PT Nguyễn Mạnh San – TÌNH KHÔNG BIÊN GIỚI NHƯNG NGƯỜI YÊU LẠI CÓ BIÊN GIỚI (Căn Cứ Theo Luật Di Trú Mới)

tinhyeu-khongbiengioiXứ “Cờ Hoa” miền đất hứa là điều duy nhất của nhiều dân tộc trên thế giới muốn đến đây an cư lạc nghiệp. Lịch sử nhân loại đã công nhận nhiều chứng tích về miền đất hứa Hoa Kỳ này. Đó là Tự Do (Liberty), Công Bằng (Equality) và Bác Ái (Fraternity). Hoa Kỳ mang danh hiệu “Hiệp Chủng Quốc” nói lên sự thật của một quốc gia đón nhận sự có mặt của nhiều sắc dân trên thế giới, kẻ đến trước người đến sau với nhiều nguyên do khác nhau, để phải rời quê hương tìm đến nơi đây sinh sống.

Đặc biệt hoàn cảnh người dân Việt tỵ nạn cộng sản, hàng vạn người tiếp tục chấp nhận mọi gian khổ nguy hiểm, để rời khỏi Việt Nam từ tháng 4 năm 1975, đến đây tìm tự do nơi đất hứa này. Tất cả những người bỏ nước ra đi cũng phải thốt ra rằng: Nếu những cột đèn điện nó biết đi, nó cũng phải theo chúng tôi bỏ nước ra đi. Con Rồng cháu Tiên Việt Nam bồng bế nhau vượt biển Đông, cao chạy xa bay tới miền đất Tự Do Hoa Kỳ, đến nỗi không kịp ngoảnh mặt lại, để nhìn thấy lần chót vùng đất Mẹ thân yêu, là nơi sinh trưởng chôn nhau cắt rốn của mình. Cộng đồng người Việt là một trong những sắc dân di trú khá đông tại Hoa Kỳ, nên cần phải tìm hiểu nội dung đại cương của Đạo Luật Mới Di Trú và Nhập Tịch, do Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết trong năm 1990 và được ban hành ngày 1 tháng 10 năm 1991.

Riêng tiểu bang Oklahoma hơn một tháng vừa qua, những người di dân không có giấy tờ hợp lệ cũng như những chủ nhân thuê mướn những người này làm việc cho họ ở các hãng xưởng tư nhân, các cửa tiệm buôn bán, các nhà hàng hoặc có nhà cửa cho những người này thuê mướn v.v…, tất cả đều như đang lên cơn sốt rét ngã nước, sống trong những ngày lo sợ là sẽ bị trục xuất trả về nguyên quán hay sẽ bị đi tù nếu bị nhân viên chính quyền đến hỏi thăm sức khỏe. Vì một Đạo Luật mới mang số 1804 đã được Quốc Hội Tiểu Bang Oklahoma phê chuẩn và đã được Vị Thống Đốc của tiểu bang ấn ký và ban hành sắc lệnh này kể từ ngày 1 tháng 11 năm 2007, những người di dân bất hợp pháp đến cư ngụ tại tiểu bang Oklahoma, đều bị trục xuất để trả về nguyên quán.

