  cho dân gian cùng người Tàu – Hán Thanh sửa sang, lợp ngói lại khu phố  Đông Bắc Kinh Thành  gần chỗ xây Trấn Bình Đài (đồn Mang Cá). Năm 1837, vua Minh Mạng  sai Thống chế Lê Văn Thảo đốc thúc binh lính cất nhà,  lợp ngói  ba khu phố Gia Hội   Đông Ba ( Đông Gia ) và Đông Hội. Khu Gia Hội gồm 89 gian nhà. Khu Đông Ba  và Đông Hội , dọc theo sông Tả Hộ Thành, chung lại gồm 399 gian, dài hơn 2 dặm. Dân gian, kể cả người Tàu, cũng được phép xây cất thêm 149 gian phố  theo kiểu mẩu bộ Công, nghĩa là phố trệt không lầu, tường gạch quét vôi, lợp ngói, mặt trước làm cửa gỗ có cánh, hàng hiên có cột trụ,vách sau xây gạch có  trổ cửa tò vò, cứ 3 gian ngăn một tường gạch v.v….Dân Huế quen gọi lối kiến trúc này  là phố ba gian. Phố Chợ Dinh, dọc theo bờ sông Hương dài hơn 3 dặm  đến dinh thị Hạ Ấp của Thọ Xuân Vương. Gồm 8 hàng. Chính giữa  dãy phố là con đường lớn, tức  là đường Chi Lăng sau này. Phố chợ Dinh  sầm uất nhất Kinh sư. Ngày trước  chưa có phố Huế, chỉ có phố Chợ Dinh. Đi Dinh có nghĩa là đi Huế. Trong lúc Kim Long đã thành xưa cũ, thì Chợ Dinh  tiêu biểu cho mới mẽ tân kỳ.  Hoa Kiều tại phố Chợ Dinh đã đóng góp phần lớn cho nền kinh tế thành phố Huế. Nay phố Chợ Dinh vẫn còn, nhưng  dân Huế lại gọi là phố Gia Hội và phố Chi Lăng.  Đưới  triều Đồng Khánh, vua chuẩn cho những lô đất trống từ xưa  và lô đất vừa dẹp trại quân ( là trại Long Vũ, Pháp đốt khi kinh thành thất thủ?  )  ở hai bên tả hửu ngòai quách cửa Chánh Đông( là một khúc của Đông Ba ?)  cho quan và dân làm   Phố  Cửa Đông.  Quy thức  kiến trúc  kiểu mẩu đo đạc đều  do bộ Hộ và bộ Công xếp đặt, phân định mẩu mức  cho từng đơn xin. Phố  gồm 3 dãy nhà và 2 con đường song song , lấy chợ Đông Ba gần cửa Chánh Đông  làm Trung tâm.  Năm 1890, triều  Thành Thái, dưới áp lực  của Pháp Bảo Hộ  phải chấp thận cho xây  nhà 2 tầng.  Phố Cửa Đông cũng  là phố đầu tiên tại Huế có vỉa hè, lề đường và lát đá theo kiểu Tây Phương. Phố Trờng Tiền bắt đầu từ  phía Tây  cầu Gia Hội, dọc theo bờ sông Hương  theo hướng Tây  đến ngang  trước cửa Đông Nam tức là của Thượng Tứ sau này. Trước phố  có cho làm một con đường rộng rãi, có vĩa hè, lề đường, lát đá. Đường phố  phân chia hai chiều  bằng một dãy cù lao nhân tạo, bờ đúc xi măng, trồng hàng cây phượng vỹ  theo kiểu Tây Phương.  Thời Đệ Nhất Cọng Hòa, thời  tổng thống Ngô Đình Diệm dời bỏ, làm rộng con đường  và đặt tên là  đườngTrần Hưng Đạo.

Những thắng tích cũ khác nên kể thêm ra là:

– Phú Văn Lâu , vua Gia Long cho thiết lập năm 1819, phía trước Kỳ Đài, sát bờ sông, trước chỉ dựng đình, gọi là bảng đình, dùng làm nơi niêm yết các chiếu, thư, dụ, chỉ nhà vua. Trước đình  có dựng bia và làm lệ Khuynh Cái  , Hạ Mã có nghĩa là  nghiêng lọng , xuống ngựa. Sau năm 1954,  Phú Văn Lâu  là nơi  tổ chức    các buổi lễ lớn , như ngày quốc khánh  26 tháng 10  thời đệ nhất Cọng Hòa , ngày quân lực v.v…. Năm 1972,  Phú văn Lâu  tiếp nhận đồng bào tị nạn  từ Quảng Trị, vừa thóat  khỏi tử thần  trên con đường độc đạo quốc lộ sô 1, biệt danh là Đại Lộ Kinh Hòang;

-Cầu Trường Tiền  ngang qua sông Hương  phía Đông Nam Kinh thành Huế , nối con đường thiên lý Bắc Nam –  Quốc lộ 1A, khởi công năm 1897 và hòan tất năm 1899 vào triều vua Thành Thái. Thời Đệ nhất  Cộng Hòa cải tên là cầu Nguyễn Hòang dùng trong văn thư, không mấy  ai biết đến, cũng như tên cầu Thành Thái  may lắm  còn vài ông già xưa  hòai cỗ gọi tên này.

