Bác sĩ NGUYỄN ANH HUY – TRẤN THỦ QUẢNG NAM: CÔNG ĐÁNH NHÀ MẠC CỦA NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

Hình 1: Bức thư do Nguyễn Phúc Nguyên gởi Nhật Bản năm 1601
Hình 1: Bức thư do Nguyễn Phúc Nguyên gởi Nhật Bản năm 1601

Về tác giả bức thư gởi Nhật Bản năm 1601, kể từ khi nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang (VVQ) đưa ra ý kiến mới, đã có 5 bài liên quan đề tài này:

-Bài số 1: VVQ, “Một số nhận định về tác giả An Nam quốc thư của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quảng Trị – Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1858 – 1613)”, tổ chức tại Quảng Trị ngày 25/9/2013.

-Bài số 2: Nguyễn Quang Trung Tiến (NQTT), “Những tồn nghi quanh nỗ lực bang giao giữa Nguyễn Hoàng với Nhật Bản cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Lịch sử và triển vọng mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nhìn từ miền Trung Việt Nam”, Đại học Đà Nẵng tổ chức ngày 22/11/2013.

-Bài số 3: Nguyễn Anh Huy (NAH), “Về tác giả bức thư gởi Nhật Bản năm 1601”, tạp chí Xưa Và Nay số 445, tháng 3/2014.

-Bài số 4: Nguyễn Lục Gia (NLG), “Xung quanh tác giả bức thông thư gởi Nhật Bản năm 1601”, tạp chí Xưa Và Nay số 446, tháng 4/2014.

 

Hình 1: Bức thư do Nguyễn Phúc Nguyên gởi Nhật Bản năm 1601
Hình 1: Bức thư do Nguyễn Phúc Nguyên gởi Nhật Bản năm 1601

Trước hết, tôi xin cảm ơn nhà nghiên cứu NLG đã đọc bài viết của tôi, đã đồng ý với tôi để khẳng định tác giả bức thư là Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên như VVQ đưa ra, chứ không phải là Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng như nhà nghiên cứu NQTT bảo vệ ! Đây chính là trọng tâm vấn đề đã được giải quyết rõ ràng, không cần phải bàn luận nữa !

Và cuối bài viết, tác giả NLG căn dặn: “Chỉ xin lưu ý một điều: cần cẩn trọng suy xét các nguồn cứ liệu trước khi đăng đàn ý kiến tranh luận hay có ý định phê phán, chỉnh sửa tài liệu gốc”. Lời chỉnh lý của tác giả NLG thật đáng trân trọng nhất là đối với một bác sĩ chỉ vì say mê trái ngành mà mới tập tành nghiên cứu lịch sử một cách võ vẽ như tôi.

Tuy nhiên, trong quá trình giải thích vấn đề, đã phát sinh những yếu tố “chung quanh”, những vấn đề phụ, gây tranh cãi, do vậy, tôi xin tiếp tục trao đổi thêm…

Đó là, ngoài những kết luận một cách đầy cảm tính, không có cơ sở, tác giả NLG không hề chứng minh tước hiệu Nguyễn Phúc Nguyên là “Thụy Quốc Công” chứ không nhất thiết phải là “Thụy Quận Công” như tôi đã từng chứng minh, mà chủ yếu phân tích những râu ria không phải là trọng tâm vấn đề, và có vẻ thích bắt bẻ chữ nghĩa, từ đó sinh ra nhiều nhận định khác một cách chủ quan… Với tinh thần cầu thị, tôi rất mong nhà nghiên cứu NLG tiếp tục chỉ bảo thêm cho những thắc mắc của tôi:

1. Diễn nghĩa lời của Lê Quý Đôn nói về việc Nguyễn Hoàng “sai 3 người con… ở cạnh đường mà tạ tội, xin ở lại làm con tin”1, tôi viết lại là “khi ra Thăng Long tham gia đánh nhà Mạc, Nguyễn Hoàng đã đưa nhiều người con đi theo, và khi trốn về Nam, đã dắt Nguyễn Phúc Nguyên cùng về, còn NHỮNG người con khác thì cho ở lại Thăng Long làm con tin”.

