Trần Viết Điền – VỀ NHỮNG DI TÍCH QUÍ HIẾM MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở LÀNG DƯƠNG XUÂN BẮC XỨ HUẾ

image002 Làng Dương Xuân ở phía bắc phòng thành Huế được thành lập vào thế kỷ 18, tạm gọi làng Dương Xuân Bắc, để phân biệt làng Dương Xuân Thượng, Dương Xuân Hạ ở Nam sông Hương. Ở làng này, gần đây chúng tôi phát hiện một số di tích lịch sử quí hiếm, xin công bố để mong được sự góp ý của các nhà nghiên cứu.

I/KHẢ NĂNG TÌM ĐƯỢC  TÔNG TÍCH ĐẠI TƯ MÃ NGÔ VĂN SỞ Ở HUẾ?

Vấn đề có một hay hai nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở, từng một thời rộ lên ở Huế, qua cách đặt vấn đề của nhà nghiên cứu Phan Thuận An.   Chúng tôi đã tiếp cận vấn đề từ năm 2001, đã điền dã ở làng Thuận Nhơn, tỉnh Quảng Trị, quê hương tướng Ngô Văn Sở ( có con gái là bà Hiền Phi Ngô Thị Chính) . Nhờ tư liệu lịch sử được phát hiện ở làng Thuận Nhơn, chúng tôi đã xử lý và đã đi đến kết luận có hai tướng Ngô Văn Sở: Vệ Úy Ngô Văn Sở làng Thuận Nhơn, từng gia nhập phong trào Tây sơn sau đó về hàng Nguyễn Vương (về sau là vua Gia Long), còn Đại tư mã Ngô Văn Sở, gốc làng Trảo Nha,Thạch Hà, Nghệ An…đã bị dìm chết ở sông Hương năm 1795, cùng với hai cha con Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, trong cuộc biến ở Phú Xuân do Vũ Văn Dũng, Trần Văn Kỷ chủ mưu. Chúng tôi đã công bố kết quả nghiên cứu trong “Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân – Thuận Hóa thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001”. Gần đây nhà nghiên cứu Phan Thuận An, đã về Thuận Nhơn nghiên cứu và đã công bố bài viết “ Tướng Ngô Văn Sở ấy không phải là danh tướng Ngô Văn Sở”(Tạp chí Sông Hương,6-2013)có kết luận rằng có hai nhân vật Ngô Văn Sở khác nhau, nghĩa là thừa nhận kết quả nghiên cứu của chúng tôi năm 2001. Vệ úy Ngô Văn Sở, một tướng Tây Sơn, về sau là nhạc gia của vua Minh Mạng thì đã có mộ phần, nhà thờ, hậu duệ khá nhiều ở Thuận Nhơn, còn Đại tư mã Ngô Văn Sở, một danh tướng thời Tây Sơn, góp phần quan trọng trong đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu[1789] thì   chưa tìm được tông tích ở Huế nói riêng và nơi khác nói chung!Vì vậy, chúng tôi có ý tưởng tìm kiếm dấu tích của Đại tư mã Ngô Văn Sở ở cố đô Phú Xuân.

Thử tìm tông tích Đại tư mã Ngô Văn Sở ở Phú Xuân theo hướng sau:

Sự kiện trị Triều Tây Sơn, triều Nguyễn ở Phú Xuân trị tội kẻ thù, rồi vứt xác, vứt hài cốt xuống   Sông Hương là có thật, như hài cốt ngài Nguyễn Phúc Luân bị Tây Sơn xử lý, Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, Đại tư mã Ngô Văn Sở bị phe Vũ văn Dũng dìm xuống sông Hương, hài cốt Nguyễn Nhạc, hài cốt vợ chồng Nguyễn Huệ, thi thể nát tan của Nguyễn Quang Toản cũng bị bắn xuống sông Hương, thi thể Trần Văn Kỷ sau khi trầm mình cũng trôi trên sông Hương… là có thật. Sọ của Nguyễn Phúc Luân được bí mật vớt và chôn cất, các giỏ mây đựng các hài cốt, thi thể nát tan của vua quan Tây Sơn khi bị vua Gia Long trị tội vào mùa đông Nhâm Tuất[1802]lại có khả năng trôi về con lạch của làng Kim Bồng, gần Qui Lai, Phú Vang, cũng được người thân theo dõi và chôn cất, có che giấu, lần lần có dựng bia dù không tường minh. Thế thì ba thi thể họ Bùi và họ Ngô cũng có khả năng được “hành xử” như thế. Với cách suy nghĩ theo chiều hướng này, chúng tôi để tâm tìm kiếm dấu tích của các vị ấy, quanh các làng hai bờ sông Hương hoặc chi lưu sông Hương vậy.