–  Cầu Bạch Hổ cũng khánh thành  triều Thành Thái năm  1904 năm, nối tiếp qua Cồn Dã Viên, một cù lao nhỏ trên  sông Hương  vì thời  các chúa Xứ Đàng Trong  dùng như một vườn thú nhốt cọp -beo  ở các  hổ trận nên gọi tên là Dã Viên. Thời Pháp thuộc, cầu Bạch Hổ là cầu sắt  dùng riêng cho xe lữa.

– Cầu Sông Hương được Công Binh dẹp cầu phao, cuối năm 1968,  theo chỗ cầu phao cũ  làm móng  bê tông cốt sắt, quê kệch hết chỗ nói (cũng theo Thân Trọng Tuấn- 2006)

– Chợ Đông Ba   nằm sát ngã ba  bờ sông Hương và sông Gia Hội,  thuộc khu phố Trần Hưng Đạo, cách cầu Tràng Tiền chừng 500 m về hướng Đông,Triều Gia Long  cho lập chợ ở ngòai thành  gần cửa Chánh Đông, tức là cửa  Đông Ba sau này.  Năm  1887, vua Đồng Khánh cho làm thêm nhà vuông lớn, lợp ngói, không phân lô gọi là đình chợ. Lại cho làm các dãy thấp  hơn, phân chia từng lô hàng, cho thuê  gọi là quán chợ. Năm 1899, vua ThànhThái  cho dời chợ Đông Ba  ra khu phố TrườngTiền sát bờ sông Hương và  sông Gia Hội, trên bãi đất trống, dân Huế vẫn gọi là Giại.  Năm đó, vua cho gỡ ván lót cầu Trường Tiền ra, xong đúc sàn cầu  bằng xi măng. Chính giữa  chợ, cho xây một lầu gạch 3 tầng. Tầng thứ hai  treo đồng hồ 4 phía.  Năm 1969, ngoài việc cho xây Cầu Sông Hương kệch cỡm, người ta cho phá lầu chợ Đông Ba,  cho xây một lầu mới 3 tầng, kiến trúc thật vụng về, hình dáng như cái hộp, làm mất hết  nét đẹp của thành phố Huế. Chợ Đông Ba là trung tâm  trao đổi dịch vụ quan trọng và lớn nhất  xứ Huế.  Hải sản  hàng ngày chở  từ cửa biển Thuận An lên. Hoa quả từ Kim Long, Nguyệt Biều chở xuống. Vịt, gà từ Phú Vang, An Cựu, Dã Lê chở lên. Khoai môn,  các thứ tiểu công nghệ  từ Đại Lược, Bao La chở vào. Gạo từ  An Cựu chở lên hay từ Quảng Điền chở vào …  Tất cả đường bộ, đường thủy hầu  hết đều quy tụ vào chợ Đông Ba .

– Hồ Tĩnh Tâm  thành lập năm 1836, phía Đông Bắc, ngoài Hòang Thành.  Chung quanh hồ  cho xây tường gạch thấp có trỗ 4 cửa, nhưng không làm cánh cửa.  Hồ Tĩnh Tâm  có 3 đảo:  Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu. Trên đảo Bồng Lai có dựng điện Bồng Doanh, phía Nam là cầu Bồng Doanh, phía Bắc là cầu Hồng Cừ. Cầu này làm bằng gỗ, lan can bọc lưới sắt,  nẹp viền mỹ thuật.  Phía Tây là cầu Trừng Luyện.  Phía Đông là tạ ThanhTâm. Đảo Phương Trượng thuộc  phía Bắc. Phía Bắc đảo Phương Trượng  có dựng lầu Tĩnh Tâm. Phía Tây dựng hiên Dưỡng Tánh.  Phía Nam  có làm cửa Bích Tảo, trước cửa dựng cầu Bích Tảo. Cầu Bích Tảo, lầu Tĩnh Tâm, hiên Dưỡng Tánh  nay đã hư sập hết, không rỏ đã trùng tu lại chưa ?  Chính giữa  hồ, giữa hai đảo Bồng Lai và Phương Trượng, có dựng đình Tứ Đạt. Phía Đông Bắc  đình Tứ Đạt là Hạc Hải Trì, có dựng lầu Tàng Thư, nơi chứa sách qúy của triều Nguyễn Phước xa xưa.  Điều đau buồn nhất là Việt Minh năm 1946, cho đốt phá  lầu Tàng Thư, cả một kho  tàng văn chương- văn hóa  triều Nguyễn Phước đã  cho sưu tầm  hay người dân, các quan  dâng hiến từ  triều Minh Mạng đến triều Bảo Đại, vô cùng quý báu, cất giữ cả trăm năm,  bổng chốc  tiêu tan, dưới chiêu bài  tận diệt  tàn tích, thực dân – phong kiến, lấy sách xé ra cho dân thất học làm giấy vấn thuốc hút !