Chữ “những” của tôi và con số 3 của Lê Quý Đôn, không sai lệch mấy, thế mà tác giả NLG bắt bẻ, cho rằng tôi “suy diễn… tỏ ra tùy tiện” !, bởi theo NLG suy luận từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT, Bản Kỷ Tục Biên của Phạm Công Trứ) thì “lưu lại đất Bắc duy có một vị thế tử2 cùng hoàng tôn Hắc mà thôi”.

Ở đây, tác giả NLG đã dùng chữ “thế tử” một cách tùy tiện, cho thấy bản thân thiếu hiểu biết, không phân biệt được thế nào là “thế tử / hoàng tử” !

Và NLG phán tiếp: “Nhầm lẫn của tác giả NAH có lẽ xuất phát từ một sai sót của sử thần Lê Quý Đôn” !

Về mặt tư liệu, cho rằng Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên đáng tin cậy hơn, và Lê Quý Đôn “sai sót” thì chưa chắc ! Bởi khi trích dẫn sự kiện năm 1600 từ Đại Việt Sử Ký của Phạm Công Trứ, thì NLG thường chú thích thêm: “Hoàng bèn cùng với con trai thứ năm [đúng là hoàng tử thứ 6 – NLG] là… Khi xa giá về đến nửa đường, thấy con trai thứ ba [đúng là thế tử3 thứ 5 – NLG] của Hoàng là…” !

Chỉ một đoạn văn ngắn mà NLG đính chính đến 2 lần, vậy tài liệu này đáng tin cậy không ?! Do vậy, nhà nghiên cứu NLG nên đọc lại “lời dạy” của mình: “Xin lưu ý một điều: cần cẩn trọng suy xét các nguồn cứ liệu trước khi đăng đàn ý kiến tranh luận hay có ý định phê phán, chỉnh sửa tài liệu gốc” !

Để chứng minh sự trích dẫn về đoạn sử Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Tục Biên có giá trị quyết định về việc chỉ có 1 người con của Nguyễn Hoàng ở lại Thăng Long làm con tin, trong khi Lê Quý Đôn thì viết có đến 3 người con, NLG đã dựa vào Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả để giải thích với độc giả rằng “con thứ 9 Nguyễn Phúc Dương mất sớm…” !

Tôi kính cẩn mở đoạn mà NLG đã trích dẫn ra xem, thì TRỜI ƠI !!!, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả nguyên văn viết về Nguyễn Phúc Dương như sau: “Ông làm quan triều Lê đến chức Tả Đô đốc Quận Công (thường gọi là Nghĩa Quận Công). Mộ táng ở Thanh Hóa…”4. Xin nhà nghiên cứu Nguyễn Lục Gia đừng nên LỪA độc giả như thế !!!, rất mất uy tín !!!

Như vậy, rõ ràng Nguyễn Phúc Dương thuộc nhóm “những người con” của Nguyễn Hoàng ở lại làm con tin ở Thăng Long nên mới “làm quan triều Lê…. Mộ táng ở Thanh Hóa” ! Nguyễn Hải là một, Nguyễn Phúc Dương là hai, số lượng 02, có phải là “NHỮNG người con” như tôi giải thích không ??? Cọng thêm hoàng tôn Hắc nữa là 3 người !!! Và như vậy Lê Quý Đôn viết có “SAI SÓT” lắm không ???

Xin hỏi độc giả, ai là người “suy diễn… tỏ ra tùy tiện” ???

2. Về sự phản biện nhân vật “Phúc Nghĩa Hầu” trong bức thư năm 1591, tác giả NLG tỏ ra chưa phân biệt được người xưa có rất nhiều tên: tên húy, tên tự, tên hiệu… tôi không bàn thêm dài dòng, vì nhà nghiên cứu VVQ đã có riêng một bài viết: “Về bức quốc thư sớm nhất của nước ta gởi Nhật Bản (năm Quang Hưng thứ 14 – 1591)”5.

Tuy vậy, trong phần trao đổi này, khi tôi trích dẫn quy chế ban tước thời Lê, tác giả NLG đã không giải thích được hoặc kết luận được Phúc Nghĩa Hầu là ai (?) mà chỉ ưa vặn vẹo: “Tuy nhiên, quy chế trên đây do hoàng triều Lê Thánh Tông định đặt và áp dụng, chứ không phải do chính quyền họ Nguyễn xứ Đàng Trong xướng xuất hay bị ràng buộc phải tuân thủ”.

