Dr. Trần Thủ Danh – „Frankenstein Food“ – Ân huệ hay đại họa?

image004Chắc một số lớn anh chị em  vẫn còn nhớ đến phim „Frankenstein“+1), chuyện khoa học gia Dr. Frankenstein đã lấy những bộ phận cơ thể của xác chết, ráp nối lại và dưới tác dụng của điện năng từ tia chớp rạch trời trong một đêm giông bão đã tạo ra được một người, một sinh vật sống. Nhưng rồi sau đó ngoại cảnh bất trắc đã khiến con „người nhân tạo“ thoạt đầu vô tâm, khờ khạo thành một „quái vật/monster“ giết người, gây bao nhiêu tang tóc. Chính trong ẩn ý „nhân tạo“, qua mặt tạo hóa, cùng với „ác tính, quái vật“ của câu chuyện Frankenstein mà chúng ta có danh từ „Frankenstein Food“, một từ ngữ có tính cách chê bai/chỉ trích/đánh giá thấp, được dùng bởi những hội đoàn/cơ quan chống đối+2) để chỉ những sản phẩm, những thức ăn biến chế liên quan đến phương pháp phối hợp yếu tố di truyền (=Gentechnik/Genetic engineering/công nghệ di truyền học?!)+3)

Sự thật như thế nào và thực phẩm „bị biến đổi yếu tố di truyền“ (sau đây viết tắt là „GMO“=genetically modified organism) nên được xem là „ân huệ“ hay „đại họa“  trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại? Sau đây đôi điểm về sự thành hình/sản xuất, về điều hay/tính xấu của thực phẩm GMO để chúng ta cùng bàn luận.

 

Thực phẩm GMO

Với sự tiến bộ nhanh chóng của ngành Sinh học Phân tử (Molekularbiologie) người ta lần biết rõ được thành phần, cấu trúc của yếu tố di truyền (=Gen/Gene, sau đây dùng từ ngữ „Gen“) ở người, thú cũng như cây cỏ. Trên bình diện Sinh hóa học (Biochemie) đó là những phân tử DNA+4) có cấu tạo/tính chất đặc thù nằm liền nhau theo một thứ tự nhất định trên nhiễm thể trong nhân tế bào sinh vật. Gen cho một đặc điểm như da vàng/da trắng ở người, độ ngọt/độ chua của trái quả, màu hường/màu trắng của bông hoa… được định bởi một phần/một đoạn trên sợi DNA. Trong công nghệ di truyền học (sau đây dùng danh từ „Gentechnik“) những kiến thức trên được dùng để

  • xác định tính chất cũng như vị trí của Gen cho một đặc điểm trên sợi DNA (® Gen-Identifikation) thí dụ Gen tạo tinh bột, tạo Lectin để chống côn trùng,…
  • phân cắt/tách rời Gen chọn lựa (® Gen-Isolierung)
  • phối hợp Gen chọn lựa vào một phương tiện chuyển nạp/mộtVektor trung gian+5) (® Gen-Rekombination)
  • chuyển đưa Gen chọn lựa qua Vektor trung gian vào sinh vật/thực vật nhận (® Gen-Transformation)
  • kích thích/phát động sự tăng trưởng của sinh vật/thực vật GMO có chứa Gen chọn lựa (® Gen-Expression) và như vậy người ta tạo lập được cây/thú GMO (=cây/thú „transgen“)

Kết quả quá trình khảo cứu trên đã giúp khoa học gia xác định/phân tách/kết hợp được một số Gen điều chỉnh/cấu tạo những tính chất/đặc điểm thích hợp,  đặc biệt trong lãnh vực nông nghiệp:

a)       Gen cãi tiến phẩm chất thực phẩm,chẳng hạn

  • Gen cấu tạo dầu, chất béo thực vật
  • Gen hỗ trợ sự cấu tạo thành phần Amylopektin của tinh bột (Stärke/starch/amidon) ở khoai tây (Kartoffel/potato), thích hợp cho việc chế tạo những sản phẩm kỹ nghệ như keo, giấy bao mỏng (Folien), vật liệu bao bọc/chuyên chở (Verpackungsmaterial/ Packaging material), ….
  • Gen gia tăng lượng acít amin khẩn yếu Tryptophan, Lysin (như ở bắp với „high-lysin LY038-Mais“)
  • Gen cấu tạo Fruktan và Inulin ở khoai tây, những chất được xem có lợi trong vấn đề sức khỏe
  • Gen tạo nên những diếu tố cần thiết (Phytoensynthase, Lycopencyclase, Desaturase Crt1) cho sự cấu tạo ß-Carotin (® tiền sinh tố A) ở lúa „Golden Rice“
  • Gen tạo diếu tố Polygalacturonase (® phân hóa màng tế bào làm trái Tomate mềm ra).  Sự hiểu biết Gen nầy giúp người ta tạo ra một Gen đối xứng nghịch chiều (Negativkopie), một „Anti-Sense-Gen“, ngăn chận quá trình làm trái mềm, mau hư. Với Anti-Sense-Gen nầy cà tô-mát GMO “Anti-Masch-Tomato/Flavr-Savr-Tomato” giữ lâu được tạo lập.
  • v.v…………..
  • v.v…………..

b)      Gen cấu tạo chất chất đối kháng với côn trùng, với thuốc diệt trừ cỏ dại,chẳng hạn

  • Gen tạo ‚Protein Bt’ từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis. Protein Bt+6) là độc tố đối với một số côn trùng sâu bọ  (nhưng không đối với người). Thực vật GMO được chuyển Gen Bt có khả năng đối kháng lại sự phá hại của côn trùng sâu bọ. Gen nầy được dùng nhiều ở „bắp-Bt/Bt-Mais“ để chống lại sâu Maiszünzler (corn borer ® ấu trùng của loại bướm=Motte Ostrinia nubialis) cũng như ở cây bông gòn (Baumwolle/cotton)

image001

  • Gen tạo Lectin  GNA+7) (Galanthus Nivalis Agglutinin) chống lại côn trùng và Nematoden từ củ/rễ của cây bông Schneeglöckchen (snowdrop)
  • Gen tạo diếu tố/Enzym Chitinase làm hư hại màng tế bào nấm mốc, đặc biệt mốc sương (Mehltau/mildew, blight/blanc) và mốc Grauschimmel (gray mold/botrytis)
  • Gen tạo ra diếu tố PAT-Enzym (Phosphinothricin-Acetyl-Transferase) từ vi khuẩn Streptomyces viridochromogenes trong đất chống lại được thuốc diệt trừ cỏ dại Phosphinotricin Basta cũng như  Glufosinat (® LibertyLink)+8)
  • Gen tạo ra diếu tố CP-4 EPSP-Synthase từ Agrobacterium tumifeciens chống lại thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat (® RoundUp)+8)
  • Gen tạo nên vỏ Protein của siêu vi khuẩn (® Virushüllprotein) được đưa vào củ cãi đường (Beta vulgaris/Zückkerrübe) để  cây đề kháng/„miễn nhiễm“ lại Virus gây bịnh Rhizomania (Wurzelbärtigkeit) ở củ cãi đường
  • Gen tạo ra Protease-Inhibitoren làm hại côn trùng sâu bọ
  • v.v………

c)       Gen tạo hoạt chất (Wirkstoffe/active agents), diếu tố/kích thích tố (Enzyme/ Hormone), dược phẩm chẳng hạn

  • Gen tạo diếu tố Chymosin+9) dùng trong kỹ nghệ làm „phó-mát“ (Käse/cheese/ fromage) từ màng ruột thú được chuyển nạp vào men (Hefe/yeast/ levure)
  • Gen tạo Lactoferrin và Lysozyme được chuyển nạp vào lúa (rice), lúa mạch (barley)
  • Gen cũng như „đoạn Gen/Gensequenz“ (® Promotor) hỗ trợ sự tạo sinh tố (B2, B12,…), diếu tố (alpha-Amylase, Nisin, Lysozyme, …) được chuyển nạp vào những vi sinh thích hợp (thí dụ: vi khuẩn Bacillus subtilis, nấm Ashbya gossypii cho sinh tố B2; vi khuẩn Lactobacillus lactis cho Nisin,…) để vi khuẩn nầy cấu tạo sinh tố, diếu tố, dược phẩm liên hệ
  • Gen tạo chất có dược tính (Antithrombin, Insulin,…) được chuyển nạp vào tế bào thực vật cũng như thú để tạo lập dược phẩm chọn lọc (® Gene Pharming/Molecular Pharming)
  • v.v………………..