Lệ thường người Việt có suy nghĩ “nghĩa tử nghĩa tận”, khi một người đã qua đời, dù người ấy là kẻ thù, người ta không nỡ để thân xác người chết phải “trôi sông lạc chợ” mãi. Khi xác người xấu số trôi đến nơi vắng vẻ, không có người qua lại, người thân hoặc những người thân tín được thuê, hoặc những người có từ tâm, bí mật vớt xác những người xấu số để chôn cất. Vũ Văn Dũng, Trần Văn Kỷ không thể “cạn tàu ráo máng” với đồng liêu, từng là bạn chiến đấu một thời của hai ông, nên họ sẽ “ làm ngơ” trong việc có người bí mật an táng Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, Đại tư mã Ngô Văn Sở bị phe họ giết. Hơn nữa, hai vị họ Bùi, Đại tư mã là thân bằng quyến thuộc của danh tướng Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, tính đến hết thời Cảnh Thịnh vẫn còn có binh quyền, chắc chắn các vị này âm thầm ra lệnh vớt xác những người xấu số, bí mật chôn cất và dựng mộ tạm, tất nhiên có bảo vệ và có hương khói đàng hoàng. Chúng tôi nghĩ rằng, vợ chồng Bùi Thị Xuân sẽ táng ba vị trên ở gần nơi đóng tượng binh của nữ tướng họ Bùi. Thế thì đại bản doanh của bà Bùi Thị Xuân, khi ở kinh đô Phú Xuân, ở đâu?

Trong thời gian ở Phú Xuân quá ngắn, Tây Sơn sẽ tiếp quản những phủ Tập tượng thời Võ vương, Duệ vương. Khi xưng vương năm 1744, Võ vương đã biến phủ Tập tượng tả thành Điện Trường Lạc (khu vực có đình Xuân Giang hiện nay), còn phủ Tập tượng hữu (sau trở thành điện Voi Ré).Phủ tập tượng tả được di dời đến chỗ nào? Trong địa bạ của làng Dương Xuân Hạ, có từ thời gia Long, vẫn ghi chép những khoảnh đất thuộc làng Dương Xuân ở bắc thành Huế[tạm gọi làng Dương Xuân Bắc], dẫu từ thế kỷ 18, khi Lê Quí Đôn viết Phủ biên tạp lục, về mặt hành chánh, làng Dương Xuân ở bờ Nam sông Hương không còn quản lý hành chánh những khoảnh đất thuộc làng Dương Xuân Bắc. Trong danh mục làng xã của sách PBTL, chép thôn Dương Xuân (Bắc) thuộc về tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang. Phải chăng, ban sơ thôn Dương Xuân Bắc là những khoảnh đất sát   phủ Tập Tượng mới, do binh tướng cùng gia đình của phủ Tập Tượng tả ở gò Dương Xuân được di dời đến chỗ mới vào năm Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát biến phủ này thành Điện Trường Lạc[1744]. Có khả năng, phủ Tập Tượng Tả được di dời ra khoảnh đất chưa có người ở của làng Đốc Sơ, An Vân…bên bờ sông Bạch Yến xưa. Mỗi phủ tập tượng là một tổ chức tượng binh, ngoài số voi chiến được nuôi và huấn luyện, còn một tập thể khá đông binh lính, tướng lĩnh, chưa kể có gia đình của binh tướng. Để phục vụ phủ tập tượng, chung quanh phủ sẽ có chợ, hàng quán, hằng ngày cung cấp những nhu yếu phẩm cho phủ. Khi di dời phủ Tập Tượng tả, có khả năng một số gia đình “đi theo” đơn vị đến vị trí mới, lập thành thôn Dương Xuân và triều đình Võ vương lệnh “ chính quyền” xã Dương Xuân cũ quản lý bộ phận dân chúng này. Phủ Tập Tưởng mới, về sau “cung cấp” đất đai để thôn Dương Xuân trở thành làng Dương Xuân Bắc vào thời vua Minh Mạng, khi triều Nguyễn không còn đóng tượng binh ở đây. Thế thì làng Dương Xuân, ở bờ Bắc sông Hương, tạm gọi Dương Xuân Bắc, có quan hệ với làng Dương Xuân Thượng và làng Dương Xuân Hạ là do “cư dân” của làng từng là những “công dân” từng “đăng ký hộ khẩu” ở làng Dương Xuân (Nam). Khi thành thôn xóm, họ cũng lấy tên thôn Dương Xuân nhưng tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang lại quản lý số nhân khẩu thôn Dương Xuân mới.