Đạo luật này nhằm bảo vệ tiền đóng thuế lợi tức của người dân Hoa Kỳ và của những người di dân hợp pháp cư ngụ tại tiểu bang Oklahoma. Đây cũng là một đạo luật duy nhất của tiểu bang Oklahoma có liên quan đến vấn đề di trú bất hợp pháp mà 49 tiểu bang khác không có đạo luật như thế này. Bởi vì luật di trú là luật liên bang được áp dụng cho tất cả 50 tiểu bang đối với những người cư trú bất hợp pháp trên đất Hoa Kỳ, thế là riêng Oklahoma lại đẻ ra thêm đạo luật này, nhằm triệt để trục xuất tất cả các di dân không có giấy tờ cư trú hợp pháp vào Hoa Kỳ, thì phải bị trục xuất khỏi tiểu bang Oklahoma để trở về nguyên quán. Tuy nhiên đối với trẻ em dưới tuổi vị thành niên hoặc trên vị thành niên còn đang đi học, thì không bị ảnh hưởng bởi đạo luật này, nghĩa là vẫn được ở lại tiểu bang Oklahoma để tiếp tục học hành như thường lệ cho đến khi ra trường. Nhưng có một điều rất quan trọng mà tất cả những người di dân bất hợp pháp đều nên biết rằng: Chỉ có Chính Quyền Liên Bang mới là cơ quan duy nhất, có đầy đủ thẩm quyền để áp dụng triệt để thi hành luật di trú (It is also important for the undocumented to realize the Federal Government is the only agency authorized to enforce Immigration Law). Đồng thời những người di dân đến Hoa Kỳ bất hợp pháp cũng cần phải nên nhớ rằng: Dù họ có bỏ tiểu bang này để đến cư trú tại tiểu bang khác, thì họ vẫn nằm trong tình trạng nguy hiểm, là có thể bị giam giữ và bị trục xuất như thường lệ, chứ đạo luật mang số 1804 của Quốc Hội tiểu bang Oklahoma không làm thay đổi tình trạng nguy hiểm đó (It is important for the undocumented to understand that wherever they go in the United States, they are always in danger of being detained and deported. The House Bill 1804 of Oklahoma doesn’t change that fact).

Sở dĩ chúng tôi phải nêu rõ 2 vấn đề kể trên là vì mấy ngày trước khi đạo luật được áp dụng, đã có hàng trăm gia đình bồng bế con cái, anh chị em, họ hàng bà con thân thích rủ nhau thuê mướn những chiếc xe Van, chở đầy người trên xe, để chạy sang những tiểu bang lân cận như Texas, Arkansas, Kansas, v.v. là những tiểu bang không có đạo luật loại này, cố gắng chạy thoát một cơn sốt rét ngã nước đang xảy ra trong tiểu bang Oklahoma, để đi tìm sự an toàn về tinh thần lẫn thể xác với niềm hy vọng được phép ở lại Hoa Kỳ. Như chúng tôi vừa nêu lên 2 vấn đề kể trên: Thứ nhất là Luật Di Trú số 1804 của Quốc Hội tiểu bang Oklahoma nói riêng, có liên quan đến những người di dân bất hợp pháp hiện đang cư trú tại tiểu bang này và đạo luật mới này được chính quyền tiểu bang ban hành vào ngày mùng 1 tháng 11 năm 2007. Sau là Luật Di Trú Hoa Kỳ nói chung (US Immigration Law).

Nói tới đây làm tôi nhớ lại một câu chuyện mới xảy ra trước ngày đạo luật 1804 của tiểu bang Oklahoma được áp dụng. Có một cặp nhân tình còn trẻ đều là người Mễ, cô gái lái xe đến một cây xăng để đổ xăng, anh chàng trai thì bước xuống xe, mở nắp bình xăng để đổ xăng cho người yêu, trong khi đang đổ xăng, anh này mắc tè, nên bảo người yêu hãy xem chừng vòi bơm xăng dùm anh, để anh chạy vội vào phòng vệ sinh đi tè, vì nhịn hết nổi, sắp tè ra quần. Anh đã vô ý vào lộn phòng vệ sinh của đàn bà mà anh không hay biết, khi anh mở cửa bước ra, liền bị một cảnh sát viên chờ sẵn ở trước cửa phòng vệ sinh, yêu cầu anh trình giấy tờ, vì anh là người cư trú bất hợp pháp nên anh không có giấy tờ gì trong người và anh bị còng tay đưa lên xe cảnh sát, còn cô gái là người yêu của anh có thẻ thường trú nên không bị cảnh sát bắt đưa lên xe.