Những kiến thức khoa học trên đã được thực hiện trong đời sống thực tế và ở lãnh vực canh nông, theo tài liệu tính đến năm 2004, 17 quốc gia trên thế giới đã canh tác cây GMO trên diện tích 81 triệu héc-ta. Quốc gia trồng thực vật GMO nhiều nhất là Mỹ với gấn 50 triệu héc-ta và sau đó là Á-Căn-Đình (Argentina) với khoảng 16 triệu héc-ta.

image002

Mặc dầu đến hiện tại có trên 2000 loại cây (Variante) được chuyển nạp Gen tạo nên tính chất đặc thù (® thường được gọi là „Events“), nhưng phần lớn vẫn ở tình trạng thí nghiệm/kiểm chứng trong Lab/phòng thí nghiệm hoặc rộng rãi hơn là thí nghiệm ngoài trời (Freisetzungsversuch/field trial). Chính thức được phép trồng trọt/canh tác thương mãi chỉ dành cho một số ít cây GMO thông dụng và tùy thuộc quyết định của từng quốc gia riêng rẽ.  Sau đây một số thực vật GMO được chính thức cho phép canh tác và do đó liên hệ không nhiều thì ít trong nếp sống thường nhật của chúng ta

  • Bắp/ngô-Bt với Gen tạo Bt-Protein chống lại sâu Maiszünzler cũng như bắp GMO chống lại thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/Glufosinat. Tùy theo Gen được dùng (có khoảng 243 Gen tạo Bt-Protein khác nhau) người ta có những loại bắp-Bt (®Variante) khác nhau . Ở Mỹ có khoảng 20 loại bắp-Bt được chính thức cho phép canh tác. Riêng ở Đức chỉ có loại bắp-Bt MON 810 của hãng Monsanto được phép trồng thương mãi. Trực tiếp thâu nhận bắp-Bt/GMO nầy là gia súc qua thức ăn. Trong lãnh vực thực phẩm  cho người, sản phẩm được dùng và bán trên thị trường ngoài bột bắp làm bánh, thường là sản phẩm ép/biến chế từ hạt bắp như dầu, tinh bột/si-rúp… (những sản phẩm trên nguyên tắc không khác gì dầu, tinh bột/sirup tinh lọc từ bắp thường).
  • Đậu nành Soja đề kháng thuốc chống cỏ dại Glyphosat (® Roundup-Ready-Soja):  phần lớn dùng làm thực phẩm gia súc. Trong kỹ nghệ thực phẩm cho người những sản phẩm biến chế từ đậu Soja GMO là protein, dầu, Lecithin dùng nhiều trong kỹ nghệ làm bánh (Backwaren/backery products/pâtisserie)
  • Củ cãi đường đề kháng lại được thuốc chống cỏ dại Glyphosat/Glufosinat. Đường trắng (Saccharose) tinh lọc từ củ cãi đường nầy không khác gì đường thường.
  • Khoai tây loại Amflora (BASF Plant Science) với tinh bột có thành phần Amylopektin cao (80%) dùng điều chế giấy, keo dán,… đang chờ đợi được EU chính thức cho phép canh tác trong năm 2007. Khoai tây Amflora chỉ nhầm dùng làm nhiên liệu cho kỹ nghệ vật dụng và không được dùng trong lãnh vực thực phẩm
  • Tô-mát lâu hư, chín chậm: thực tế vì không ngon như tô-mát thường nên tô-mát GMO chỉ được dùng để làm Ketchup, tô-mát hộp (xay nhuyển/Puree)
  • Bông vải (Baumwolle/cotton) đề kháng lại sâu phá hại và thuốc diệt trừ cỏ dại. Trong lảnh vực thực phẩm cho người chỉ có dầu tinh lọc từ hạt bông vải được dùng để chiên và đặc biệt để làm Magarine
  • v.v………..

 

 

Tình trạng canh tác cây trồng GMO

 

Thực vật GMO Mục tiêu canh tác Chính thức được phép*) Phụ chú
trồng thí nghiệm ngoài trời canh tác/ dùng sản phẩm
Đậu tương Soja (Glycine max) ·   đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat

·   cãi tiến phẩm chất (thành phần acít béo)

EU (18), USA (1080), CND (166), Á Căn Đình, Ba Tây, … EU (1), USA (6), CND (4), Á Căn Đình, Ba Tây,… Ở Âu Châu thật sự chưa được trồng. Sự cho phép chỉ nhầm nhập cảng và dùng biến chế thực phẩm cũng như làm thức ăn gia súc
Bắp/ngô ·   đề kháng sâu bọ, thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat

·   cãi tiến phẩm chất (thành phần tinh bột)

EU (728), USA (5800), CND (280), Á Căn Đình (387), Tân Tây Lan (2),… EU (19, nhưng thật sự chỉ có 3 được phép canh tác), USA (21), CND (22), Úc (12), Trung hoa (8), Nga (3), Đại Hàn (4), Nhật (4), Á Căn Đình, Nam Phi,… Ở Âu Châu bắp GMO là cây trồng duy nhất chính thức được phép canh tác, nhưng thực tế đến 2006 chỉ có 5 quốc gia ở châu nầy trồng bắp GMO. Ở Đức chỉ có bắp Bt loại/Variante MON 810 được phép trồng
Cây dầu Raps/ colza ·   đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat

·    cãi tiến phẩm chất  (thành phần acít béo)

EU (385), CND (1741), USA (232), Á Căn Đình (8), … EU (7), USA (10), CND (13), Nhật (11), Úc (7), Trung hoa, Phi Luật Tân,  …. Ở Âu Châu việc canh tác thương mãi vẫn chưa có. Được trồng nhiều nhất ở Gia Nã Đại
Khoai tây ·   đề kháng lại nấm mốc

·   cãi tiến phẩm chất  (thành phần tinh bột)

EU (281), USA (769), CND (473), Á Căn Đình (20), Úc, … USA (4), CND (4) Ở Âu Châu chưa có việc canh tác thương mãi (2 đơn xin phép đã được nộp và có thể được chấp thuận bởi EU trong năm 2007)
Củ cãi đường ·   đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat

·   đề kháng lại bịnh gây bởi Virus

EU (290), USA (193), CND (54), Á Căn Đình, Nhật,… USA (3), CND (2), Úc (2),…. Ở USA chỉ được phép trồng thí nghiệm giới hạn; ở Âu Châu canh tác thương mãi sớm lắm vào năm 2010
cây bông vải ·   đề kháng sâu bọ, thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/   Glufosinat

·   thích ứng nơi trồng bất lợi

EU (54), USA (796), Á Căn Đình, Nhật,… EU (5), USA (12), Á Căn Đình, Trung Hoa, Ấn Độ,… Ở Âu Châu chưa được phép canh tác thương mãi
Lúa mì, lúa mạch ·   đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat/ Glufosinat