Làng Dương Xuân Bắc ?

            image001Đình Dương Xuân Bắc, trong sân đình, tả hữu có Miếu Thành hoàng thờ Ngô đại tướng và Miếu Bà.

                 Làng Dương Xuân là ngôi làng được thành lập từ thế kỷ 18, thời các chúa Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Phúc Thuần với giai đoạn đầu được trình bày nêu trên. Làng ở phía bắc phòng thành Huế, giáp Hộ Thành hà, đông giáp làng Thế Lại, tây giáp làng Bao Vinh,Đức Bưu, bắc giáp làng Triều Sơn Tây. Làng có từ thế kỷ 18, đến thế kỷ 19 mới dựng đình làng. Đình tọa lạc trên khoảnh đất khoảng 500m2 , hướng Đông Nam, kiêm Nam; tả hữu có tả vu, bên phải là chùa Xuân Quang. Sân đình, phía trái có miếu Thành Hoàng và phia phải có Miếu Bà. Bên trong đình có hoành phi đề ba chữ Hán“Phát Sinh Đình”. Hiện nay ở làng còn phụng giữ các sắc phong thành hoàng gồm sắc phong Minh Mạng năm thứ 7, ngày 25 tháng 8[1827] (SP1), sắc phong Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 8 tháng 11[1842](SP2), sắc phong Tự Đức năm thứ 3, ngày 6 tháng 8[1850](SP 3), sắc phong Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7 [1887](SP 4), sắc phong Duy Tân năm thứ 3, ngày 1 tháng 8[1909] (SP 5) và sắc phong Khải Định năm thứ 9, ngày 25 tháng 7[1924]. Đặc biệt ở sau khuôn viên đình Dương Xuân Bắc, chùa Xuân Quang có mộ ngài Thành hoàng Ngô đại tướng quân. Mộ hình chữ nhật, kibjs thước 5mx7m, được tôn tạo và dựng bia thời vua Khải Định, trên cơ sở ngôi mộ giống hai “mả Tàu” nêu trên.Bia đá Thanh có khắc “Bổn thổ Thành Hoàng Ngô đại tướng…” và đọc lạc khoản cho biết bia phụng lập thời Khải Định. Cách đình làng về phía phải khoảng 200m, dân làng còn phụng giữ hai ngôi mộ cổ, hai mộ đắp vôi vữa cổ và cũng cách nhau khoảng 200m.Hai ngô mộ kiểu thức giống nhau, một mộ to, một mộ nhỏ hơn, một uynh kiểu vòng kiền, có nữ tường, còn nấm hình trứng ngỗng. Dân sở tại truyền ức; hai ngôi mộ này là “mả Tàu” hay “mộ do Cao Biền đắp để yễm”. Ngài Thành hoàng Ngô Đại tướng quân không có hậu duệ ở làng Dương Bắc.

Vị thành hoàng là nhân vật lịch sử nào?

image002

               Mộ Thành Hoang Ngô đại tướng của làng Dương Xuân Bắc

 

Tại sao làng Dương Xuân Bắc lại “âm thầm” thờ phụng “ Ngô đại tướng quân” và vị nhân thần này trở thành vị thành hoàng của làng?