Sau đó ít ngày cô gái này có đến văn phòng của chúng tôi, kể lại cho chúng tôi nghe như trên và nhờ chúng tôi chỉ dẫn làm cách nào để đóng tiền thế chân cho anh ta được tại ngoại hầu tra. Chúng tôi giải thích cho cô ta hiểu rõ vì người yêu của cô cư trú bất hợp pháp và theo luật di trú hiện hành của tiểu bang, anh ta không có quyền xin đóng tiền thế chân để được phép tại ngoại hầu tra. Cô gái này còn kể cho chúng tôi nghe là mặc dù cô ta đã về Mexico làm giấy hôn thú với anh ta và đã nạp đơn bảo trợ cho anh ta với sở di trú Hoa Kỳ, nhưng vì cô ta là thường trú nhân nên phải chờ vài ba năm nữa, anh ta mới được phép đoàn tụ với cô, nên mới đây chưa đầy một tháng vì quá thương nhớ cô, anh ta đã liều mình tìm cách vượt biên giới Mexico bất hợp pháp để vào Hoa Kỳ gặp lại người yêu.

Cũng trường hợp khác xảy ra tương tự như trường hợp này, là cách đây trên 10 năm, có một anh chàng tuổi trên 30, gốc người Trung Mỹ là thường trú nhân của Hoa Kỳ, anh trở về thăm quê hương và cũng là để thăm người yêu. Trước ngày anh phải quay trở về Hoa Kỳ, tình yêu của anh với nàng đang đến độ nồng cháy, chàng không thể xa lìa nàng được, vì cho dù đã lập giá thú để bảo trợ nàng theo diện hôn thê sang Hoa Kỳ, thì ít nhất phải chờ thêm vài năm nữa, hai người mới có thể chung sống bên nhau được. Trên đường quay trở về Hoa Kỳ, chàng nghĩ ra một mưu kế lén lút đưa người yêu đi theo chàng bằng đường lái xe hơi, qua biên giới Mexico để vào Hoa Kỳ. Không may cho chàng là hai người vừa đặt chân trên phần đất của Hoa Kỳ, gần sát biên giới Mexico, thì liền bị hai con cọp của sở Di Trú Hoa Kỳ vồ tại trận trong lúc nàng đang say sưa cất lời ca của bản nhạc “Điệp Khúc Tình Yêu Nơi Chân Trời Mới” cho chàng nghe. Chàng bị truy tố ra tòa về tội phạm pháp quả tang âm mưu và trực tiếp giúp đỡ người yêu xâm nhập Hoa Kỳ bất hợp pháp. Chàng nhờ luật sư kháng cáo bản án trục xuất chàng và nàng ra khỏi Hoa Kỳ. Nhưng rồi kết quả chàng được phép ở lại Hoa Kỳ với bản án tù treo cộng thêm số tiền phạt vạ, còn nàng bị trục xuất trở về nguyên quán. Cả hai câu chuyện vừa kể trên thật đúng như câu: “Tình Không Biên Giới Nhưng Người Yêu Lại Có Biên Giới”

Tiếp theo đây chúng tôi xin được trình bầy sơ lược thêm về những điều khoản chính yếu của Đạo Luật 1804 như mới đề cập ở phần mở đầu:

  1. Bất cứ ai giúp đỡ vấn đề chuyên chở hay chứa chấp những người di dân không có giấy tờ hợp pháp đều bị khép vào tội hình sự (Felony), ngoại trừ vì sức khỏe và sự an toàn tánh mạng của những người di dân hợp pháp này mà Nhà Thờ hay trường học cần phải giúp đỡ họ, thì cả hai phía không bị chi phối bởi đạo luật này.
  2. Bất cứ ai nạp đơn xin bằng lái xe (Driver’s License) hay thẻ nhận dạng của tiểu bang Oklahoma (State Identification) đều phải bị phối kiểm tình trạng hợp pháp (Legal status) của đương đơn.
  3. Bất cứ ai bị giam giữ trong trại tạm giam (Jail) mà can phạm là người ngoại quốc vi phạm tội hình sự (Felony), sẽ không được phép đóng tiền thế chân để tại ngoại hầu tra nếu cơ quan chính quyền không phối kiểm được tình trạng hợp pháp của can phạm.
  4. Những ai tuổi từ 14 hoặc lớn tuổi hơn, nạp đơn xin được hưởng những trợ cấp xã hội của tiểu bang hay của chính quyền địa phương, đều bị phối kiểm về tình trạng hợp pháp của đương đơn.
  5. Những sinh viên không có giấy tờ hợp pháp mà vẫn còn đang theo học tại các trường đại học thuộc niên khoá 2006-2007 đều có thể được tiếp tục việc học. Những sinh viên mới không có giấy tờ cư trú hợp pháp, không thể ghi danh vào học đại học được, ngoại trừ Hội Đồng giám khảo của trường đại học đã chấp nhận bản nội quy mà sinh viên mới này hội đủ một số điều đã ghi trong bản nội quy của nhà trường.
  6. Đạo luật này không ngăn cấm những trẻ em không có giấy tờ hợp pháp, để theo học từ lớp mẫu giáo cho đến hết lớp 12 tại những trường công lập.
  7. Đạo luật này không ngăn cấm những trẻ em là công dân Hoa Kỳ nhưng Cha Mẹ của các em lại là những người không có giấy tờ hợp pháp, để xin trợ cấp xã hội của chính phủ Liên Bang cũng như của Tiểu Bang.
  8. Đạo luật này cũng không ngăn cấm các nhà thương được quyền nhận bệnh nhân vào chữa bệnh khẩn cấp, dù bệnh nhân không có giấy tờ hợp pháp. Tất cả các nhà thương có bổn phận phải chấp nhận các bệnh nhân đến nhà thương xin chữ bệnh, không cần biết tình trạng hợp pháp của bệnh nhân ra sao.