·   đề kháng lại nấm mốc

·   cãi tiến phẩm chất

EU (6), USA (61), CND (6), … chưa được phép chính thức canh tác Năm 2004 hãng Monsanto đã rút đơn xin trồng lúa mì “Roundup-Ready-Wheat”; chưa có triển vọng trong tương lai
Cà tô-mát ·   cãi tiến phẩm chất: lâu hư thối EU (75), USA (560), CND (7), Mễ Tây Cơ (28), Trung Hoa, Ấn Độ,…. USA (6), CND (4), Mễ Tây Cơ, … vì vị ngon ngọt xấu nên ngay cả ở Mỹ không được dùng để ăn trái tươi, chỉ dùng để làm Ketchup, tô-mát hộp. Ở Đức không có sản phẩm làm từ tô-mát GMO nầy
Đu đủ (carica papaya) ·   đề kháng lại Virus hại cây (Papaya Ringspot Virus)

·   đề kháng lại vi khuẩn và côn trùng

·   cãi tiến phẩm chất (chín chậm)

USA (25), CNA, Trung Hoa,… USA (1), CND (1) Ở Âu Châu canh tác cũng như thương mãi sản phẩm không được phép
*) số trong ngoặc = số lượng cây GMO (Variante/Events) được cho phép trồng thí nghiệm ngoài trời (Freisetzungsversuche/Field trials) và được phép canh tác thương mãi (cũng như được phép dùng sản phẩm). EU= Cộng Đồng Âu Châu; USA=Mỹ/Hoa Kỳ; CND=Gia Nã Đại

Tài liệu trích dẫn: K. Dorsch; Top Agrar 9/2006 cũng như từ:  http://www.transgen.de

 

Những thực vật GMO khác tuy được khảo cứu/thí nghiệm nhiều, nhưng thực tế chưa được chính thức trồng thương mãi từ ngũ cốc GMO như lúa mì (Weizen/wheat/blé), lúa mạch (Gerste/barley/orge), lúa LL Rice 62 đề kháng thuốc diệt trừ cỏ dại cũng như sâu phá hại cho đến lúa với Gen tạo lập ß-Carotin (® tiền sinh tố A).

Nhìn kỹ tình trạng cây GMO được phép canh tác, chúng ta có thể kết luận thực phẩm tươi GMO vẫn chưa có mặt ở các quầy hàng, siêu thị nhất là ở Âu Châu (ngoại trừ đu đủ và Zucchini vàng ở Mỹ), dầu là qua báo chí, ti-vi, truyền thanh chúng ta có cảm tưởng như là thực phẩm GMO đang  đầy dẫy trong phần ăn hằng ngày của chúng ta.

 

Điều hại/điểm lợi của thực phẩm GMO

Mọi sự việc đều có hai mặt trái/phải. Thực vật – và do đó  thực phẩm – GMO cũng vậy! Nếu qua cây trồng GMO

  • tính chất sản phẩm được cãi thiện (lượng cũng như phẩm) – và cãi thiện nhanh chóng – theo mục tiêu mong muốn
  • sự canh tác được dễ dãi, thuận lợi qua biện pháp bảo vệ mùa màng chống lại côn trùng/sâu bọ, diệt trừ cỏ dại

thì ngược lại cây trồng GMO cũng đưa ra nhiều câu hỏi không phải chỉ trên bình diện canh tác, dinh dưỡng mà còn cả trên bình diện môi sinh, kinh tế, xã hội, đạo đức/tôn giáo. Thực tế cây/sản phẩm GMO có mặt trên thị trường đều phải trãi qua nhiều giai đoạn trắc nghiệm – đặc biệt phải được xác nhận là vô hại trong vấn đề dinh dưỡng, sức khoẻ – và như vậy trên nguyên tắc không có gì đáng lo ngại khi dùng thức ăn có sản phẩm GMO. Tuy nhiên thực trạng cũng như một số “xì-căng-đanh/scandal” chung quanh sản phẩm GMO đã đưa ra nhiều vấn đề để suy nghĩ.

a)    ảnh hưởng của đoạn Gen chuyển nạp (Genkonstrukt) và nguy cơ gây dị ứng (Allergie)

·        Qua sự tiêu hoá (Verdauung/digestion) và sự biến dưỡng tự nhiên trong cơ thể (Metabolismus/metabolism) thực phẩm mà chúng ta thâu nhận luôn luôn được phân hóa thành những đơn vị nhỏ (® mất đi tính chất đặc thù nguyên thủy), được biến đổi/hoàn nguyên (metabolisieren/metabolize) thích hợp để dùng/để tổng hợp các chất cần thiết trong cơ thể hoặc -nếu không- bị đào thải qua phân và nước tiểu ra ngoài. Chính nhờ vậy mà chúng ta ăn thịt heo vẫn không …thành heo, vẫn không có “thịt heo” (=protein có cấu trúc như protein thịt heo) trong người, ăn bánh mì  với Glutenprotein chúng ta vẫn không có Gluten trong cơ thể… Tương tợ, Gen trong sản phẩm GMO khi được người/thú thâu nhận đều bị phân hoá không còn giữ cấu trúc đặc thù của Gen đó. Ăn sản phẩm GMO -ngay khi có nuốt nguyên một đoạn Gen chuyển nạp- chúng ta vẫn không thể đề kháng lại được …thuốc diệt trừ cỏ dại hay sâu bắp Maiszünsler. Đoạn Gen chuyển nạp (=lượng DNA lạ) trong sản phẩm GMO, chính nó không có ảnh hưởng gì nhiều trong việc ăn uống của chúng ta (dầu quan điểm nghi ngờ ngược  lại vẫn có từ nhóm chống đối như ở các khoa học gia A. Pusztai, S. Ewen, S. Bardocz). Trong ý nghĩ nầy đừng quên, qua thức ăn bình thường mỗi ngày chúng ta thâu nhận khoảng 100-1000mg DNA lạ (từ nhân tế bào trong thức ăn)+10)

·        Điểm đáng đề cập là “chất lạ” được tạo lập trong cây/sản phẩm GMO có gây thêm ra những bất lợi nào khác không? Đúng ra “chất lạ” tạo bởi Gen chuyển nạp là chất mà người ta mong muốn, từ chất có lợi như tinh bột, acít béo, Lactoferrin, … cho đến chất độc như Protein Bt hay Lektin, và như vậy trên nguyên tắc người ta biết rõ tính chất/cơ năng/tác dụng của chất nầy ngay trước khi tạo cây/sản phẩm GMO tương ứng. Điển hình là chất Lectin ở khoai tây GMO, một khoai tây được chuyển nạp Gen tạo ra chất nầy lấy từ rễ của cây bông Schneeglöckchen (snowdrop/Galanthus nivalis). Chất Lectin  GNA (=Galanthus Nivalis Agglutinin)+7)  là một Haemagglutinin thực vật (® Phytohaemagglutinin có nhiều ở các loại đậu/Leguminosen) chống lại sự phá hại của côn trùng sâu bọ (như sâu lá Blattlaus/aphid, sâu róm Raupe/caterpillar, Nematode) có lợi cho việc bảo vệ mùa màng, nhưng ở người/thú là một chất độc làm máu đông lại (agglutinieren/agglutinate) cũng như có tác dụng tai hại cho màng ruột khiến sự tiêu hóa, sự hấp thụ chất dinh dưỡng bị ngưng chận/giảm thiểu và như vậy sự tăng trưởng bị đình trệ. Với khoai tây GMO nầy Arpad Pusztai (Rowett Research Institute=RRI) +11a,b,c,d) vào khoảng cuối thập niên 90 đã làm thí nghiệm với chuột và cho thấy khoai tây GMO (với hàm lượng Lectin GNA cao 25,4µg/g chất khô so với 0(nil)µg/g ở khoai thường) gây ảnh hưởng không tốt lên sự màng ruột và làm chuột chậm lớn. Kết quả thí nghiệm, nếu nhìn kỹ, chỉ có thể đưa đến nhận định: a) sự thành công của phương pháp Gentechnik trong việc gia tăng hàm lượng chất Lectin chống lại côn trùng, và cùng lắm cho thấy b) lượng Lektin cao cũng có thể gây tác dụng tai hại, và như vậy việc dùng Gen tạo lập Lectin GNA cho khoai tây cần phải được kiểm định thận trọng (thật sự khoai tây GMO với Gen tạo Lectin GNA cho đến hiện tại chỉ dùng trong lãnh vực thí nghiệm/nghiên cứu chớ không được phép canh tác thương mãi và do đó không có mặt  trên thị trường tiêu thụ). Tuy  nhiên A. Pusztai không cho là như vậy. Dựa vào sự biến đổi độ dày của đoạn ruột không tràng (Jejunum) và ruột dư (Caecum)  của chuột, ông nhận định…