 Kiến trúc- Thừa Thiên – Huế xưa  là bảng tổng kết cô đọng nhất  những giá trị truyền thống còn bảo tồn được  rõ nét  đến hiện tại về các mặt  công năng mặt bằng, kết cấu, qui họach thành quách và đô thị, trang trí trần thiết nội thất, kiến trúc phong cảnh.  Những đặc điểm  của kiến trúc thời Pháp thuộc,  thể hiện sự du nhập  phương thức xây dựng và quy họach đô thị Châu Âu  và sự chuyễn hóa giữa xây dựng Pháp  và văn hóa Á Châu. Ở Thừa – Thiên điển hình nhất là khu nhà hàng Morin Frères,  Chaffanjon cũ, các nhà cửa  kiều dân Pháp, bên cạnh, sau Morin và tòa Khâm, dinh tòa  Khâm sứ, cửa dinh đồ sộ và vườn quân nhạc  Pháp  trước tòa Khâm, bên cầu Tràng Tiền,  khu vườn Bia Trận vong chiến sĩ Pháp và  Việt thuộc địa Thế Chiến  1914 – 1918 bên bờ sông Hương , trước mặt trường Đồng Khánh –  Khải Định ( nhà thơ Tố Hửu, thời  còn  làm thơ tinh thần quốc gia đã  mĩa mai “ Bỏ thân những tưởng vì non nước, đâu biết mình riêng đã dối mình”  ). Có lẽ luôn cả 139 biệt thự  những năm 1930, nay  đã hòan tòan hư hỏng ở  khu nghĩ mát Bạch Mã,  trên độ cao 1000 – 1444m. Hài hòa Tây Phương- Đông Nam Á này đã được một con dân xứ Huế,  kiến trúc sư khôi nguyên giải La Mã , Ngô Viết Thụ thể hiện,  tái xây dựng dinh Norodom bị ném bom  thành Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, thập niên 1960.

Danh lam thắng cảnh di tích  lịch sử, tài nguyên thực vật, động vật, khoáng sản kể trên … là những ưu điểm so sánh của Thừa Thiên Huế , đã giúp lảnh vực du lịch, dịch vụ, thương mãi  từ nhiều năm nay dẫn đầu phát triễn kinh tế xã hội. Tuy nhiên có lẽ cũng nên  nói qua phần đóng góp của tài nguyên văn hóa nhân sinh nữa. Thừa Thiên  Huế  có hình thái Múa Cung Đình Chăm và  Kinh -Việt .  Múa cung đình vẫn còn dấu vết  trên các tượng đá  Vũ nữ Trà Kiệu (Quảng Nam)   … thế kỷ  thứ 7 thứ 8, tuyệt tác điêu khắc và múa cung đình Chăm.

           * Múa Cung Đình Huế định hình từ thế kỷ thứ 17, kết tinh một  truyền thống 3 thế kỷ. Múa được  tiến hành  trong các trường hợp : lễ tế giao, lễ tích điền, lễ tế văn miếu, lễ kết hôn của hòang tử  hoặc công chúa v.v… .Múa Cung Đình tiêu biểu cho Huế ngày nay là múa Hoa Đăng  ( lục cúng hoa đăng ). Thuở  xưa múa Hoa Đăng là múa 6 lần, tượng trưng 6 lần dâng cúng: hương, hoa, đèn, trà, quả,  oẳn.  Đội hình  múa lục cúng Hoa Đăng  gồm 48 vũ sinh  nam nữ; đặc điểm   là người múa  2 tay cầm đèn hoa sen  vừa hát vừa múa  và tạo hình  thành từng mảng khối  hay các hình hoa khác nhau.   Mỗi khi  hết một lần múa,  lại kết  thúc bằng những hình tượng – trụ bộ  rất độc đáo  như “ cỗ la liệt”, “ cỗ giả hòang”, cỗ tướng hảo”,   xếp bằng cách chồng người, tòan bộ như một  đài hoa sen tỏa sáng lung linh.