Trên đây là một đạo luật mới của riêng tiểu bang Oklahoma đối với những người đang cư trú bất hợp pháp tại tiểu bang này. Còn đối với luật di trú Hoa Kỳ nói chung, thì những người cư trú trên đất Hoa Kỳ bất hợp pháp, nếu bị bắt thì đều bị trục xuất trả về nguyên quán. Nhưng trên thực tế như chúng ta thấy, vẫn có trên 12 triệu người không có giấy tờ hợp pháp đang sống rải rác khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Luôn tiện đây, chúng tôi cũng xin trình bầy sơ qua về thủ tục xin nhập tịch Hoa Kỳ là phần cuối trong đạo luật di trú Hoa Kỳ, để quý vị nào đã nạp đơn hay sắp nạp đơn xin nhập tịch, có thể hiểu rõ thêm về vấn đề này. Tất cả các thường trú nhân đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ nên nhớ rằng, vấn đề nhập tịch Hoa Kỳ được coi như là sự tình nguyện của mỗi cá nhân thường trú (Permanent resident), có nghĩa là không một ai, kể cả chính quyền, không ai được phép ép buộc bất cứ một thường trú nhân nào phải nhập tịch, cho dù thường trú nhân đó đã sinh sống ở Hoa Kỳ qua bao nhiêu lâu năm đi chăng nữa và họ có quyền tiếp tục sinh sống tại đây như một thường trú nhân cho đến khi họ qua đời. Sau đây là đại cương của một số điều lệ quan trọng về nhập tịch mà đã được thay đổi trong đạo luật di trú mới này và được đem áp dụng kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1991 như sau:

Theo Đạo Luật Di Trú Hoa Kỳ kể từ năm 1990 trở về trước, sau khi đương đơn xin nhập tịch đã qua khỏi cuộc phỏng vấn do Sở Di Trú khảo sát miệng về lịch sử Hoa Kỳ và các cơ cấu tổ chức chính quyền Hoa Kỳ, nếu đương đơn đậu cuộc khảo sát này, thì phải đến Tòa Án Liên Bang nơi mình cư ngụ để nạp đơn thỉnh nguyện (Petition) và đóng tiền lệ phí nhập tịch cho Tòa Án, chờ đợi một thời gian sau, đương sự sẽ nhận được thư của Sở Di Trú gửi đến mời đi tuyên thệ tại Tòa Án để trở thành công dân Hoa Kỳ. Ngay sau khi nghi thức tuyên thệ chấm dứt, các công dân sẽ nhận lãnh Chứng Chỉ Nhập Tịch (Cetrificate of Naturalization) do Tòa Án ấn ký và cấp phát. Nhưng theo Đạo Luật Di Trú mới về phần nhập tịch thì kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1991 cho đến hiện tại, thủ tục nhập tịch được thay đổi hoàn toàn như sau:

1)     Theo Đạo Luật cũ, khi nạp đơn nhập tịch thì đương đơn phải trả lệ phí tới 2 lần: Một lần cho Sở Di Trú lúc nạp đơn và sau khi được Sở Di Trú phỏng vấn, lại phải đóng tiền them một lần nữa cho Tòa Án để được tuyên thệ nhập tịch. Nhưng theo Đạo Luật mới, đương đơn chỉ phải trả một lần lệ phí cho mỗi đầu người là $675.00 cho Sở Di Trú.