“…tác dụng kích thích tăng trưởng mạnh của khoai tây GMO sống/không nấu chín lên đoạn ruột không tràng cũng như tác dụng ngược lại lên đoạn ruột dư của khoai tây GMO nấu chín chỉ có một phần gây bởi sự phát triển Gen (GNA gene expression ® ở đây có nghĩa là bởi hàm lượng Lectin GNA; ghi chú người viết). Những đoạn khác của Gen chuyển nạp hoặc quá trình chuyển Gen/Transformation (trong ý: do đó tạo lập chất lạ; ghi chú người viết) đã có thể đóng góp vào tác dụng chung trên…… the potent proliferative effect of raw GNA-GM potatoes on the jejunum, and the antiproliferative effect of boiled transgenic potatoes on the caecum can be attributed only partly to GNA gene expression. Other parts of the GM construct, or the transformation, could have contributed to the overall effects”+8).

Kết luận cho rằng “đoạn/phần Gen chuyển nạp/Genkonstrukt” cũng như quá trình phối hợp yếu tố di truyền (® Gentransformation) ở khoai tây GMO đã ảnh hưởng tai hại lên màng ruột, lên cơ quan tiêu hóa của A. Pusztai đã gây sự tranh luận sôi nổi trong giới khoa học cũng như trên báo chí/truyền hình/truyền thanh và cũng từ đó  danh từ “Frankensteinfood” được phát sinh để chỉ một cách mỉa mai/chê bai những sản phẩm GMO. Thật ra sự kiểm chứng bởi ACNFP (Advisory Committee on Novel Foods and Processes=Ủy ban Cố vấn Thực phẩm và Biến Chế Mới) và COT (Committee on Toxicology of Chemicals in Food, Consummer Products and the Environment=Ủy Ban Kiểm định Độc tính của Hóa chất trong Thực phẩm, Sản phẩm tiêu thụ và Môi sinh) +12a,b) ở Anh Quốc cho thấy “…thí nghiệm không được hoạch định hợp lý và không trả lời được giả thuyết rõ ràng nào ….the studies were poorly designed and did not appear to be addressing any clear hypothesis” vì khẩu phần thí nghiệm không được quân bình dưỡng tố (hàm lượng protein chỉ 6% thay vì 16% cần cho chuột), vì cách thức cho ăn giới hạn (restricted feeding), nhất là vì tác dụng không tốt của tinh bột khoai sống… – những yếu tố ảnh hưởng lên sự tăng trưởng cũng như sự biến đổi màng ruột và hệ thống miễn nhiễm – không được lưu ý, cứu xét thận trọng nghiêm chỉnh; đó là không nói đến độ chính xác sát-xuất (statistische Signifikanz/statistical significance) không rõ ràng của kết quả ghi nhận. Kết luận của những cơ quan kiểm định nầy là

“…(những tác dụng bất lợi) không là kết quả của sự biến đổi yếu tố di truyền và có thể được giãi thích bởi sự khác biệt của lượng Lectin … (the adverse effects) did not arise as a result of the genetic modification and could be explained by variability in lectin levels”+12a)

Hậu quả của sự tranh cãi nầy đưa đến sự sa thải ông A. Pusztai khỏi Viện Khảo Cứu RRI-Scotland. Dầu sao, tuy bị British Royal Society chỉ trích“…lầm lỗi trong nhiều khía cạnh hoạch định, thực hiện và bình giãi …flawed in many aspects of design, execution and analysis” +13) và theo lời phát biểu của Michael Clark, phát ngôn viên của Ủy ban Quốc hội về Khoa học và Kỹ thuật Anh Quốc (House of Common Science and Technology Commitee) “…Chúng tôi không tìm thấy bằng cớ nào cho rằng những nguy hại liên hệ đến thực phẩm GMO cao hơn những nguy cơ do thực phẩm thường dùng…. We have seen no evidence to suggest that the risks associated with GM foods are any higher than those associated with conventional foods”+13), thí nghiệm của ông Pusztai đã gây tiếng vang lớn trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm, đã gây hoài nghi về Gentechnik, đã khiến ông bị sa thải khỏi viện Nghiên cứu RRI, thành “người tử vì đạo/Märtyrer/Martyr” của những cơ quan/hội đoàn chống đối Gentechnik.

·        Dị ứng gây bởi Protein của Soja GMO được chuyển nạp với Gen tạo lập Protein có nhiều acít-amin khẩn yếu Methionin (® Albumin 2S) lấy từ cây Paranuss (Brazil paranut tree). Ở điểm nầy cũng nên biết: Protein của Soja -giống như protein của những loại đậu/Leguminosen khác- tuy lượng cao, có nhiều acít-amin khẩn yếu, nhưng lại ít Methionin và do đó không có giá trị dinh dưỡng (biologische Wertigkeit/biological value) cao được như protein từ thịt. Qua sự chuyển nạp Gen nầy, Protein của Soja GMO được cãi tiến, lượng Methionin được nâng cao, nhưng thí nghiệm với huyết thanh (Serum) lấy từ những người dị ứng đối với Protein của hạt Paranuss cho thấy  Protein của Soja GMO nầy cũng gây hiện tượng dị ứng tương tợ. Thật ra hiện tượng dị ứng chính ra tùy thuộc nhiều vào sự nhạy cảm của hệ thống miễn nhiễm cá nhân và chỉ xảy ra ở một số người đặc biệt – tương ứng như việc dị ứng với Protein đậu phọng hay bột mì (Wheat-/Glutenprotein) – hơn là sự hiện diện chất gây dị ứng (®Allergen) trong chính thực phẩm đó; dầu vậy việc thực hiện Soja GMO với Gen tạo lập Protein nầy đã bị đình chỉ/hủy bỏ. Ăn tương, chao, tào hủ ở hiện tại chúng ta có thể chắc rằng không ăn phải loại Protein Soja GMO nầy.