Nghiên cứu 5 đạo sắc phong (SP 1,…, SP 5) thì thấy 4 sắc phong SP 1, SP 2, SP 3, SP 4 chưa có họ và chức tước của vị Thành Hoàng của làng nhưng đến SP 5 thời vua Khải Định mới có : “Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Bổn Thổ Thành Hoàng Ngô Đại Tướng Quân Chi Thần”. Mà làng Dương Xuân Bắc là ngôi làng thành lập muộn, trên những khoảnh đất bồi bên dòng sông Bạch Yến, cài răng lược với các làng An Vân, Đốc Sơ,Đức Bưu…Vì thế, tiền thân của làng Dương Xuân Bắc là trại binh tượng, được khai phá trên phần đất bồi đầy cây cỏ dại, nơi thả trâu bò ăn cỏ, hay nơi bứt bổi của các làng quanh bãi. Vì thế phù hợp nơi đóng tượng binh, bên bờ sông, người xưa dễ tạo những tréng voi nơi voi uống nước, còn khi cần tắm thì voi xuống sông Bạch Yến. Theo bác Lê Xuân Ngọ, người làng, ở làng có những địa danh tréng voi, tàu voi. Thời Tây Sơn, tượng binh hùng mạnh, được chỉ huy bởi những danh tướng như Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở,…sẽ tiếp tục đặt đại bản doanh ở phủ Tập Tượng Hữu, sau này thành Điện Voi Ré, và ở phủ Tập Tượng mới, về sau thành thôn làng Dương Xuân Bắc. Vậy có khả năng khi đại bản doanh của Bùi Thị Xuân ở huế, theo lệnh của bà Bùi Thị Xuân, thuộc hạ đã bí mật vớt xác Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ và Ngô Văn Sở về táng bí mật trong doanh trại của quân Tây Sơn khoảng đầu năm 1796. Ban đầu đắp vôi mật 3 ngôi mộ cho ba vị, phao tin là mộ yểm của Cao Biền, để âm thầm bí mật hương khói. Khi triều Tây Sơn sụp đổ, một bộ phận tượng binh được biên chế thành tượng binh triều Nguyễn, còn một bộ phận được tha và tiếp tục khai phá khoảnh đất bồi chung quanh phủ phủ Tập Tượng Bắc, nhập vào   thôn Dương Xuân Bắc vậy. Đối với cư dân Dương Xuân Bắc, một bộ phận là binh lính, gia đình của quan binh Tây Sơn vẫn âm thầm tưởng nhớ chủ tướng Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân. Người làng không chính thức lập đình làng, chỉ dựng miếu Thành Hoàng (thờ Ngô đại tướng) và miểu Bà (thờ nữ tướng Bùi Thị Xuân).

image003

Một trong hai tượng voi chầu trước mộ Ngô đại tướng

       image004

Mộ nhỏ (táng Bùi Đắc Trụ (?) )

 

image005

Mộ lớn (táng Bùi Đắc Tuyên(?))

Cứ thế vào thời Gia Long, làng Dương Xuân Bắc chỉ là một thôn, chưa có trong địa bạ Gia Long, chưa viết đơn xin sắc phong, qua thời vua Minh Mạng thì thôn Dương Xuân Bắc thành làng, mới lập đình, làm đơn xin nhà vua sắc phong Thành Hoành. Vì “cơn sốt” truy lùng “Ngụy Tây” còn nóng, chức sắc làng còn giấu tông tích vị thành hoàng, và Làng Dương Xuân Bắc cứ âm thầm truyền miệng về vị Thành Hoàng là Ngô Đại tướng , đợi đến đời vua Khải Định, theo lệnh triều đình làng đã bắt đầu ghi vào đơn nộp triều đình họ và chức tước đại tướng. Có khả năng khi dựng mộ cũ, người xưa đã khắc lên đá hoặc gạch ngày táng, giấu kín, khi tôn tạo phát hiện di vật có ghi ngày 30 tháng giêng âm lịch, nên làng đã kỵ Ngô đại tướng vào ngày 30 tháng giêng. Rà soát chính sử cũng như tài liệu phương Tây, không biết ngày Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, Ngô Văn Sở bị dìm sông Hương. Nhờ Đại Nam chính biên liệt truyện cho biết từ mùa đông năm 1794, biến cố phe Vũ Văn Dũng bắt giam Bùi Đắc Tuyên, cho người vào Qui Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ, cho người ra bắc để cùm Đại tư mã Ngô Văn Sở, giải về Phú Xuân, kéo dài trong một tháng, có thể dìm những vị này xuống sông Hương vào dịp cuối năm. Xác trôi sông, có thể được vớt khoảng đầu năm 1796, chôn cất khoảng cuối tháng giêng; khi chôn có thể ghi lại ngày phụng lập. Vì vậy người đời sau có thể lấy ngày trước ngày lập mộ một ngày để làm ngày kỵ.