*Ca Huế đã có từ hàng trăm năm rồi, nhưng sân khấu cổ nhạc từ xưa  vẫn chỉ thấy hát  bộ ( bội) và  sau đó là cải lương, phát xuất từ miền Nam Việt Nam. Hát bộ  gần như thường trực ở rạp Đồng Xuân Lâu – Rạp Bà Tuần. Ca  Huế từ trước đến nay vẫn chừng ấy điệu: Nam Ai, Nam Bình, Phú Lục , Cổ Bản , Huê Tình, Kim Tiền ,Tứ Đại Cảnh… Theo  Hòang Thế Định ( Florida – 2006 ), ông Hòang Trọng Đồng  ( 1899 – 1987 ) rành  sân khấu hát bộ, nhờ các buổi trình diễn ở Duyệt Thị Đường ( Hòang Cung Huế ) và nghiên cứu thêm sân khấu Cải Lương miền Nam, đã đưa Ca Huế lên sân khấu với tính chất nhạc kịch. Năm 1938, ông Đồng sáng lập ra  Gánh Ca Huế Kim Sanh, sau đổi thành “ Đoàn Ca Kịch  Kim Sanh”, đưa hai vỡ tuồng ca kịch đầu tay Kim Sanh  là “ Thói Thời Đen Bạc”   và “ Tình Là Giây Oan”  đem trình diễn thử thành công lớn ở Dã( Dạ ) Lê,  một rạp hát ngoại ô Huế, rồi đóng đô gần như thường trực  ở rạp “ Bà Tuần” Đồng Xuân Lâu. Kim Sanh có một điệu ca mới là điệu Dõan Xuân cũng do ông Đồng sáng tác, cùng nhiều vỡ khác, nêu lên  những sự kiện lịch sử, hoặc dã sử, những cảnh sinh họat đương thời. Mức phổ biến lan rộng làm nẩy sinh  tính từ  “  ăn nói Kim Sanh”, “ bộ điệu Kim Sanh”  cho những ai diễn tả lời văn hay câu nói  mang tích cách sân khấu. Sau  năm 1954,  thế hệ trẻ lớn lên nghiêng về nghệ thuật phim ảnh, thoại kịch và  các chương trình tân nhạc, tiêu biểu nhất là nhạc và nhất là lời nhạc của Trịnh Công Sơn, một con em xứ Huế.   Sân khấu Cải Lương  Miền Nam  phát triễn mạnh mẽ  mọi mặt, nhất là  kỷ thuật ánh sáng, âm thanh cũng như đề tài sáng tác. Các đoàn hát  thi nhau ra miền Trung phổ biến nghệ thuật Cải Lương Nam Kỳ. Năm 1956, Đòan Ca Kịch Kim Sanh thật sự ngưng hẳn, sau lần diễn  cuối cùng ở rạp  Hòa Bình – Đà Nẳng.

 

        Dịch vụ dẫn đầu từ lâu

      Dịch vụ dẫn đầu từ  thập niên 1990, nhưng còn phát triễn thêm  được  nữa. Từ năm 1990 đến năm 1999, trong khi lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp ở GDP giảm dần từ 44.2 % năm 1990 xuống 22 % năm  1999, dịch vụ đã tăng từ 36 .1 % năm 1990 lên  47. 5 % năm 1999. Thời gian 2002- 2006, phần dịch vụ  cũng không giảm  vì chiếm  44.1 % năm 2002 và 43. 8 %  năm 2006 . Sở dỉ tỉ xuất dịch vụ có sa sút đôi chút năm 2006  là  vì lảnh vực công nghệ và  xây cất đã tăng  từ  30. 6 % năm 1999,  lên  36. 1 % năm 2006.  Năm  1990,  lảnh vực này chỉ mới chiếm  19. 7 % . Lảnh vực nông lâm ngư cũng còn xuống dốc hơn nữa theo tỉ lệ trong chiếm hửu GDP ,  năm 2006   chỉ còn 20. 1 %. Tăng trưởng kinh tế  năm 2005 là 11,2 % và năm 2006 là 13.4%. Tỉnh Thừa Thiên-Huế báo cáo cho bộ Chánh Trị tháng 7 năm 2014 là tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà, thời gian  2009 – 2013, trên 10.2% một năm và GDP mỗi đầu người  đã tăng 1,77  lần hơn, nay đã trên  1000 USD. Tỉ xuất đô thị hóa là 40 -50 % , nghĩa là trên mức dự liệu  cả nước  trước đây vào năm 2015-2020( ? ). Mức xuất khẩu năm 2013 cũng đạt trên 300 triệu USD, với các con số trên 30 triệu USD năm 1997 và  gần 29 triệu USD năm 1999 ( năm bị bảo lớn ).