b)    ảnh hưởng môi sinh

  • Canh tác bắp-Bt dài hạn có thể làm sâu Maiszünsler sậu biến, sinh ra một loại Maiszünsler mới, đề kháng (=đối kháng/resistent) / không bị „ngộ độc“ bởi độc-tố-Bt và như vậy …đâu vẫn hoàn đó, không tránh được sự phá hại của loại sâu nầy. Để tránh thực trạng nầy ở USA những người trồng bắp-Bt buộc phải thi hành chính sách ngừa đề kháng (Resistenzmanagement/resistence management). Theo đó 20 đến 50% diện tích trồng phải được dùng để trồng bắp thường, tức không phải bắp-Bt, để làm nơi …„tị nạn“ cho sâu Maiszünsler (ở đây sâu Maiszünsler tha hồ …ăn bắp!). Qua lối canh tác dành đất „tị nạn“ nầy (Refugien-Konzept/refuge concept) người ta nghĩ rằng nếu như có sâu Maiszünzler đề kháng được tạo lập thì bướm (Motte/moth) từ ấu trùng nầy ở thế hệ sau sẽ phối hợp với bướm thường không có tính đề kháng ở thửa đất „tị nạn“ và như vậy Gen đối kháng độc tố Bt cho thế hệ Maiszünsler tới bị phân chia, bị loãng ra. Sự bành trướng tính đối kháng độc tố Bt như vậy nếu không bị ngăn chận hẳn thì cũng được giảm đi.
  • Phấn bông cũng như hạt/trái của cây trồng GMO có thể qua gió, ong bướm/côn trùng, chim chóc truyền đi xa và gây sự lai giống không chủ định/không kiểm soát cho cây cỏ khác. Sự chuyển Gen/lai giống không muốn nầy (® Gene flow) gây sự xáo trộn khó lường được trong môi trường thực vật, tạo lập những loại cây cỏ mới với tính chất lợi/hại không rõ cũng như có thể làm mất dần những loại cây cỏ hiện có. Để tránh hiện tượng nầy nhiều đề nghị trong việc canh tác cây GMO đã được đề ra: ở Đức theo „Điều lệ Thực hành Đúng Phương pháp“ (Verordnung über gute fachliche Praxis/Ordinance of good Management Practice) khoảng cách giữa thửa ruộng trồng cây GMO và cây thường phải cách xa tối thiểu 150 m; dầu là theo E. Weber (Martin-Luther Universität, Halle-Wittenberg)+14) với quãng cách 20m lượng  bắp GMO ô nhiễm (kontaminiert) trong đám bắp thường sẽ không quá lượng luật định cho phép 0,9%. Ở Đức, như là một cách hòa giãi cho sự canh tác cây GMO và canh tác hữu cơ/không dùng hóa chất (organic farming), kể từ tháng 8/2007, quãng cách tối thiểu giữa thửa ruộng trồng cây GMO và ruộng đặc biệt trồng cây cho sản phẩm Bio được tăng lên 300m.
  • Trong vấn đề giữ quãng cách giữa thửa ruộng trồng lúa GMO và lúa thường cũng nên nhắc đến sự tranh chấp giữa hãng Ventria Biosience và hãng bia Anheuser-Bush vào năm 2005 ở Mỹ. Hãng Anheuser-Busch  (đồng thời cũng là nhà thầu lúa) tuyên bố sẽ không mua, sẽ boycott tất cả lúa ở Missouri, vùng mà hãng Ventria Biocience định trồng lúa GMO với Gen tạo Lactoferrin (® Lactiva) và Lysozyme (® Lysomin). Để yên chuyện nguy cơ lúa GMO có thể lan nhiễm vào lúa thường (gene flow) Ventria Bioscience đã chấp nhận chỉ trồng lúa GMO cách thửa ruộng lúa thường tối thiểu 120 dậm/miles (~193 km! Với đòi hỏi quãng cách quá xa như vậy, khó ai có thể làm ăn trồng trọt gì được và Ventria Bioscience thật sự cũng đã hủy bỏ hợp đồng trồng lúa GMO nầy với đại học Northwest Missouri State University). Lúa GMO nầy chính yếu chỉ dùng để điều chế Lactoferrin và Lysozyme (có tính diệt trùng, ngừa tiêu chảy)+15) nhưng không có mục tiêu thương mãi dùng như lúa/gạo ăn thường ngày.
  • „Xì-căng-đanh/Scandal“ với StarLink: StarLink là một loại bắp-Bt của hãng Aventis CropScience (hiện tại đổi chủ thuộc Bayer CropScience) có Gen chuyển nạp tạo độc tố Bt-Protein „Cry9C“ để chống lại sâu bắp Maiszünsler. Vì Bt-Protein Cry9C  nầy  không bị phân hoá nhanh trong cơ quan tiêu hóa người ta và như vậy có thể gây dị ứng (Allergie) nên thật ra chỉ được phép trồng để làm thực phẩm cho gia súc. Dầu vậy, vào năm 2000, ở Mỹ một lượng nhỏ bắp StarLink (khoảng 1%) đã được cơ quan bảo vệ môi sinh „Friends of the Earth“ và liên hiệp GEFA (Genetically Engineered Food Alert) tìm thấy trong bánh Taco-Bell (taco shells/Taco-Bell-Maisfladen) cũng như sau đó trong khoảng 300 thực phẩm khác (bởi cơ quan „Điều hành Thực phẩm và Dược phẩm FDA=Food and Drugs Administration“). Điều nầy đã làm hãng Taco Bell phải thu hồi lại thực phẩm bán trên thị trường và riêng hãng Aventis phải mua lại số bắp StarLink trồng ở Mỹ trong năm đó với phí tổn lên đến 90-100 triệu US Dollar. Mất mặt bởi Scandal nầy Aventis đã không bán bắp giống StarLink để trồng trọt thương mãi nữa.
  • Khoai tây Bt mặc dầu được phép chính thức trồng ở Mỹ và Gia Nã Đại (có đến 4 loại) nhưng thực tế không ai trồng vì tuy khoai tây Bt đối kháng lại được sâu khoai tây (Kartoffelkäfer/potato beetle/doryphore) nhưng vẫn bị hại bởi sâu lá (Blattlaus/ aphid/puceron) truyền bịnh Virus và như vậy người trồng khoai vẫn phải dùng thuốc hoá học bảo vệ khoai.
  • „Xì-căng-đanh“ với lúa GMO LL601 đề kháng lại thuốc diệt trừ cỏ dại Glufosinat. Lúa GMO nầy đã được tạo lập bởi hãng Aventis CropScience vào khoảng thập niên 90, nhưng bị đình chỉ sản xuất năm 2001 (ở Mỹ chỉ có hai loại lúa GMO đi từ loại LL601 nầy -lúa LL61 và LL96- được phép canh tác dùng trong kỹ nghệ thực phẩm). Dầu vậy vào tháng 9/2006 một số gạo nhập cảng vào Âu Châu bị tìm thấy có nhiễm loại gạo LL601. Mặc dầu lượng gạo LL601 ô nhiễm chỉ chiếm khoảng 0,01-0,05% và được xem „không có gì tai hại cho sức khỏe người và thú“ nhưng nhà cầm quyền Âu Châu  vẫn „làm khó“ việc nhập cảng lúa gạo Mỹ bằng cách ra chỉ thị gạo nhập cảng vào Âu Châu không phải chỉ có chứng nhận không pha trộn lúa LL601 mà chứng nhận nầy còn phải do các cơ quan kiểm chứng Âu Châu xác thực chớ không phải từ Mỹ.

image003c) xung đột quan điểm trong vấn đề an toàn thực phẩm, kinh tế, nhân sinh…

