Nguyễn Đức Hiệp – Hữu Loan và Màu Tím Hoa Sim

huuloan-1Tôi được đọc bài “Màu Tím Hoa Sim bản nào là đúng nhất?” của nhà thơ Nguyễn Minh Hùng trên mạng vanchuongviet (mạng văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long trước đây). Bài viết rất súc tích làm tôi chú ý vì ba lý do. Một là nội dung về bài thơ “màu tím hoa sim” mà hầu như người Việt nào cũng rung động và cảm xúc trước bi kịch đau đớn của nhà thơ, một người lính chinh chiến trong kháng chiến chống Pháp, vào “một chiều rừng mưa”, hay tin người vợ trẻ chết đuối ở hậu phương. Bài thơ này được xem là bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20, cuối năm 2004 công tyVitek mua bản quyền với giá kỷ lục ở Việt Nam. Lý do thứ hai, tôi có đọc trước đây bài của ông Trịnh Hưng đăng trên báo Khởi Hành, số 167 tháng 9, 1997 – do một người bạn gởi cho tôi – về bài thơ Màu Tím Hoa Sim mà nhà thơ Hữu Loan chép tặng cho Trịnh Hưng khi tác giả đến thăm ông ở Thanh Hóa. Sau cùng, vì tôi cũng có may mắn gặp được nhà thơ Hữu Loan vào đầu năm 1988 ở Saigon khi ông ghé nơi này. Thật là dịp hiếm có, vì hầu như ông không đi đâu xa ngoài chốn quê hương Thanh Hóa trong những năm 80. Vì thế tôi đã đọc kỹ, xem có sự khác biệt hay không giữa bản của công ty Vitek với các bản mà vào những gặp gỡ tình cờ, Hữu Loan viết tặng cho những ai quý mến tài và hiểu biết sự gian nan của ông trong đời.

Các bản ông viết từ trước đến nay không khác gì nhiều, chỉ một vài chữ thêm bớt hay hơi khác (như “lớn lên” thay vì “nhớn lên”, “ví” thay vì “hát”). Với một bài thơ viết từ trong đau khổ và theo ông suốt cuộc đời, tôi tin ông khó quên, không chỉ lời thơ, mà cả trạng thái đau đớn yêu thương đầy tiếc nhớ ấy.

Họa chăng không loại bỏ trường hợp là chúng ta đã  chép sai hoặc thay đổi để hợp với thể thơ, thể nhạc mình yêu thích. Vì thế dẫn đến nhiều dị bản cũng như đã có nhiều nhạc sĩ phổ thơ của ông một cách khác nhau mà thôi. So sánh với bản của công ty Vitek (http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=59258&ChannelID=10) bài thơ anh Nguyễn Minh Hùng đăng trên mạng vanchuongviet, có thiếu một dòng (ghi trong ngoặc)

 

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

(Những đồi hoa sim)

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

 

image001Tôi cũng rất tâm đắc bài viết của anh Nguyễn Minh Hùng về những phân tách tình cảnh và sự rung động của người yêu bài thơ. Trước 1975, ở miền Nam bài “Màu tím hoa sim” được đưa vào chương trình học bậc trung học lớp đệ nhị (lớp 11) trong chương về thơ lãng mạng, như Vũ Đức Sao Biển đã đề cập. Thế hệ  thanh niên thời đấy đều tiếp cận với bài thơ cũng như hoàn cảnh của  Hữu Loan trong  giai đoạn Nhân Văn Giai Phẩm.

Nhạc sĩ và nhà văn nhà thơ Vũ Đức Sao Biển, đầu năm 1997 viết một bài tựa đề “Một Đoạn Biên Tập Trong “Màu Tím Hoa Sim”, nói về một bản chép tay của nhà thơ Hữu Loan tặng cho cô Phương tại Đà Nẵng vào tháng 12, 1989  với lời đề tặng “Chép tặng cô Phuơng một tâm hồn, một vấn đề làm mất ngủ những luơng tri.” Bài “Màu Tím Hoa Sim” mà Vũ Đức Sao Biển ghi lại cũng giống như bản anh Trịnh Hưng và tôi có, chỉ thiếu 4 dòng cuối.

Một người bạn văn cho biết bản chị chép tay tặng nhau thời còn nhỏ ở miền Nam thiếu nhiều so với bản của Hữu Loan cho tôi. Dẫu vậy, Màu Tím Hoa Sim là môt bức tranh đẹp mơ màng, mang lại nhiều cảm xúc khác nhau, nhưng đại đa số người Việt đều có suy nghĩ và tình cảm nhất định đối với một số đề tài/nhân vật nhất định. Tôi tin tưởng Hữu Loan ở trong trường hợp này.

Đầu năm 1988, lúc tôi về Saigon, được gặp giáo sư Lê Văn Hảo. Qua một người bạn ở Úc, ông cho biết nhà thơ Hữu Loan đang có mặt ở Saigon tại nhà một người bạn và rủ tôi tới thăm. Thời gian ấy tôi còn phụ trách tờ báo Đất Nước của Hội người Việt Nam ở Úc. Hôm ấy chúng tôi gặp nhà thơ Hữu Loan cùng một số anh chị em nghệ sĩ. Tôi nhớ, họa sĩ Đỗ Quang Em đang phác họa bằng bút chì chân dung của nhà thơ Hữu Loan. Gặp tác giả của những bài thơ nổi tiếng trong thời kháng chiến chống Pháp như “Đèo Cả”, “Yên Mô “, Hoa Lúa”, “Màu Tím Hoa Sim”… là một vinh dự. Tôi thật xúc động lẫn cảm phục về tài năng và cuộc đời đầy gian truân của nhà thơ mà thế hệ chúng tôi đều biết. Hôm đó Hữu Loan đã viết trên mấy tờ giấy vẽ của hoạ sĩ Đỗ Quang Em bài thơ “Màu tím hoa sim” đề tặng kiều bào Úc. Toàn bài thơ ấy và lời ghi chép của ông, tôi đã đăng trong báo Đất Nước tháng 4, 1988.