         Du lịch là ngành dịch vụ phát triễn  mạnh nhất tỉnh nhà. Năm 1996  lượng khách  đến Thừa Thiên – Huế là 286 859 lượt người. Năm  1996 tăng lên  388 835 lượt.  Năm 1999 có 156 205 khách quốc tế . Tỉnh cho biết là 6 tháng đầu năm 2014, số lượng  du khách đã trên 1 triệu người, trong đó phân nữa là ngọai quốc . Năm  2000,  cả tỉnh đã có  76 khách sạn, tổng số phòng là 2153. Trong số này  có 15 khách sạn được xếp sao,  bao gồm  3 khách sạn  3 sao là Century, Hương Giang, Sài Gòn Morin Hotel, 6 khách sạn 1 sao.  Các tháng 6 – 8 năm 2014 ,  trong số 110 khách sạn Huế được Trip Advisor ( ? ) đánh gía xếp hạng từ  thấp cao  1- 5 , thì  khách sạn hạng 5 là Tâm Tịnh Viên Homestay;  hạng 4.5 là Thân Thiện Hotel – Friendly Hotel, Victory Hotel  Hue, Waterland Hotel, Vina Hotel Hue;   hạng  4  là Ngọc Bình Hotel,  Park View Hue Hotel,  Nhật Lệ Hotel,  New Star Hotel, Festival Hue Hotel, Tigon Hostel và hạng 3.5  là Century  Riverside  Hue Hotel,   Hương Giang  Hotel Resort & Spa,  Phượng Hòang – Phoenix Hotel, Hue Queen 2  Hotel . Một xếp hạng khác lại  cho Holiday Diamond Hotel đứng hạng nhất, Jade Hotel hạng 2, Hue Serene Palace Hotel  hạng 3… ,   BW Premier  Indochine hạng 5,  La Residence  Hue Hotel hạng 6, Eldora Hotel  hạng 7  , … Orchid Hotel hạng 9, Moonlight Hotel Huế hạng 10, trong số 110  khách sạn thăm viếng . Tuy nhiên năm 2014 , Thừa Thiên chỉ mới có một khách sạn đạt  4 sao, chưa có khách sạn 5 sao như Bình Dương .