Tóm lại, làng Dương Xuân Bắc thờ Thành hoàng Đại tư mã Ngô Văn Sở ở miếu Thành hoàng, thờ nữ tướng Bùi Thị Xuân ở miếu Bà, phụng giữ hai ngôi mộ vôi là của Bùi Đắc Tuyên, Bùi Đắc Trụ, phụng giữ và tôn tạo mộ Đại tư mã Ngô Văn Sở thành mộ Thành hoàng Ngô đại tướng. Những bô lão cứ truyền khẩu cho số ít người thân ruột, giấu kín tông tích thành hoàng họ Ngô và chức tước Đại tư mã, chỉ cho biết họ và chức tước tầm cỡ đại tướng. Về sau, con cháu dân làng không còn biết tông tích ngài Thành hoàng họ Ngô nữa. Chúng tôi mạo muội đưa ra   một giả thuyết công tác khảo cổ học và hy vọng các cơ quan chức năng tiến hành thám sát khảo cổ học hai ngôi mộ vôi để kiểm chứng giả thuyết công tác. Mộ lớn là mộ Thái sư Bùi Đắc Tuyên, mộ nhỏ là mộ Bùi Đắc Trụ. Nếu tiến hành khai quật khảo cổ học, hai ngôi mộ vôi, được làng Dương Xuân bảo quản trên dưới hai trăm năm, nếu tìm được những di vật “làm dấu” của người xưa thì có khả năng kết luận giả thuyết của chúng tôi đúng hay sai. Rất mong được trao đổi với các nhà nghiên cứu, các cơ quan hữu trách quan tâm với niềm mong tìm được mộ của anh hùng Đại tư mã Ngô Văn Sở ở Huế vậy.

 

II/Nhà “ Phương Thốn Thảo đường” của Thi ông Tùng Thiện ở đâu?

           Khi mãn tang mẹ, Tùng quốc công Miên Thẩm rời lều tranh bên mộ của bà Thục Tần, về phủ của ông ở bờ bắc sông Lợi Nông, đổi Tiêu viên thành nhà thờ bà Thục Tần, biến Ký thưởng viên thành nơi Đức Thầy Tùng Thiện đào tạo học trò…Sau đó ông được vua Tự Đức phong tước Tùng Thiện công. Nhân mừng sinh nhật 40 tuổi, vua Tự Đức tặng quà, câu đối, ông lại tâu vua Tự Đức để xin mua 12 mẫu ruộng ở làng Dương Xuân để làm ruộng thờ và ông cho   dựng Phương Thốn Thảo đường, chằm Hoàng Tử. Về sau khi thì ông ở phủ để hương khói mẹ, dạy học trò, khi thì qua ngôi nhà tranh Phương Thốn Thảo đường ở khoảnh đất 12 mẫu tại làng Dương Xuân. Ngôi nhà này cùng chằm Hoàng Tử là nơi ở để coi sóc công việc làm ruộng và còn làm nơi gặp mặt anh em, bạn bè, xướng họa thi ca một cách phóng khoáng, dân dã. Sau khởi nghĩa Đoàn Trưng[1866], Tùng Thiện công bị triều đình vua Tự Đức phạt trừ bổng 8 năm, do thiếu sót trong việc chọn rễ, Tùng Thiện công về sống ở Phương Thốn Thảo đường cùng với gia đình, chuyên lo việc ruộng vườn ở 12 mẫu đã mua trước đó. Những ngày sống ở nông thôn, trong “nhà cỏ vuông một tấc”, sáng tác thi văn của Thi ông lại càng đậm nét “thân dân” hơn. Vậy 12 mẫu đất, có Phương Thốn Thảo đường của Thi ông Tùng Thiện ở đâu?