  • Những „Xì-căng-đanh“ với bắp StarLink và lúa GMO LL601 -tuy bị cấm nhưng vẫn được phát hiện ở thị trường- cho thấy nguy cơ cho giới tiêu thụ vẫn có thể xảy ra. Đó là không nói đến những nghi ngờ không phải không hữu lý -dầu trên lý thuyết- về vấn đề lai giống không kiểm soát (Gene flow), về sự tạo lập những chất lạ/chất độc bất ngờ có thể gây bởi đoạn Gen chuyển nạp (Genkonstrukt) và quá trình chuyển Gen, cũng như về ảnh hưởng chung đến môi sinh/côn trùng/ong bướm. Thật ra một sự bảo đảm an toàn 100% không thể có trong mọi lãnh vực của cuộc sống và như vậy cũng khó có thể đòi hỏi  ở ngành Gentechnik. Điểm quan trọng phải là làm thế nào để giảm thiểu tối đa nguy cơ có thể xảy ra. Trong ý nầy thay vì chỉ trích/chống đối phá hoại quá khích (® destruktiv), nên tìm hiểu/học hỏi nhiều hơn về Gentechnik, khách quan nhận định điều hay/điểm xấu, phê bình xây dựng (® konstruktiv), hậu thuẫn những biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm/môi sinh  qua phương thức kiểm chứng khoa học hiệu nghiệm (Sensibilisierungstest, toxikologische Test, Allergie-Check,…), qua luật pháp hợp lý/hữu hiệu (Novel Food-Verordnung, Good Management Practices, Monitoring,…)
  • Bên cạnh vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm/môi sinh, điểm phê bình thường nghe thấy trong vấn đề Gentechnik là ngành công nghệ nầy chỉ làm giàu cho giới tư bản kỹ nghệ độc quyền sản xuất bán cây giống và thuốc diệt trừ cỏ dại bảo vệ mùa màn liên hệ. Trong cái nhìn nầy người ta còn cho rằng phương pháp canh tác cổ điển vẫn thừa đủ để cung cấp thực phẩm cho nhân loại không cần gì đến Gentechnik. Để sáng tỏ lý  luận nầy, chúng ta hãy theo dõi sự gia tăng nhân số, sự giảm thiểu số đất trồng trọt (so với sự bành trướng thành thị, đất cư ngụ/kỹ nghệ), tình trạng sản xuất nông sản/thực phẩm yếu kém ở các quốc gia hậu tiến, những bất thường của thời tiết/mùa vụ, những hình ảnh „da bọc xương“ vì thiếu ăn ở Phi Châu,… và tự tìm lấy câu trả lời đúng cho chính mình. Bên cạnh đó một điểm thực tế hiển nhiên không nên quên là không vì với „trâu kéo cày vẫn trồng lúa được“ mà người ta bỏ đi những tiến bộ khoa học, không dùng tracteur/máy cày/máy gặt; không vì „đi bộ vẫn đến nơi“ mà chúng ta trách móc những người đi xe hơi, xe gắn máy. Tương tợ, dầu trong thiên nhiên cây vẫn cho trái, lúa vẫn sinh bông nhưng chúng ta có nên vì vậy mà chỉ trích/tẩy chay quá khích những biện pháp có thể làm trái sai hơn, bông đẹp hơn, ngay khi biện pháp nầy được thực hiện trong khuôn khổ Gentechnik? Ngoài ra đừng quên, độc quyền sản xuất cây giống GMO trong tay của một số hãng lớn hiện tại chỉ có thể được giảm thiểu/mất đi khi ngành Gentechnik được phổ biến rộng rãi, được nhiều kỹ nghệ gia hưởng ứng khai thác; và chỉ khi có sự cạnh tranh của nhiều nhà sản xuất, giới tiêu thụ mới tránh được sự độc quyền, mới có sự tự do lựa chọn giá cả.  Sự xuống đường, phá hoại một đám ruộng thí nghiệm trồng GMO – thay vì hỗ trợ việc nghiên cứu/thí nghiệm/kiểm định bảo đảm an toàn – chắc chắn sẽ không gây thiệt hại gì cho một  Monsanto, một  BASF, một Bayer… mà chỉ ngăn chận, làm chậm cơ hội phát triển của một ngành công nghệ đang và sẽ hiện hữu, dầu chúng ta muốn hay không.
  • image004Quan điểm „qua mặt tạo hoá“ trong việc tạo lập cây trồng GMO cũng là một điểm thường được đưa ra để tranh luận. Thực tế trong thiên nhiên sự trao đổi Gen tạo giống mới qua phấn bông/ong bướm, sự biến đổi Gen thích ứng với môi trường sống sinh ra cây cỏ đặc biệt chịu đựng được nắng dãy mưa dầm, sự sậu biến (Mutation) đột khởi của Gen tô điểm cành bông bụp trắng tinh với một hoa đỏ tươi nổi bật … không là một hiện tượng lạ. Gentechnik chỉ là một cách bắt chước, một phương tiện thực hiện quá trình biến đổi Gen qua kiến thức/kỹ thuật của con người. Tuy nhiên nếu sự biến đổi Gen trong thiên nhiên chậm rãi, không gây những xáo trộn môi sinh đột phát, thì con người thực thi Gentechnik có thể tạo những sinh vật mới với tính chất lợi/hại mong muốn trong thời gian ngắn hạn. Khả năng „tranh quyền tạo hóa“ có thể bị lạm dụng và hậu quả trong trường hợp nầy hẳn là một đại họa. Lịch sử nhân loại cho thấy, bên cạnh sự hữu ích tiện lợi cho con người, mặt trái của tiến bộ hóa học đã tạo ra những bom gas/khí độc chết người, của khoa học vật lý với bom nguyên tử đã gây tử vong cả trăm ngàn nhân mạng ở Hiroshima/Nagasaki trong khoảng khắc, và Gentechnik – nếu không được xử dụng đúng – trong tương lai hẳn là một tai họa không lường được. Để tránh hiểm họa tương tợ có thể xảy ra bởi Gentechnik – một ngành kỹ thuật, dầu muốn hay không, không thể dẹp bỏ được trong tương lai – thiết nghĩ sự cấm đoán suông, sự đả phá quá khích sẽ không đưa đến kết quả thiết thực mà phải là sự học hỏi, tìm hiểu, thấu triệt nguyên nhân hậu quả „biết người biết vật“, phải có một nhân sinh quan lành mạnh, một tư duy đạo đức để xử dụng/thực thi đúng, không phải chỉ ở những khoa học gia mà ngay cả ở người dân thường đại chúng. Gentechnik chính nó không thiện, không ác. Thiện ác chỉ là con người chúng ta.

 

Dùng hay không dùng thực phẩm GMO?

Ở điểm nầy câu trả lời có giá trị chung cho mọi người khó có thể có. Dùng hay không dùng thực phẩm GMO là quyết định của cá nhân tùy vào sự hiểu biết/nhận định, thói quen, khẩu vị ẩm thực riêng của từng người. Thực tế những sản phẩm GMO được phép chính thức tiêu dùng đều phải qua những kiểm định gắt gao, nhất là về điểm an toàn dinh dưỡng, và như vậy trên nguyên tắc không có gì đáng ngại trong việc ăn uống. Dầu vậy nếu cảm thấy

Transgen thực phẩm tốt sao?

Phân vân e ngại… nuốt vào nhả ra

thì luật pháp hiện tại – như ở Âu Châu với Luật Ghi Nhãn hiệu Thực Phẩm Mới (Novel-Food-Kennzeichnung/Novel Food Labelling) –  qui định thể chế kê khai rõ ràng để người tiêu dùng có thể lựa chọn. Theo đó thực phẩm biến chế có chứa sản liệu GMO trên 0,9% phải được kê khai rõ thành phần chất liệu (Nahrungsmittel/Ingredients) bên cạnh thành phần dưỡng tố (Nährstoffe/Nutrients) trên nhãn hiệu. Những sản phẩm GMO – như đã trình bài ở trên – chánh yếu đi từ đậu tương Soja (Sojaprotein, bột Soja/Sojamehl, Sojaflocken/Soy flake cũng như Lecithin hay Mono- và Diglycerid), bắp (bột bắp/Maismehl, tinh bột bắp/Maisstärke cũng như Glucosesirup hay đường Dextrose) và Raps/colza (dầu). Ngược lại trái quả tươi bày bán hiện tại ở các tiệm từ lê, táo, cam, quít, dưa, dâu cho đến sa-lát, khoai tây, cà tím Aubergine, cà tô-mát…  chúng ta có thể chắc không phải là sản phẩm GMO. Sự khác biệt sản phẩm tươi trên thị trường thường nghe thấy – „bio hay không bio“ – đúng chỉ để chỉ sản phẩm đi từ sự canh tác cổ điển (dùng phân bón hoá học và hoá chất để bảo vệ mùa màng) và sự „canh tác hữu cơ“ (Ökologischer Landbau/organic farming ® không dùng hoá chất) không liên quan trực tiếp gì đến cây trái GMO.

