Hoàng Phù Hưng – Thoảng làn hương cũ

image001Kể từ khi dọn về khu Mobile park Royal Garden này, tôi có cảm tưởng như mình đương sinh sống tại quê nhà. Đây là nơi chỉ thu nhận những nguời đã trên 55 tuổi, nhưng cư dân phần lớn đã quá tuổi về hưu từ lâu và trong tổng số 152 căn, người Việt đã chiếm quá bán.

Vào buổi chiều , gió mát từ biển thổi về , giống như những cơn gió trong lành trên cánh đồng lúa xanh rì giữ ngày nắn Hạ . Ban đêm không nghe tiếng xe chạy , cũng chẳng có tiếng chó sủa trăng. Buổi sáng tuy không có tiếng gà đánh thức, nhưng có tiếng chim cu gáy điệp ba : Cúc cù cu.   cu .cu.cu của nhà hàng xóm cách đó mấy căn vang trong không gian vắng lặng.

Chúng tôi có thói quen đi bộ 2 vòng cư xá , dài chừng 3 cây số hay mất nửa tiếng đồng hồ. Không khí mát lạnh của sáng sớm đôi khi còn phảng phất vài giọt sương khuya. Vào giờ này nhà nào nhà nấy vẫn còn cửa đóng then cài, chỉ có một vài người đi bộ. Chúng tôi lặng lẽ bước đi và thỉnh thoảng đưa mắt nhìn những căn nhà nằm thong dong trên 7- 8 giẫy. Những căn nhà này kiểu cọ gần giống như nhau, họa chăng có khác ở mầu sơn và mấy cây hoa trồng trước cửa . Cứ nhìn vào đám cây này , chúng tôi có thể đoán biết nhà nào là người đồng hương với mình. Nếu có hoa sứ ( hoa đại ) phía trước, và ổi , nhãn táo tầu hay giàn bầu, bụi chuối sau hè, ắt hẳn phải là người Việt.

image002Riêng có một căn nhà , mỗi khi chúng tôi đi qua lai thấy thoang thoảng những làn hương quen thuộc. Có hôm thơm như mùi chuối chín, có hôm thoang thoảng nhưng không thể nào phân biệt được là thứ hương thơm của giống cây cỏ gì của chốn quê nhà. Gần 2 năm qua , mấy hôm nay mới thấy bóng dáng chủ nhân : một bà già người Thái gốc Việt . Bà cho biết bà ở Mỹ Tho, theo cha mẹ sang Thái Lan từ năm 6 tuổi, lấy chồng người Thái và ở khu này từ lâu. Mấy năm về trước , chồng bà qua đời và bà nay hiện sống với người con trai.

Khu đất 2 bên hông nhà chẳng có là bao , nhưng bà trồng đủ thứ cây như : ổi không hột, mãng cầu Nam Mỹ, hoa nhài ( Jasminium ) hoa ti gôn ( Antigonon) , hoa gừng Hawai (Hedychium gardnerianum) . Trong số các cây này tôi chú ý đến vài cây hơn cả , đó là   cây hoàng lan hay lan tiêu ( Canangium odoratum ) cây Móng rồng ( Artabotrys hexapetalus ) cây Dạ Hợp (Magnolia pumola andrews ) và một khóm hoa thiên lý (Telosma cordata ).

Những cây hoa này đã nhắc nhở cho tôi những kỷ niệm khó quên của quãng đời niên thiếu. Phải rồi , đây là những cây hoa đã được trồng trong vườn của cụ Nguyễn tất Tế, bác vợ tôi mà người ta thường gọi là cụ Tuần Nhật Lệ .

Ảnh : vi.wikipedia.org
Ảnh : vi.wikipedia.org

Vườn của cụ khá rộng, đầy rẫy những hoa thơm cỏ lạ ít khi thấy ở miền quê , nào là những cây lan tiêu, cây sấu ( Dracontomelon duperreanum) cao gần 20 thước và đặc biệt một cây na thân lá giống cây Cherimoya nhưng vỏ lại mầu nâu. Cây sấu lá xanh thẫm cho những quả lớn hơn quả nhãn một chút, vỏ sần sùi, khi còn xanh nấu với canh thịt ngon vô kể, nhưng khi  chín vàng mùi vị chua chua, ngòn ngọt đã làm cho các cô choai choai cho tới các bà nạ dòng dù chỉ mới trông thấy đã phải nuốt nước bọt .