2)     Ngay sau khi đương đơn được sát hạch xong, vị giám khảo sẽ cho đương đơn biết đậu hay rớt, nếu rớt đương đơn sẽ nhận được thư mời đến sát hạch lại lần thứ hai và nếu rớt nữa, thì phải nạp đơn mới và phải đóng tiền lệ phí như lần đầu nạp đơn. Nếu đậu thì sẽ nhận được thư mời đến Tòa Án để tuyên thệ nhập tịch. Có một số trường hợp được tuyên thệ tại Sở Di Trú vì Tòa Án mắc bận những vụ xử án nên Quan Tòa đã trao quyền cho Sở Di Trú tổ chức cuộc tuyên thệ. Nhưng cũng có những trường hợp vì số lượng người tuyên thệ quá đông nên Sở Di Trú đứng ra tổ chức cuộc tuyên thệ tại một địa điểm rộng lớn hơn, có thể chứa tới hàng ngàn người tuyên thệ nhập tịch và vị Quan Tòa sẽ đến nơi đó để chủ tọa nghi thức tuyên thệ như ở Tòa Án. Một điều hoàn toàn khác biệt nữa, kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1991 của Đạo Luật mới là Chứng Chỉ Nhập Tịch sẽ do Sở Di Trú ấn ký và cấp phát, thay vì trước đây chứng chỉ này do Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ ấn ký và cấp phát. Đây là một biến cố lịch sử trong ngành Di Trú Hoa Kỳ mà kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1991 trở về trước, Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ sửa đổi luật lệ di trú như vậy.

3)     Một điều cần lưu ý đương đơn xin nhập tịch, là khi đến Sở Di Trú để được phỏng vấn, nếu đương đơn nào muốn đổi tên, thì phải yêu cầu vị giám khảo làm ngay công việc này để được miễn phí, bằng không sau khi đã tuyên thệ nhập tịch rồi mà muốn xin đổi tên, thì phải đến Tòa Án Tiểu Bang nạp đơn và rất tốn kém tiền bạc lẫn thời giờ đối với Tòa Án để lãnh nhận án lệnh (Court Order) của tòa cho phép đổi tên cũng như đối với Sở Di Trú để xin cấp phát chứng chỉ nhập tịch với tên mới.

4)     Theo luật di trú cũ về vấn đề thời gian cư ngụ tại mỗi tiểu bang, để hội đủ điều kiện để nạp đơn xin nhập tich tại nơi mình đang cư ngụ, đòi hỏi đương đơn ít nhất phải ở địa phương đó là 6 tháng mới có quyền nạp đơn. Nhưng theo luật di trú mới thì chỉ cần ở địa phương đó 3 tháng là đủ điều kiện. Có người cho rằng 3 hay 6 tháng chẳng ăn nhằm gì, vì làm cách nào mà sở di trú có thể điều tra đương đơn ở đây 3 hay 6 tháng được? Nếu có ai nghĩ như vậy thì quả thật quá chủ quan. Vì sở di trú muốn biết đương đơn có khai đúng sự thật hay không, thì họ có những kỹ thuật chuyên môn điều tra tìm ra sự thật của lời khai. Liên tục trong nhiều năm trời, người viết bài đã có nhiều liên hệ mật thiết thường xuyên với sở di trú qua nhiệm vụ đặc trách tuyên thệ nhập tịch tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ, chúng tôi đã chứng kiến những điều khai sai sự thật của một số đương đơn mà chúng tôi nghĩ rằng vô phương để sở di trú tìm ra sự thật của lời khai. Nhưng chỉ ít lâu sau, sở di trú đã tìm ra sự thật của lời khai. Chúng tôi chỉ biết rằng sở di trú nào cũng có một ban điều tra (Investigating Division) chuyên phụ trách vấn đề điều tra.