 Các món ăn đặc biệt Huế không phải ăn để sống, mà là một dạng nghệ thuật nấu nướng. Các món ngon  rất thanh nhã, nhẹ nhàng và qúi phái, khác với các món ăn ngon các tỉnh Việt Nam. Gia vị, nhất là ớt cay, đóng một vai trò quan trọng  trong nghệ thuật trình bày nấu ăn Huế.  Đáng lưu ý  ngày nay khi thưởng thức món ăn Huế  là nên biết chúng đã được  làm ra để   vua “ thời- ăn” trong quá khứ.  Ngành du lịch Huế kể ra đầu tiên là món Cơm Hến , một món đơn giản và giá hạ, đem tới bạn mùi vị ngọt ngào của cơm  địa phương (gạo gie An Cựu ? ) và nhiều lòai rau Huế, pha trộn mùi bơ, đắng, chát của gia vị, mỡ heo và hến.  4  dĩa món Huế khác không nên quên  là Bánh Bọc Lọc   ( bột gạo bọc tôm, thịt ) ,  Bánh Lá Chả Tôm (  bột gạo bọc trong lá, thường là lá chuối,  nấu hấp hơi thành bánh mềm, phần  trên  mặt  trộn thịt, tôm, trứng, ăn riêng với chả tôm  kiểu Huế),  Bánh Hỏi Thịt Quay , Bánh Lá ( xôi bọc lá ) …  Bún Thịt Nướng,  Bún Bò  Giò Heo rất được du  khách mến chuộng.  Và  lẽ dĩ nhiên  là  gần 50 món chè – sweet soup  Huế,  đơn giản hay phức tạp, trong số này dân Huế  hảnh diện nhất là:  chè khoai tía – purple yam, taro sweet soup,  chè long nhãn  bọc hạt sen –  longan  wrapped  in lotus seed sweet soup , chè  xôi trôi nước nhân tôm thịt –  floating  sticky rice  with shrimp sweet soup, chè đậu ván bột lọc –  fava bean and rice  pastry sweet soup. Vài món Huế ăn chơi  vào khỏang 3- 4 giờ chiều ,không vào bửa ăn chính,  còn dành riêng cho dân Việt ăn uống sành sỏi .Theo Bùi Minh Đức (  tuyễn Tập nhớ Huế số 17- 2006 ) ăn lúc  lỡ bữa này là ăn trái mít chín cây- trái mít lỗn cồi, hay ăn trái mít dú trong lu gạo , hột mít luộc  để trên rá tre  “ nóng hổi hổi vừa thổi vừa ăn”,  món vả ( gốc Chiêm Thành ? ) trộn, được luộc trước, cắt lát mỏng như giấy, sau khi đã gọt vỏ ngòai, ăn cùng mè rang thơm phức, xúc với bánh tráng . Cũng phải có răm  mới thành món mít trộn và để  làm dáng cho đẹp mắt, rắc một ít tôm chấy màu đỏ hồng  lên mặt  cho có cảm tưởng vừa ăn bằng miếng, vừa ăn bằng mắt, đôi khi  gặp miếng tóp mỡ sần sật vừa thơm, vừa béo, vừa dòn. Món Hến xào xúc bánh tráng khắc hẳn. Hến luộc xong,  lấy ra khỏi vỏ  từng con,  rất cônng phu.  Vắt khô rồi xào với ớt , với những  lát thơm ( dứa ) vắt khô ráo rồi trộn với mè. Hến xào của Huế ngon là nhờ cái mùi bất hủ  của hến Cồn Hến – Huế . Ngày nay trên thế giới  có sẳn  khắp nơi, hến Trung Quốc  trong hộp, mùi không ngon  bằng hến xúc  dưới lòng hói, lòng sông  xứ Huế.  Cồn Hến đã bỏ Huế ra đi từ  hồi nào  không hay và cồn Hến nay thật sự không còn bao  nhiêu hến . Món ốc luộc   có nhiều  thứ ốc từ  ốc  gạo nhỏ lăn tăn  như hột bắp đến  thứ ốc bưu  lớn hình. Ăn ốc cần phải có “ Cái Khươi” một đầu nhọn, một  đầu có mày, thường là gai buởi, gai chanh.  Có người  trữ sẳn kim băng để móc thịt ốc, ăn xong lại ghim vào áo như cũ . Ăn khoai luộc chấm muối mè rang, thì thật là không  có gì hơn. Về mùa hè, thường có các gánh  bắp” nếp “ Cồn Hến  gánh qua đò Gia Hội đi bán dọc đường.  Bắp nướng bằng lửa than  thì khỏi chê.  4 món  ăn chơi cuối cùng,  ăn  bữa lợ cũng được mà ăn bữa chính cũng xong:  gà bóp Huế  ăn đúng điệu là với rau răm Huế chính cống , bổ túc với món cháo gà ăn với xôi   nếp,  nấu dẽo dẽo   chứ đừng qúa khô mất ngon ;  cháo vịt , phải dùng dao thật bén  chặt  khéo tay cho xương khỏi vụn . Thịt vịt  có cả da,  cả thịt, cắt thành lát, chấm nước  mắm gừng, có tí ớt-tí đường-tí tỏi ; món “Xôi thịt xáo”  , nay  ít ai ăn. Chung quy là  thịt bò thật mềm, cắt lát nhỏ, bóp tiêu hành nước  mắm, nhiều sả xắt nhỏ, đem ướp nữa ngày, rồi xào nhẹ lúc gần ăn. Các tiệm ăn Huế du khách thích thú ngày nay là Huế Serene Restaurant, Les Jardins  de La Carambole,   Family Home Restaurant , DMZ bar và Ninás Cafe …  và 20 tiệm ăn khác  được xem là có   nhiều món ăn ngon hợp khẩu ngọai quốc , trong số 32 tiệm quốc tế duyệt xét đầu năm 2014.

Mạng lưới giao thông hòan chỉnh hơn đã  giúp  du lịch  Thừa Thiên – Huế tiến mau hơn nhiều.  Theo Võ văn Tùng  ( Nhớ Huế – 2006 )  Hầm  Hải Vân   khởi công xây cất thật sự  tháng 4 năm  2001, đã khánh thành  ngày 5 tháng  6 năm 2005 , cắt ngắn thời gia di chuyễn  hai vùng Huế –  Đà Nẳng, thay vì phải chờ đợi nhiều thời gian trên đèo, chỉ cần 8 phút  là xe đã qua khỏi đường hầm,  quẹo trái  về phía bải biễn Nam Ô, theo một  đại lộ  mới  xây sát bờ biển, chẳng mấy chốc  hành khách đã có mặt trên con đường  chính thành phố  Đà Nẳng là thành phố tấp nập  lớn nhất miền Trung. Hầm   xuyên đèo Hải Vân  là một trong 30 hầm hiện đại nhất thế giới,  công trình phi thường  của  1200  kỹ sư, chuyên gia , công nhân trong và ngòai nước , phí tổng  là 150 triệu đô la Mỹ USD thời đó . Chiều dài tổng cọng 12 km, ngắn hơn đường đèo  9km. Hầm chính thực sự dài 6280m, rộng 11.9m cao 7.5 m. Hầm Hải Vân  có 2 hệ thống : hầm phục vụ giao thông và hầm thóat hiểm  nhỏ hơn chạy song song, cách hầm chính 30m .  Ngoài ra còn có  15 đường hầm ngang, nối hầm chính và hầm thóat hiểm  đề phòng khi tai nạn làm  tắc nghẽn lưu thông.