Cây Lan tiêu cao cũng gần bằng cây sấu , tuy không ra quả nhưng cho bóng mát , hương thơm dịu ngọt từ những cánh hoa vàng bay theo chiều gió, thoang thoảng trong không gian làm cho tâm hồn càng thêm sảng khoái.

Cây móng rồng là môt giống thấp nhỏ , thân bò dài như giây leo , ít khi cao trên 2 thước. Hoa lá của cây này với cây lan tiêu hơi giống nhau về hình dáng , mầu sắc và hương thơm , cho nên nhiều người hay nhầm lẫn cây nọ với cây kia.

thoanglanhuongcu

Còn cây dạ hợp kể từ năm 1948 cho đến ngày nay, tôi ít khi thấy bóng dáng cây này tại miền Nam VN chứ đừng nói gì đến tại Hoa Kỳ. Cây cao từ 1-2 thước, lá xanh bóng và hơi nham nháp. Hoa đơn độc vỏ ngoài xanh mầu ngọc thạch, bên trong trắng toát, hương thơm dịu dàng khó tả.

Chủ nhân ngôi nhà này dường như bỏ mặc không tưới bón , cho nên cây thiên lý sơ xác cằn cọc, quấn quanh chiếc cột chống đỡ mái hiên, nhưng vẫn cố cho ra một vài chùm hoa nhỏ nhít, nhưng làn hương thơm ngọt ngào tỏa ra không thể nào nhầm lẫn được.   Khóm cây này làm tôi hồi tưởng lại bài thơ “ Nhà tôi “ của Yên Thao tức Nguyễn Bảo Thịnh . Bài thơ được truyền tụng rộng rãi khắp Liên khu 3 vào năm 1949, nguyên tác như sau :

                        Tôi đứng bên này sông

                        Bên kia vùng địch đóng
                        Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
                        Tre cau buồn tóc rũ ước mơ sương
                        Màu trắng vôi lờm lợp mấy khung tường
                        Nếp đình xưa người hỡi vui gì không ?

                        Tôi là anh lính chiến
                        Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng
                        Buông tay gầu vui lại thuở bình mong
                        Ghì nấc súng nhớ ơi ngày chiến thắng
                        Chân có mỏi trên nẻo đường vạn dặm
                        Áo nào không phai không xót chút hào hoa

                        Ðêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
                        Sông sâu buồn lấp lánh ánh sao thưa
                        Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
                        Tuổi chớm đôi mươì cưới buổi dâng cờ
                        Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín

                        Ai đi qua mà chẳng từng bịn rịn
                        Rời đau thương nào đã mấy ai vui ?
                        Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
                        Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

                        Tôi còn người mẹ
                        Tóc đã ngã màu bông
                        Tuổi già non thế kỷ
                        Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong
                        Nắng mưa từ buổi tang chồng
                        Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

                        Thôi xa rồi ! Mẹ tôi
                        Lệ nhòa mi mắt trông con phương trời
                        Có từng chợt tỉnh đêm vơi
                        Nghe ròn tiếng súng nhắc lời chia ly !
                        Mẹ ơi ! Con mẹ tìm đi
                        Bao giờ hết giặc , con về mẹ vui

                        Ðêm nay trời lành lạnh
                        Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
                        Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
                        Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
                        Làng tôi kia bên trại thù quạnh quẽ
                        Nằm im lìm như một nắm mồ ma
                        Có còn không Em hỡi Mẹ tôi già ?
                        Những người thân yêu khóc buổi tôi xa

                        Tôi là anh lính chiến
                        Theo quân về giải phóng quê hương
                        Mái đầu xanh đầy bụi viễn phương
                        Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.

                        Này anh lính chiến
                        Người bạn pháo binh ơi
                        Ðã đến giờ chưa nhỉ ?
                        Mà tôi nghe như trại giặc tan tành

                        Anh rót cho khéo nhé !
                        Không lại nhầm nhà tôi
                        Nhà tôi ở cuối thôn đoài
                        Có giàn thiên lý
                        Có người tôi thương.

image004Sau đó bài thơ này đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với tựa đề “ Chuyện giàn hoa Thiên Lý”

                        Tôi đứng bên nầy sông, bên kia vùng lửa khói .
                        Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
                        Từng lũy tre muộn phiền.
                        Tôi có người vợ ngoan .
                        Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau .

                        Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.
                        Má nàng hồng thơm mùi thơm lúa non .
                        Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
                        Xa người yêu mà dễ mấy ai vui .

                        Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi .
                        Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
                        Này anh lính chiến, người bạn pháo binh .
                        Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn.

Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi .
Nhà tôi ở cuối chân đồi,
Có giàn thiên lý, có người tôi thương. . .

image005Vào năm 1947, nhà tôi ở giữa “ vùng xôi đậu “ của đồng bằng Bắc bộ, bên kia cánh đồng cũng là đồn quân Pháp, nhà tôi cũng có giàn thiên lý chiều dài 9-10 thước, ngang rộng 2 thước. Tôi cũng có người mẹ tóc bạc phơ và người vợ trẻ , ngoan hiền . Vợ tôi vẫn thường hái hoa thiên lý để sào với thịt bò hoặc hái những lá non nấu canh cá rô hay cá diếc. Đêm đêm mẹ tôi và vợ tôi thường giật mình tỉnh giậy khi con tôi khóc thét lên vì tiếng đại bác của Pháp bắn vu vơ từ đồn chợ Thi vọng về.

Hồi đó khu nhà tôi ở, một nửa bị trưng thu một nửa làm trại giam đủ mọi thành phần còn chúng tôi cũng giống như hàng trăm ngàn thanh niên yêu nước khác cùng thời, đều thoát ly gia đình đi theo kháng chiến chống Pháp . Nhưng cuộc Rèn Cán, Chỉnh Quân năm 1948 đã không dung tha bọn người không phải là “tam đại bần cố nông” như chúng tôi. Những người nhanh chân chạy vào thành còn bảo toàn được mạng sống, người kém may mắn không đào thoát đi được như: Văn Cao,Trần Dần, Quang Dũng, Dũng Chinh, Hoàng Cầm, Việt Lang, Hữu Loan và biết bao nhiêu người khác chịu cảnh hạ từng công tác , trù dập nặng nề, tù đày hay bị thủ tiêu mất tăm, mất tích. Nhà thơ Yên Thao với bài thơ kể trên chắc cũng không thoát khỏi bị “ hạ tầng công tác “ nếu không chịu cúi đầu nhận tội làm bài thơ rằng hay thì thực là hay , nhưng ủy mị , sặc mùi “Tiểu tư sản “, làm nản lòng chiến sĩ.

Thế rồi bom đạn của thực dân Pháp và kế hoạch Tiêu thổ kháng chiến để bần cùng hóa nhân dân, khu nhà tôi ở đã bị phá tan thành bình địa .

Năm 2000 chúng tôi trở về thăm lại nơi xưa chốn cũ, ngoại trừ cây gạo bên giếng nước ven đường và chiếc ao một mẫu trước cửa, chúng tôi không còn nhận ra một chút vết tich nào của ngôi làng xưa cũ . Trên mảnh đất của cha mẹ tôi là nơi 18 gia đình chen chúc. Ngôi nhà với giàn hoa thiên lý, đêm đêm thoảng đưa làn hương thơm dịu vào tận chốn tân phòng nay chỉ còn là mấy gian nhà tranh ọp ẹp và một đám khoai sọ nước xanh rì.

Dinh cơ của cụ Tuần Nhật Lệ cũng không còn một mảnh gạch vụn, cụ bị đem ra đấu tố và bị bỏ đói khát cho đến chết. Dân làng tuy nhớ ơn cụ đã mở mang đường xá, giếng nước, xây đình chùa , trường hoc, chợ búa, và cưu mang dân làng sống sót qua nạn đói năm Ất Dậu, nhưng trước uy quyền sinh sát của đội Đấu Tố, không ai dám tiếp tế cho cụ dù rằng chỉ một bát nước nhỏ. . .

Ngày nay dù rằng sinh sống trên đất Hoa kỳ đầy rẫy những hoa thơm cỏ lạ, nhưng chúng tôi và chắc chắn cũng như nhiều người tỵ nạn khác vẫn còn thấy những làn hương cũ phảng phất đâu đây .

 

Hoàng phù Hưng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s