5)     Chiếu theo luật di trú mới, nếu thương trú nhân đủ 55 tuổi, đang cư ngụ tại Hoa Kỳ đủ 15 năm mà không biết nói và không viết tiếng Mỹ, đều có quyền nạp đơn xin khảo sát nhập tịch bằng ngôn ngữ của mình qua thông dịch viên. Nếu thường trú nhân đủ 50 tuổi, đã cư ngụ tại Hoa Kỳ đủ 20 năm, không biết nói và không biết viết tiếng Mỹ, đều có quyền nạp đơn xin khảo sát nhập tịch bằng ngôn ngữ của mình qua thông dịch viên.

Theo luật pháp và nền dân chủ truyền thống của Hoa Kỳ, thì mỗi người dân sinh sống trên đất Hoa Kỳ, không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, có quốc tịch Hoa Kỳ hay chỉ là thường trú nhân, đều được pháp luật liên bang Hoa Kỳ hay luật pháp của tiểu bang bảo vệ an ninh cá nhân, bảo vệ quyền tự do di chuyển, quyền tự do ăn nói, quyền tư hữu .v.v… và nếu người dân nào phạm tội, phải được xét xử công khai và bình đẳng trước công lý. Duy có một điều thực tế trên phương diện pháp lý, chúng ta cần phải nhận định một cách rõ rệt sự khác biệt giữa một công dân có quốc tịch Hoa Kỳ (US Citizen) và một thường trú nhân Hoa Kỳ (US Permanent Resident) khi bị truy tố ra tòa về một trọng tội, thì sự khác biệt như sau:

Nếu là một công dân có quốc tịch Hoa Kỳ bị truy tố ra tòa về một trong những trọng tội như buôn bán cần sa ma tuý (Drug traffic), cướp của giết người (Robbery, murder) .v.v… sau khi đã thi hành bản án ở tù xong, thì không còn phải lo sợ một biện pháp chế tài nào khác đối với can phạm.

Ngược lại, nếu một thường trú nhân Hoa Kỳ vi phạm một trong những trọng tội vừa kể trên mà luật pháp Hoa Kỳ coi những tội phạm này là những tội phạm xấu xa ô nhục (Crimes of moral turpitude) trong xã hội. Vì thế sau khi đã được xét xử bình đẳng trước công lý như một công dân có quốc tịch Hoa Kỳ và đã thi hành xong bản án tù rồi, can phạm lại bị Sở Di Trú giữ lại trong các trung tâm tạm giam để lập thủ tục trục xuất (Deportation procedures) trả đương sự về nguyên quán hoặc tống suất đương sự ra khỏi Hoa Kỳ đến một quốc gia đệ tam mà đương sự muốn với sự chấp thuận của quốc gia đó.

Nói tóm lại, bất cứ một thường trú nhân nào đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ, chưa có quốc tịch, thì số phận của mình hoàn toàn nằm trọn trong tay của sở di trú Hoa Kỳ về phương diện quyền hạn pháp lý, nhất là vấn đề thường trú nhân đi du lịch ra khỏi Hoa Kỳ, có thể gặp những khó khăn trở ngại xảy ra trong thời gian đang thăm viếng tại quốc gia đó mà Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại quốc gia đó chỉ có trách nhiệm can thiệp và bảo vệ cho những người nào có quốc tịch Hoa Kỳ mà thôi.

Để kết thúc vài nét chính yếu của hai đạo luật di trú vừa kể trên bằng một câu chuyện rất thương tâm về một cô gái 20 tuổi, di trú bất hợp pháp nhưng được người yêu che chở để không bị chính quyền bắt giam như sau:

Cách đây chừng 15 năm, sau buổi tuyên thệ nhập tịch tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ, có một người Trung Hoa mới nhập tịch, quen biết với tôi trước kia, đến chào hỏi và kể cho tôi nghe có một cô gái 20 tuổi bỏ trốn từ Trung Hoa Lục Địa đến được Hồng Kông, rồi từ Hồng Kông đến New York bằng đường biển trên một chiếc tàu thuỷ chuyên chở hàng hóa. Những người này được cất giấu trong những thùng rỗng, bỏ xuống hầm tàu chung với những thùng hàng hóa.