Tỉnh Thừa Thiên Huế cách  Hà Nội 654 km , cách Sài Gòn – TP HCM  1051 km  và TP Đà Nẳng 85 km.  Về đường bộ trên hết là Quốc lộ 1A, chạy dài Nam Bắc ngang qua các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, TP  Huế, Hương Trà , Phong Điền. Các đường  cần bảo trì và cải thiện liên tục là  tuyến đường 68 , song song trục  chánh 1A, chạy dọc ven biển từ Phó Hội ( Cửa Việt- Quảng Trị ), cảng Thuận An ( có cầu Trừờng Hà  ? bắt ngang Phá  Tam Giang  mênh mông, hai bên nay là những vũng nuôi tôm )  đến Vĩnh Mỹ(  gần cửa Tư Hiền )  và  khúc đọan quốc lộ 14  xuyên suốt huyện A Lưới, từ đèo A Krong ( Quảng Trị )  đến  Thạnh Mỹ ( Giằng, Quảng Nam ) ngang qua A Lưới, A Sao ( A Sầu ), A Đót Thừa Thiên.  Đáng chú trọng là đường ngang số 49, nối Huế  với  miền núi phía Tây qua  các vùng lăng tẩm, đến Tà Lương  rồi Mạ Ơi, trước khi gặp  quốc lộ 14  gần A Lưới. Huế và Đà Nẳng  là những nơi xe lữa  Hà Nội- Sài Gòn ngừng chân  có nhà ga khang trang , xinh xắn.

               Mạng lưới đường sông phát triễn kém hơn, chỉ bó hẹp trong phạm vi tỉnh, vì sông ngòi ngắn, dốc.  Năm 2000, tỉnh có  202 thuyền máy chở hàng, 5 ca nô 200 ghế  và 278 thuyền chở khách.  Nên tân tiến hóa thêm các chuyến tàu đò  du lịch trên dòng sông Hương, có thể dạo khắp kinh thành, ngược dòng  sông đến rừng thông lăng Thiên Thọ – Gia Long hay xuôi dòng qua chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, lăng Minh Mạng  về tới  Thuận An, đạt  mức độ các sông đào  hay không Âu Châu, nhất là sông đào Thành Phố Venice – Venise  ra đến biển Đông, đến  cảng biển Thuận An,  đã xây dựng xong, rôi xuôi dòng về Nam dọc theo  biển  ngòai Phá Tam Giang đến cảng biển  Chân Mây , không biết  nay đã hòan tất chưa.  Hy vọng Chân Mây trong tương lai không những là một cảng chuyễn vận hàng hóa mà là một du cảng quốc nội và quốc tế, gần bải biễn đẹp Cảnh Dương  cát mịn dài đến 8 km,  rộng 200m, bải biển Lăng Cô  dài tới 10 km cạnh tuyến đường xuyên Việt ,Hành Lang Xanh du lịch  sinh thái dãy núi Bạch Mã, Đảo Sơn Chà( Sơn Trà ? ), đèo Hải Vân, Mũi Chân Mây, bán đảo Sơn Trà- Đà Nẳng  …

Phi trường quốc tế Phú Bài  cũng là phi trường  quốc nội  hành khách đông nhất, cách TP Huế 15 km về phía Nam, xếp hàng thứ tư các phi trường Việt Nam. Chánh quyền đã chấp thuận nâng cấp Phú Bài lên thành phi trường quốc tế, có nhiều chuyến bay liên lạc đến một số nước Á Đông.

 