Tôi chỉ xin trao đổi một điều nhỏ: Cho dù hoạt động của chính quyền chúa Nguyễn cũng có những đặc thù riêng, nhưng các tước của chúa Nguyễn đều do vua Lê phong, nếu không theo quy chế triều Lê thì theo quy chế nào ? Xin tác giả NLG trả lời với bằng chứng cụ thể !

3. Tác giả NLG hí hửng viết: “Đầu mối của cuộc tranh luận xuất phát từ việc các tác giả không chịu tra cứu kỹ lưỡng… ĐVSKTT…”.

Tôi đã tìm đọc đoạn mà NLG dẫn từ ĐVSKTT, quả đúng là “(1600) Hoàng trở về trấn… bèn sai con là Phúc Nguyên coi quản việc quân ở Thuận Hóa…”.

Ở đây, Nguyễn Phúc Nguyên chỉ thay cha “coi quản việc quân”, là công việc nội bộ bình thường của nhà binh, thế mà tác giả NLG vội gán ghép một cách hồ đồ thành Nguyễn Phúc Nguyên “hiển nhiên toàn quyền sử dụng khuôn triện Trấn Thủ Tướng Quân Chi Ấn trong việc xác tín các mệnh lệnh quân sự hoặc văn thư hành chính, ngoại giao” !

Xin thưa: Nguyễn Hoàng không đủ thẩm quyền để “sai con là Phúc Nguyên” làm “Trấn thủ Tướng quân” được !, vì “Từ thời trung hưng trở về sau, chức TRẤN THỦ ở các xứ do đặc chỉ ban ra”6 !, tức chỉ có triều đình vua Lê mới có thẩm quyền trao chức vụ này !

Vậy thì việc phát hiện vài dòng mơ hồ và đơn giản trong ĐVSKTT, chẳng có gì quan trọng lắm, cho nên “Bản Lê Hy lược bỏ”7 ! Thế mà NLG lại ngông nghênh lên mặt: “Do thiếu hiểu biết về sự kiện Nguyễn Phúc Nguyên được phân nhiệm trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1600…, ThS VVQ đã đi đến kiến giải sai lầm…” !

Phân tích trên của tôi cho thấy ai “thiếu hiểu biết” ?!

4. Với sự tự gán ghép chủ quan như đã phân tích ở trên, nhà nghiên cứu NLG tiếp tục phóng bút: “… thế tử8 / Thụy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên chắc hẳn được chính quyền Thuận Quảng công nhận tước hiệu Thụy Quốc Công…”, “ngay từ năm 1600, Trấn thủ Nguyễn Phúc Nguyên đã thể hiện Trấn thủ Tướng quân chi ấn thông qua các mệnh lệnh phát đi từ Thuận Hóa. Việc thế tử Nguyễn Phúc Nguyên được truy phong tước hiệu Thụy Quốc Công để…”, “Như đã thấy, Nguyễn Phúc Nguyên được quần thần Thuận Quảng ban tước Thụy Quốc Công ngay từ lúc còn ở Thuận Hóa…”.

Những đoạn văn lủng củng này có 2 vấn đề:

– Trong bài viết trước, tôi đã từng chứng minh sau khi tham chiến đánh nhà Mạc, Nguyễn Phúc Nguyên được phong tước “Thụy Quận Công”, và sau khi về Thuận Hóa Mấy năm sau THẦN HẠ mới SUY TÔN làm Thái phó QUỐC CÔNG”9. Thế mà nhà nghiên cứu NLG lại đi dùng những từ ngữ biểu hiện bản thân mình “thiếu hiểu biết”: Quần thần chỉ “SUY TÔN”, chứ có thẩm quyền gì mà “BAN TƯỚC, CÔNG NHẬN, TRUY PHONG (chữ dùng cho người đã chết)” cho vị chúa của mình ?! Thật hết cách nói !!!

– Và xin nhà nghiên cứu NLG trưng bằng chứng lịch sử cụ thể về nhận định: ngay từ năm 1600, Trấn thủ Nguyễn Phúc Nguyên đã thể hiện Trấn thủ Tướng quân chi ấn thông qua các mệnh lệnh phát đi từ Thuận Hóa” ???!!!

*

Vậy sự thật, bức thư được viết ở đâu ?