Một số sản phẩm khác, dầu có xuất xứ GMO nhưng được tách riêng/tinh lọc và không có chứa phần Gen/DNA nào như dầu, tinh bột, đường Saccharose, Glucose-/Fructosesirup, diếu tố/Enzyme, Arome, Lecithin, sinh tố/Vitamine… thường được dùng như là gia vị phụ trội (Zutaten/trimmings). Những sản phẩm nầy trong quá khứ không cần phải kê khai trên nhãn hiệu vì thật sự những chất nầy không khác gì những sản phẩm bình thường về giá trị dinh dưỡng cũng như thành phần hóa học. Tuy vậy kể từ tháng tư 2004, trong Cộng Đồng Âu Châu – theo „Luật về Thực phẩm GMO cho Người và Thú – Verordnung 1829/2003/EU über genetisch veränderte Lebens- und Futtermittel/Regulation on genetically modified food and feed“ mọi sản phẩm liên hệ gần/xa có xuất xứ GMO đều phải kê khai rõ ràng ngay khi không thể kiểm định được sự khác biệt so với sản phẩm thường. Vì phương pháp kiểm định khoa học trung thật hợp lý không dùng được cho những sản phẩm tinh lọc nầy (® thành phần hóa chất/tính chất đều y như nhau), một chính sách kiểm soát „giấy tờ có tính cách hành chính“ qua cách theo dõi/ghi rõ xuất xứ, quá trình sản xuất/tiêu dùng từ nơi sản xuất cho đến giới tiêu thụ được qui định (Rückverfolgbarkeit/Traceability). Theo luật nầy thực phẩm GMO hoặc thực phẩm có chứa sản liệu GMO trên 0,9%  phải được kê khai rõ trên nhãn hiệu hàng chữ:

 

„Sản phẩm nầy chứa GMO – Diese Produkt enthält genetisch veränderte Organismen/This product contains genetically modified organisms“+16)

hoặc

„Biến chế từ …(tên của nguyên liệu GMO) – Aus GVO hergestellt (Bezeichnung des Organismen)/Product produced from GM (name of organism)“+16)

 

Và như vậy cứ nhìn nhãn hiệu/Etiquette dán trên thực phẩm, người tiêu dụng có thể quyết định cách thức ăn uống của mình.

 

Theo tài liệu hiện tại thực phẩm có chứa sản liệu GMO – dầu phần lớn chỉ là lượng nhỏ qua chất gia vị phụ trội và do đó không cần kê khai- chiếm đến 60-80% số thực phẩm bán ở thị trường. Như vậy phải chăng chúng ta không nhiều thì ít đã và đang ăn thực phẩm GMO mà không biết đó thôi?

Lúa, khoai, trái quả trời cho,

Ngàn xưa thực phẩm làm no lòng người.

Transgen sản vật tân thời,

Ai gan dạn miệng, xin mời thử chơi!

 

Dạn miệng? Thật ra cũng cứ thấy làm sao! Một điều an tâm là đến hiện tại chưa có trường hợp ngộ độc nào được ghi nhận vì ăn sản phẩm GMO, ăn “Frankensteinfood”.

Đức Quốc, mùa hè 2007

 

Ghi chú

+1) Phim Mỹ 1931 dựa vào chuyện Frankenstein của bà Mary Schelley (1818) do đạo diễn James Whale thực hiện với Colin Clive (đóng vai Henry Frankenstein) và Boris Karloff  (đóng vai quái vật/Monster). Về sau một số phim Frankenstein khác cũng được thực hiện (Bride of Frankenstein, Son of Frankenstein, Revenge of Frankenstein, Young Frankenstein,….), và danh từ Frankenstein  -đúng ra là tên của người tạo nên quái vật- lần hồi về sau được xem đồng nghĩa là quái vật.

+2) Những hiệp hội/cơ quan chống đối thực phẩm GMO thường được biết: Greenpeace, hội Bảo vệ Thiên Nhiên/Naturschutzverband, hội Bảo vệ Môi sinh/Umweltsschutzverband (FoE, BUND,…), hiệp hội canh tác không dùng hoá chất/Ökolandbauverband/organic farming association, đảng Xanh/Grünepartei, cơ quan thương mãi thực phẩm Bio ở Đức như Demeter, Bioland, Naturland, Ecovin, Biopark…

+3) xem Trần Thủ Danh, Khoahoc.net 24.8.2006

+4) DNA (Desoxyribonukleinsäure/Desoxyribonucleic acid) -cũng như RNA (Ribonukleinsäure/Ribonucleic acid)- có tên chung là acít nucleic (Nukleinsäure/nucleic acid) được cấu tạo từ những đơn vị gọi là Nucleotid kết hợp nhau lại thành một chuỗi dài (một phân tử DNA tự nhiên  có khoảng trên 10 triệu Nucleotid!). Đơn vị Nucleotid nầy – một hợp chất Base-Carbohydrat-Phosphat- được cấu tạo từ  phân tử đường (Desoxyribose cho DNA cũng như Ribose cho RNA), Base (Adenin, Guanin, Thymin, Cytosin cũng như Uracil trên sợi RNA) và Phosphat.  Số lượng cũng như vị trí/thứ tự những đơn vị Nukleotid với Base tương ứng (A=Adenin, G=Guanin, T=Thymin, C=Cytosin) của một đoạn  trên chuỗi DNA  là “gen=yếu tố di truyền”, là   “toa thuốc chế tạo”, là “mật mã” để theo đó tế bào cơ thể điều chế, tạo lập vật liệu cần thiết cho một đặc tính yếu tố di truyền (da vàng, da đen, mắt nâu, mắt xanh, ….). Ở người toàn bộ yếu tố di truyền (=Genom) biểu thị qua các Base của đơn vị Nukleotid là một hàng chữ dài với khoảng 3,2 tỉ mẫu tự AGTC nằm liền nhau  trước sau theo một thứ  tự  nhất định. Chính xác hơn, những mẫu tự nầy nằm trên 46 sợi DNA đơn, xoắn lại từng đôi làm thành 23 sợi DNA kép (à DNA-Helix)  tương ứng với 23 đôi nhiễm thể (Chromosomenpaar).

image005

+5) Vektor trung gian đóng vai trò như một loại „tàu chuyên chở=Genfähre/Gene transfer vehicle“, một phương tiện chuyển nạp Gen tuyển chọn/Gen lạ vào toàn bộ di truyền (Genom) của sinh vật/thực vật GMO (=sinh vật nhận Gen). Vektor trung gian thường dùng là Virus biến đổi/không độc, Plasmid … và trong lãnh vực trồng trọt đặc biệt vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Đó là một vi khuẩn sống trong đất với đặc điểm là có thể chuyển một phần yếu tố di truyền/Gen vào tế bào thực vật và phối hợp phần Gen nầy vào toàn bộ Gen/vào Genom của thực vật. Phần Gen nầy (® T-DNA) không nằm trong bộ nhiễm thể/Chromosom của vi khuẩn mà nằm trên một vòng DNA riêng rẽ, trên Ti-Plasmid (tumor-inducing plasmid), và khi xâm nhập vào tế bào của rễ cây gây nên bịnh “bướu rễ cây” (Wurzelhalsgalle/crown gall). Tính dễ xâm nhập cũng như khả năng “chuyển gen” qua Plasmid của vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens vào tế bào thực vật được khoa học gia lợi dụng dùng  như là một “chiếc ghe/chiếc tàu=Genfähr” để chở Gen lạ vào cây. Đương nhiên khi dùng vi khuẩn nầy, người ta phải loại bỏ Gen độc T-DNA trên Plasmid và thay vào đó bằng Gen thích hợp/Gen muốn được chuyển nạp, trước khi để vi khuẩn xâm nhập (infizieren) vào tế bào thực vật.