 

Điều nhân bản trong Màu Tím Hoa Sim, dù đau xót trong bi cảnh trớ trêu, Hữu Loan không một lời oán hận định mệnh oái oăm.  Ông lặng lẽ trút vào thơ nỗi đau đành đoạn. Biến nỗi đau của riêng mình thành nỗi đau chung của những người trai thời ly loạn.  Nỗi đau ấy rất thật đến nỗi người yêu thơ ông cứ tưởng mình cũng đang mất người thân. Có ai ngờ được ngày vui nhất của cuộc đời con gái chỉ có mỗi bình hoa, nàng không đòi may áo cưới, mặc dầu thuộc gia đình khá giả.  “Chiếc bình hoa ngày cưới” sau đó được đặt ngay cạnh mộ người vợ trẻ, Ở chiến khu, được tin vợ mất, ông trở về làng quê, chỉ còn lại bình hoa. Bình hoa ấy ngày nay ông vẫn giữ trên bàn thờ. “Em ơi, giây phút cuối cùng không được nghe em nói, không được trông nhau một lần” . Ông và mẹ nàng cùng khóc. Những giọt nước mắt muộn màng, không xua nổi bóng tối vây quanh nấm mộ.

Trước khi lấy cô Lê Đỗ thị Ninh, Hữu Loan có dạy kèm cô Ninh và được gia đình ông bà Lê Hữu Kỳ yêu mến như con ruột. Vì thế tình cảm ban đầu với nàng như ngừơi anh với em gái “… yêu nàng như tình yêu em gái”.

Trong ba người anh của vợ ông, thì người anh cả, Lê Đỗ Khôi, mất trong trận đánh ác liệt gần đồi Him Lam ở chiến trường Điện Biên Phủ. Người anh trai thứ hai, Lê Đỗ Nguyên, cũng tham gia trong trận đánh Điện Biên và sau này chính là trung tướng Phạm Hồng Cư, và người anh thứ ba Lê Đỗ An có tham gia kháng chiến nhưng không phải bộ đội tham dự trận đánh Điện Biên. Từ chiến trường, hai ông Khôi và ông Nguyên nhận được tin em gái mất qua một người bạn, trước khi  biết tin em lấy chồng. Hai ông nén buồn tiếp tục tham gia chiến dịch và hẹn sẽ gặp nhau lại lúc hoà bình. Nhưng ông Khôi cũng một đi không trở lại, ông cũng nằm lại đâu đó nơi rừng núi Điện Biên.

Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, bài thơ nuôi sống nhiều thế hệ, nhờ ghi lại không chỉ nỗi đau khôn xiết của tử biệt sinh ly, còn vẽ lại hình ảnh đẹp của những ngưòi trai lao mình vào lửa đạn, súng trong tay và hình ảnh người yêu tràn ngập trong tim.

 

Phụ lục

Bài Màu Tím Hoa Sim  Hữu Loan chép tặng kiều báo Úc  (2/1988)

 

Màu tím hoa sim

(Khóc vợ Lê Đỗ-thị-Ninh)

 

Nàng có 3 người anh

đi bộ đội

những em nàng

có em chưa biết nói

Khi tóc nàng

xanh

xanh

 

* * *

Tôi người vệ quốc quân

xa gia đình

yêu nàng

như tình yêu em gái

ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giầy đinh bết

bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

cưới nhau xong là đi

 

* * *

Từ chiến khu xa

nhớ về ái ngại

lấy chồng đời chiến chinh

mấy người đi trở lại

nhở khi mình không về

thì thương người

vợ chờ

bé bỏng

chiều quê

* * *

Nhưng không chết

người trai khói lửa

mà chết người

gái nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng

má tôi ngồi bên mộ con

đầy bóng tối

chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương tàn lạnh

vây quanh

* * *

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi ! giây phút cuối

không được nghe nhau nói

Không được trông nhau một lần

* * *

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa đèn khuya

bóng nhỏ

nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa … !

* * *

Một chiều rừng mưa

ba người anh,

từ chiến trường Đông Bắc

biết tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về

rờn rợn nước sông

đứa em nhỏ nhớn lên

ngỡ ngàng

nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng

chân mộ chí

 

* * *

 

Chiều hành quân

qua những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

dài

trong chiều không hết

màu tím hoa sim

tím

chiều hoang biền biệt

 

* * *

Có ai hát như từ chiều

ca dao nào

xưa xa

“Áo anh sứt chỉ đường tà

vợ anh chưa có

mẹ già chưa khâu”

* * *

Ai hát vô tình hay

ác ý với nhau

chiều hoang tím

có chiều hoang biết

chiều hoang tím

tím thêm màu da diết

nhìn áo rách vai

tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà,

vợ anh mất sớm..

* * *

Màu tím hoa sim

tím tình tang

lệ rớm…

 

* * *

 

Ráng vàng ma và

rừng rúc điệu quân hành

vang vọng chập chờn

theo bóng những binh đoàn

biền biệt hành binh

vào thăm thẳm

chiều hoang màu tím

 

* * *

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ

dù lâu  …(Hữu Loan 1949)

 

One comment

Đã đóng bình luận.