Sau khi những người này đến New York được vài tháng, có công ăn việc làm, thì họ phải trả tiền nợ tùy theo tiền lương họ kiếm được hàng tháng cho tổ chức bất hợp pháp này. Sau hơn bốn tháng cư trú lậu ở thành phố New York, cô gái này tình cờ cặp một chàng trai người Mỹ da màu và cả hai người yêu nhau, cô theo anh này đến nhà anh ta và anh ta đang cố gắng nhờ luật sư lo thủ tục giấy tờ với sở di trú, để hợp thức hóa cho cô được cư trú hợp pháp, sau đó hai người sẽ làm đám cưới với nhau. Trong khi luật sư đang tiến hành thủ tục giấy tờ cho cô, thì đùng một hôm, cảnh sát mở cuộc hành quân truy lùng tội phạm giết người tại khu vực là nơi cô đang sinh sống với người yêu, vừa nghe thấy tiếng gõ cửa của cảnh sát, người yêu của cô vội bế cô lên giường nằm và anh ta lập tức nằm đè lên người cô, nhờ thân hình to lớn của anh đã phủ kính thân hình bé nhỏ của cô, nhìn vào chỉ thấy mình anh như đang ngủ say, rồi anh liền báo hiệu cho người em trai ra mở cửa để cho bốn người cảnh sát vào lục soát trong nhà. Vì cảnh sát đã có mang theo hình ảnh nhận diện kẻ sát nhân, nên khi họ nhìn thấy rõ mặt và thân hình đồ sộ của anh chàng này đang ngủ say trên giường, nên cảnh sát cũng chẳng thèm hỏi giấy tờ của anh ta. Cuộc lục soát kéo dài chưa đầy mười phút, không tìm thấy vết tích gì khả nghi trong căn nhà này nên tất cả bốn cảnh sát viên rủ nhau ra đi. Sau khi người em trai ra đóng cửa nhà lại, liền chạy vội vào phòng để báo cho anh mình bỉết, là cảnh sát đã bỏ đi rồi, thì người anh này vội chống hai bàn tay lên để ngồi dậy. Nhưng hỡi ôi, thật là một cảnh tượng thương tâm xảy ra, chỉ vì hành động phản ứng tự nhiên muốn cứu người yêu, lo sợ người yêu bị bắt vì cư trú bất hợp pháp nên anh vội vàng không cần suy nghĩ, đã dùng thân hình to lớn nặng 220 pounds của mình, nằm đè lên trên thân hình bé nhỏ của cô gái nặng có 90 pounds, để phủ kín không cho cảnh sát nhìn thấy được cô đang nằm ở dưới. Vì không thể chịu đựng nổi sức nặng 220 pounds đè lên người cô, làm cho cô tắt thở vĩnh viễn ra đi sang bên kia thế giới lúc nào mà anh không hay biết, thật đúng là tình không biên giới và người yêu của anh cũng không còn biên giới, anh tự hỏi lòng mình không biết đến bao giờ anh mới được gặp lại người yêu ở bên kia thế giới.

Nói tóm lại, bất cứ một thường trú nhân nào sinh sống trên đất nước Hoa Kỳ, đều phải tùy thuộc số phận mình vào Sở Di Trú Ngoại Kiều (US Citizenship & Immigration Services), trên nhiều phương diện pháp lý, nhất là vấn đề đi du lịch ra khỏi Hoa Kỳ, trước khi đi và sau khi trở về, cần phải kiểm soát cẩn thận những giấy tờ xuất ngoại như Thẻ Thường Trú đã hết hạn chưa? Hoặc Sổ Thông Hành cho phép du lịch và nhập cảnh trở lại Hoa Kỳ (Re-entry Permit or Travel Document) và dự tính bao lâu cho công việc làm ăn thương mại ở quốc ngoại. Kẻo không, có thể sẽ gặp phải những khó khăn đầy bất trắc, mà không một ai có thể dự đoán trước được.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s