Có một vấn đề, làm tôi băn khoăn khi tìm hiểu cuộc đời Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là:

Theo quy chế phong tước tập ấm thì đời con, nối dõi cha, khi cha còn sống thì người con thường có tước thấp hơn cha một bậc. Đến khi người cha mất thì người con mới được phong tước bằng cha. Ví dụ: cha tước công, thì con chỉ được tước hầu, và khi người cha mất thì người con mới được phong tước công. Vậy thì lúc Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng còn sống thì Nguyễn Phúc Nguyên chỉ được tước hầu10 thôi ! Thế nhưng tại sao cả hai cha con đều là công tước (Đoan Quốc Công và Thụy Quận Công) ? Trả lời câu hỏi này thì sẽ hé lộ ra một chuyện khác mà sử liệu viết không rõ ràng…

Trong bài viết trước, tôi đã cho thấy Nguyễn Phúc Nguyên từng ra Thăng Long tham gia đánh nhà Mạc, và sau đó: “Thế tông, năm Quang Hưng thứ 18 (1595), vua dẹp xong giặc Mạc trở về kinh đô, hạ chiếu cho tướng sĩ các cơ các doanh có ai có công đánh giặc thì người đã được phong tước cho thăng một bực…”11. Như vậy, tước hầu của Nguyễn Phúc Nguyên đã được vua phong thành tước công là Thụy Quận Công.

Đọc sử triều Lê phần quan chức được chép trong Kiến Văn Tiểu Lục12, ta thấy tước do vua ban do huân công càng cao, thì có “điền lộc” (ban đất) và chức quan càng lớn. Mà như ta thấy, bức thư Thụy Quốc Công viết năm 1601 đã có đóng dấu “Trấn thủ Tướng Quân chi ấn”. Có nghĩa rằng “Trấn thủ Tướng quân” của Nguyễn Phúc Nguyên cũng chính là một chức vụ do vua Lê ban như đã nói ở phần trước.

Vậy trấn thủ vùng nào ?

Không thể là Thuận Hóa như NLG từng suy diễn được ! Vì Thuận Hóa là đất “Trấn thủ” của Đoan Quận Công từ năm 1558 rồi ! Vậy thì còn vùng đất nào nữa ?

Lê Quý Đôn cho biết: “Năm Hoằng Định thứ 3 (1602), sai Thụy Quận công Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam”13. Ở đây động từ “sai” không có chủ ngữ, mà Lê Quý Đôn là quan của triều Lê, do đó ta có thể hiểu chủ ngữ của động từ “sai” chính là triều đình vua Lê. Cho nên, sử triều Nguyễn cũng chỉ ghi trỗng trỗng: “(1602) Sai hoàng tử thứ sáu làm trấn thủ dinh Quảng Nam”14. Và việc vua Lê sai Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ Quảng Nam cũng không hề mâu thuẫn với việc Nguyễn Hoàng làm Tổng trấn Thuận Quảng, bởi vì Quảng Nam là đất vua Lê giao Nguyễn Hoàng kiêm nhiệm từ Nguyễn Bá Quýnh vào năm 1570, chứ không phải là đất sắc phong chính thức của Nguyễn Hoàng; hơn nữa, Nguyễn Phúc Nguyên là “con cưng” của Nguyễn Hoàng, nên việc phân quyền này không hề tạo sự mâu thuẫn giữa vị Tổng trấn và vị Trấn thủ Quảng Nam.

Ta lại được biết: “Từ thời trung hưng trở đi, phàm quan viên vâng đặc ân hoặc gia ân được thăng chức tước, thì phủ liêu phụng đưa ngự chỉ ra triều đường… Ngày dự định khâm ban… các quan đến ngoài cửa Đoan môn cử hành lễ khâm ban…”15. Chính thế, trong bức thư viết năm 1601 gởi cho Nhật Bản, Nguyễn Phúc Nguyên nói: “上年我奉命天朝復臨巨鎮 (thượng niên, ngã phụng mệnh Thiên triều phục lâm cự trấn)“, nghĩa là “năm ngoái, ta vâng mệnh Thiên triều đến vùng này”16 là chính xác về mặt thời gian, vì năm ngoái của năm 1601 chính là năm 1600, lúc ấy ông còn ở Thăng Long thì mới đến Đoan Môn mà “vâng mệnh Thiên triều” được !; chứ nếu năm 1602 mới vào trấn thủ Quảng Nam như hai sử liệu vừa dẫn trên, thì năm 1601, lúc đó ông đang ở Thuận Hóa, làm sao viết thư là “phục lâm” Quảng Nam được ?!