+6) Gen cấu tạo Bt-Protein (® crystal protein, độc tố đối với sâu bọ) có nhiều loại, do đó độc-tố-Bt cũng khác biệt nhau (khoảng 243 có tác dụng riêng rẽ đối với từng loại côn trùng sâu bọ). Ở bắp/ngô, Gen được dùng là những Gen-Bt biến dạng (Gen-Variante) như Gen Cry 1Bb, Cry 1Ac và Cry 9c. Những Gen nầy tạo lập độc-tố-Bt ở thân cây bắp (nơi côn trùng Maiszünzler/corn bohrer phá hại) trong khi những Gen Bt khác có thể tạo ở mọi phần thực vật. Cũng nên nói rõ thêm, Gen Bt thật ra chỉ tạo lập „tiền-độc-tố“ (Protoxin) trong cây và chỉ khi nào côn trùng sâu bọ ăn cây, nuốt luôn Protoxin nầy vào ruột, Protoxin ở đây mới được chuyển hoá thành chất độc Delta-Endotoxin làm hư màng ruột côn trùng sâu bọ. Ở Đức bắp-Bt được phép trồng là loại bắp MON 810 của hãng Monsanto tạo Bt-Protein Cry 1Ab và được cho phép trồng đến ngày 18.4.2007; sau đó phải lập hồ sơ cho phép tiếp. Chính vì vậy đầu tháng 5/2007 Greenpeace đã tung ra tài liệu cho thấy lượng độc tố Bt trong bắp-Bt nầy không đồng đều -sự cách biệt giữa lượng nhỏ và lớn quá xa và như vậy theo Greenpeace bắp Bt không đáng được „tin cẩn“, không an toàn trong việc bảo vệ môi sinh- với mục tiêu tẩy chay, chống lại việc cho phép trồng bắp MON 810 tiếp.

+7) Lectin thuộc nhóm Glucoprotein có nhiều ở thực vật, đặc biệt ở các loại đậu Leguminose. Đây là một Haemagglutinin thực vật, là một vũ khí tự vệ của cây cối chống lại sự phá hại của côn trùng sâu bọ (như sâu lá Blattlaus/aphid, sâu róm Raupe/caterpillar, Nematode), nhưng ở người/thú là một chất độc làm máu đông lại (agglutinieren/agglutinate) cũng như có tác dụng tai hại cho màng ruột khiến sự tiêu hóa, sự hấp thụ chất dinh dưỡng bị ngưng chận/giảm thiểu và như vậy sự tăng trưởng bị đình trệ. Riêng Lectin GNA  (Galanthus-Nivalis-Agglutinin) từ củ/rễ cây bông Schneeglöckchen/snowdrop có chứa nhóm Mannose đặc biệt và được xem ít có tác dụng hại lên màng ruột.

+8) Trong phương pháp diệt trừ cỏ dại cổ điển người ta phải dùng nhiều loại thuốc/hoá chất cho từng riêng loại cỏ dại và phải xử dụng đúng vào một thời diểm tăng trưởng nào đó của cỏ dại. Điều nầy gây khó khăn, phức tạp trong việc thực hiện cũng như phải dùng nhiều hóa chất. Với chất thuốc diệt trừ cỏ dại Glyphosat (RoundUp của Monsanto) hoặc Glufosinat (LibertyLink của Bayer=Ammoniumsalz der racemischen Phosphinotricin) phần lớn cỏ dại/thực vật đều bị hủy diệt dễ dàng, điều bất lợi là cây trồng thường cũng bị hủy diệt luôn. Muốn dùng Glyphosat cũng như Glufosinat trong việc diệt trừ cỏ dại, cây trồng phải có khả năng đối kháng lại được những chất nầy và đó là những thực vật GMO, những cây đậu Soja, cây dầu Raps, ngũ cốc như bắp, lúa… được biến đổi Gen, được chuyển nạp một Gen tạo lập ra một diếu tố trong cây (® PAT-Enzym=Phosphynotricin-Acetyl-Transferase / CP-4 EPSP-Synthase)  hóa giãi được tính độc của Glufosinat/Glyphosat. Gen nầy được lấy từ vi khuẩn Streptomyces cũng như từ Agrobacterium tumefaciens ở trong đất và nước.

+9) Gen tạo Chymosin được từ màng ruột thú, được chuyển nạp đưa vào men (Hefe/yeast) Kluyveromyces lactis hay nấm mốc Aspergillus niger. Vi sinh GMO nầy cấu tạo Chymosin và sau đó Chymosin được tinh lọc tách rời ra. Sản phẩm Chymosin tinh lọc như vậy (Chy-Max hay Maxiren) có độ ròng 80-90% so với sản phẩm tự nhiên lấy từ màng bao tử (Labferment) chỉ có khoảnh 5-8% Chymosin hữu hiệu (aktives Chymosin)

+10) G. Flachowsky, K. Aulrich, H. Böhme, I.Halle, F. Schwägele, H. Broll: Zur Bewertung von Futtermitteln aus gentechnisch veränderten Pflanzen, ForschungsReport 2006,1,13-16

+11) Trích dẫn từ

a)       Stanley W. B. Ewen & Arpad Pusztai: Effect of diets containing genetically modified potatoes expressing Galanthus nivalis lectin on rat small intestine – Research Letter; The Lancet, 354 (9187), October 16, 1999 cũng như xem thêm : http://www.sirc.org/news/pusztai_published.htmlb)      F.J.Bourne, A. Chesson, H. Davies, H. Flint: SOAEFD flexible fund project RO 818: Audit at data produced at the Rowett Resaerch Institute, 1998 (http://www.rowett. ac.uk/gmarchive/)c)      The Audit Committee’s Response to Dr Arpad Pusztai’s Alternative Report of 22 October 1998 (http://www.rowett.ac.ok/gmo/)d)      Verwirrung um die Ergebnisse(http://www.transgen.de/sicherheit/verfahren/338.doku.html)

+12) Food Standards Agency, Archive MAFF(http://archive.food.gov.uk/)

a)      ACNFP Statement on the studies conducted at the Rowett Research Institute on potatoes genetically modified to produce the snowdrop (Galanthus nivalis) lectin (Food Standards Agency-Information)b)       Committee on Toxicology of Chemicals in Food, Consumer Products and the Environment (COT) statement on studies of potatoes genetically modified to produce Galanthus nivalis lectin (Food Standards Agency-Information)

+13) Trích dẫn từ: Stellungsnahme (Archiv) „Die Kartoffeln und Ratten von Putztai“; http://www.gensuisse.ch  /focus/stellarch/kart_rat.html

+14) E. Weber:Journal for Agronomy and Crop Science, 2005

+15) Lactoferrin và Lysozyme là những diếu tố có tính cách diệt trùng, ngừa tiêu chảy có trong sữa, nước miếng, nước mắt. Sản phẩm Lactiva (Lactoferrin) và Lysomin (Lysozym) tinh lọc từ lúa GMO được dùng trong thực phẩm trẽ em ngừa tiêu chảy. Theo nguồn tin mới nhất, vào tháng 4/2007 tiểu bang Kansas (USA) cho phép Ventria Bioscience canh tác lúa GMO tạo Lactoferrin và Lysozyme trên khoảng 100 hecta (http:// genfood.wordpress.com/2007/05/22/genetik-schafft-muttermilch-vom-acker)

+16) Verordnung (CE) Nr. 1829/2003 des Europäischen Parlaments und des Rates vom 22. September 2003 über genetisch veränderte Lebens- und Futtermittel (http://europa.eu/scadplus/leg/de/lvb/l21154.htm)