    Lễ Hội Festival Huế

Nhờ  các cải tiến hạ tầng cơ sở  mà nay Huế  đã tổ chức được Lễ Hội  Huế- Festival thứ 8, bắt  đầu ngày  12 tháng 4-  2014 và chấm dứt  ngày 20 tháng 4 – 2014, có  26 ban văn nghệ  của 23 quốc gia  tham dự, trình diễn gia tài văn hóa du lịch, nghệ thuật liên quan tới  văn hóa lịch sử luôn cả văn hóa chánh trị nước nhà  và  các nước nữa . Thay vì chỉ có các lễ hội dân gian: lễ hội Điện Hòn Chén hai lần một năm  ( Xuân Tế tháng 2 và Thu Tế tháng7 ), lễ hội  Cầu Ngư  ở Thái Dương Hạ  vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm …  Năm 2014 cũng trùng với kỷ niệm  các sự nghiệp công trình xây dựng Huế  như  kỷ niêm 210 Năm   (  1804- 2014 ) tên gọi nước nhà  là Việt Nam, 115 năm cầu Trường Tiền  và  Chợ Đông Ba (  1899 – 1014 ), 120 năm  Bệnh Viện Huế ( nay là Bệnh viện Trung Ương) …  Ngòai trình diễn áo dài, Festival Huế thứ  8  ( nghĩa là đã 16 năm nay, 2 năm một lần ) còn tổ chức hai lễ hội dân gian- folk festivals,  chẳng hạn như  “ Hương Xưa Làng Cổ”  ở làng cổ Phước Tích,  huyện Hương Đìền, “Chợ Quê Ngày Hội”  ở làng cầu ngói – roofed tile  bridge ThanhTòan, thị trấn Hương Thủy.

 

         Các khu công nghiệp Phú Bài , Chân Mây

Công nghiệp Thừa Thiên-Huế cũng đã lợi dụng địa lý và tài nguyên phát triễn theo nhịp độ mau lẹ. Tỉ trọng  đã tăng nhanh từ 19. 7 % năm 1990 lên đến  30. 5 % năm 1999 .  Các công nghiệp chủ yếu là :  – thực phẩm và đồ uống : bia ( nhà  máy Bia Hue Brewery Ltd  có nhãn hiệu riêng Huế dễ công nhận, khởi sự đầu tư năm 1990,  đã có dung lượng  100 triệu lít/năm  năm 2007 ), nước giải khát, thủy hải sản đông lạnh , nước mắm, chế biến các nông sản cây trái  xứ Huế như quýt Hương Cần, mít, nhãn hột tiêu Huế , khế , cam Canh Nông Nguyệt Biều, hột sen  hồ Tĩnh Tâm hay quanh các hào ngọai Thành   …- công nghiệp dệt may: vải sợi , quần áo may sẳn, trang phục bằng da  và giả da … -công nghiệp vật liệu  xây dựng như  các lọai ngói , vôi , tập trung chủ yếu vào hai  xí nghiệp xi măng LongThọ  và công ty xi măngLUKSVASI  …- công nghiệp khai  khóang, khai thác đá , đát sét, cao lanh và một số quặng kim lọai và sau năm 2005 là suối nước khóang Mỹ An mới khám phá năm 2003. – tiểu công  nghệ thuật  như may áo dài- vietnamese long dress  ,chằm nón lá – conical hat bài thơ hay không,  đồ gốm ( gốm hoa lam Huế thóat thai từ gốm hoa lam thời Lê – Mạc, thế kỷ thứ  15- 17,  có nghệ thuật hội họa Huế  riêng Huế  hòa tấu ),  bàn ghế tủ giường, chạm khắc  gỗ, giấy mã, giấy nghệ thuật ….

Phát triễn Công viên Công Nghệ Phú Bài   và khu  Công nghệ Chân Mây là tương lai kinh tế  xã hội Huế.  Công viên công nghệ Phú Bài ở làng  Hương Thủy, cạnh quốc lộ 1A , phi trường quốc tế Phú Bài, đường xe lữa Thống Nhất ( Nam- Bắc), đã được thiết lập năm 1998. Diện tích 515 ha, phát triễn hạ tầng cơ sở  theo 4 giai đọan; nay đã xong  giai đọan 4,  thu hút 40 dự án công nghệ ngọai quốc đầu tư ( Hoa Kỳ,  Đan Mạch , Bulgary, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc … ) , được xem là 1 trong 5 khu công nghệ đẹp nhất nước .  Khu Chân Mây sẽ phát triễn ở thị trấn Chân Mây  và cảng biển sâu Chân Mây,  nay tàu  trên 30 000 tấn đã cập bến được,  ngòai các công nghệ  truyền thống sẽ  cố gắng chuyễn qua công nghệ cao kỹ, chế tạo, sửa chửa cơ khí, đóng  tàu thuyền , sản phẩm phần mềm điện tử…  cố tiến tới thành một trung tâm hoạt động các tin tức –  báo chí –  thông tin- truyền thông  quốc tế,  đảm trách hệ thống doanh vụ – dịch vụ, du lịch, tài chánh, bưu điện , viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, y tế,  giáo dục …

Cuối cùng,  Huế muốn  biến Viện đại học đa năng hiện tại thành một viện đại học tầm vóc quốc tế,  không chỉ riêng cho miền Trung như trước đây, tạo dựng một trung tâm khảo cứu khoa học công nghệ  đời sống mới,  tính chất và dung lượng  văn minh cao cấp.

 

( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ,  ngày 3 tháng 8 năm 2014 )

        

 

2 comments

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s