Như vậy, đã rõ ràng, Thụy Quốc Công đã theo phân công của vua Lê vào trấn thủ Quảng Nam từ năm 1601, và bức thư được viết ở nơi ông trấn thủ, tức Quảng Nam !

Hình 2: "Năm ngoái, ta vâng mệnh Thiên triều đến vùng này..."
Hình 2: “Năm ngoái, ta vâng mệnh Thiên triều đến vùng này…”

*

Qua bài viết này, tôi mạnh dạn đưa ra 3 ý kiến:

1, Đồng ý với nhận định của nhà nghiên cứu VVQ, và khẳng định rằng tác giả bức thư năm 1601 chính là Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên, chứ không phải Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng !

2, Tiếp tục với trăn trở của nhà nghiên cứu VVQ cho rằng phải chăng sử thần triều Nguyễn khi biên tập Đại Nam thực lục tiền biên, mục Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế đã soạn chưa chính xác về thời gian trấn nhậm Quảng Nam của Thụy Quốc công” (?), thì nay tôi đã đủ cơ sở để khẳng địnhnăm 1601, Nguyễn Phúc Nguyên đã vào trấn thủ Quảng Nam chứ không phải đến năm 1602 như Lê Quý Đôn và Quốc sử quán triều Nguyễn ghi !

3, Các nhà Sử học trước đây cho rằng Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ Quảng Nam là do Nguyễn Hoàng phân công. Chẳng hạn như GS Phan Khoang viết: “Trấn Quảng Nam đất tốt, dân đông… Đoan Quốc Công đã có ý kinh doanh đất này… Rồi… sai công tử thứ 6 là Nguyễn Nguyên trấn giữ”17, hoặc GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Các chúa Nguyễn có một cách làm hay: Trao cho thế tử trấn thủ Quảng Nam dinh, nơi phát triển kinh tế nông công – thương nghiệp khá toàn diện trước khi ra Phú Xuân lên kế vị ngôi chúa…”18. Thì nay, cách giải thích này không còn đúng nữa !; vì theo phân tích trên, Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ Quảng Nam, chính là do vua Lê cử sau khi có công đánh nhà Mạc !

 

Huế, Lễ Lao Động 2014

NAH

            CHÚ THÍCH:

1. Lê Quý Đôn. Phủ Biên Tạp Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 51.

2. Đây là “thế tử” thứ nhất.

3. Đây là “thế tử” thứ hai ! Một nhà sao có dến 2 thế tử, lạ thế ?!

4. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc. Nguyễn Phúc tộc thế phả. Nhà xuất bản Thuận Hóa. Huế. 1995. Trang 117.

5. Võ Vinh Quang. “Về bức quốc thư sớm nhất của nước ta gởi Nhật Bản (năm Quang Hưng thứ 14 – 1591)”. Huế Xưa Và Nay. Số 122. Tháng 3-4/2014. Trang 88-96.

6. Lê Quý Đôn. Kiến Văn Tiểu Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 125.

7. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1993. Tập 3. Trang 309.

8. Lại thêm “thế tử” thứ 3 nữa !!!

9. Lê Quý Đôn. Phủ Biên Tạp Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 67.

10. Lê Quý Đôn. Phủ Biên Tạp Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 67, cho biết: “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần… thần hạ mới suy tôn Thái phó quốc công… CON… CHỈ PHONG TƯỚC HẦU”.

11. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1992. Tập 1. Trang 532.

12. Lê Quý Đôn. Kiến Văn Tiểu Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Xem phần “Quan chức” (từ trang 110) và “Bổng lộc” (từ trang132).

13. Lê Quý Đôn. Phủ Biên Tạp Lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 52.

14. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. Tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục. 2002. Trang 35.

15. Lê Quý Đôn. Vân đài loại ngữ. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 127-128.

16. Lời dịch của Phan Thanh Hải. Xem: Phan Thanh Hải. “Về những văn thư trao đổi giữa chúa Nguyễn và Nhật Bản (thế kỷ XVI-XVII)”. Nghiên cứu Lịch sử. Số 7. Năm 2007.

17. Phan Khoang. Việt sử xứ Đàng Trong. Nhà xuất bản Văn học. 2001. Trang 125.

18. Trần Quốc Vượng. Dặm dài đất nước. Nhà xuất bản Thuận Hóa. 2006. Tập 2. Trang 85.

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s