Trước hết xin rà soát thư tịch cổ có chép việc Tùng Thiện công dựng Phương Thốn Thảo đường. Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “ Năm thứ 4[Tự Đức]…Tháng 8…Thục Tần mất. Tần trước đã được phong làm Thục tần, sau phải tội bị cách, thu lại sách phong trước. Đến bây giờ công dâng sớ khẩn xin, lời rất thương xót, vua đặc biệt cấp trả lại. Ông làm nhà ở mộ, đau thương hết lễ. Khi hết tang, được tấn phong Tùng Thiện công. Năm thứ 11, ngày sinh 40 tuổi, vua cho câu đối rằng: “ Học lễ, học thi sớm theo đình huấn, giữ trung, giữ hiếu, làm mãi phiên thần”. Ông lại tâu xin mua 12 mẫu ruộng thờ ở xã Dương Xuân, làm nhà để ở, gọi là Phương Thốn Thảo Đường lấy nước ở ngòi vào làm chỗ chứa nước gọi là chằm Hoàng Tử. Trên bờ chằm có các nơi thắng cảnh: như giếng uống nước, cái giường nằm, nhà đọc sách, ngoài thú ngâm vịnh, lấy sách vở làm vui.”(sdd, tập II, tr.193).

Thứ đến tiếp cận việc xác định Phương Thốn Thảo đường của một số nhà nghiên cứu về đời và thơ của Tùng Thiện vương qua một số sách đã xuất bản. Trong sách “Vua Minh Mạng và viện Thái y triều Nguyễn” (Nhà XBTH,1998) hai tác giả Lê Nguyễn Lưu và Phan Tấn Tô chép việc Tùng Thiện công mua ruộng, làm nhà dựa vào Đại Nam chính biên liệt truyện: “ Năm 1858, nhân mừng sinh nhật lần thứ bốn mươi của ông, vua Tự Đức ban quà và thơ. Ông tâu xin mua 12 mẫu ruộng thờ ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn Thảo Đường (nhà cỏ vuông một tấc), chỗ chứa nước gọi là Hoàng Tử Pha (chằm hoàng tử)” (sđ, tr.29). Hơn nửa trang 29, hai tác giả viết về vụ Đoàn Trưng, rễ trưởng của Tùng Thiện công, khởi nghĩa năm 1866, công được vua Tự Đức xử nhẹ bằng trừ bổng 8 năm. Hai tác giả công bố kêt quả điền dã : “ Suốt tám năm bị trừ bổng ấy, ông sống đạm bạc.

           Theo hướng nghiên cứu điền dã, chúng tôi nghe kể gia đình ông lên Dương Xuân sửa sang ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để độ nhật. Hiện nhà tăng của chùa còn nhiều liễn đối thuộc phủ Tùng Thiện, hậu liêu cũng thờ một số nhân vật liên quan. Có lẽ trong thời gian “thất sũng” này, tình cảm của ông đối với nhân dân lao động vốn đã không thiếu lại càng khắc đậm thêm (sđ, tr.30). Hai đoạn trích dẫn trên, tuy các tác giả không khẳng định Phương Thốn Thảo đường được dựng gần chùa cổ Từ Lâm, nhưng cả hai nơi ở của gia đình Tùng Thiện công, thời công bị “thất sũng”, đều ở xã Dương Xuân nên người đọc nghĩ là gia đình Tùng Thiện công trong thời gian công bị phạt bổng [1866,1873] đã lên Dương Xuân làm nông, họ sống ở Phương Thốn Thảo Đường và nhà tăng chùa cổ Từ Lâm. Thực vậy, nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Bảo Quyến, hậu duệ Tùng Thiện Vương, viết sách “Tùng Thiện vương đời và thơ”, xuất bản năm 2008, đã dựa vào sách “Vua Minh Mạng và viện Thái y triều Nguyễn” để viết về giai đoạn Thi ông bị phạt bổng: “Ngày tiếp phủ Tôn Nhân lục án, Vương mặc áo rộng đen ra trước từ đường đốt nhang đèn quì thẳng lưng hai tay dâng lên cây roi miệng lâm râm khấn vái một hồi rồi nằm sấp trước bàn thờ để chịu đòn như hồi sinh tiền bà Thục Tần đã thường trị tội. Sau đó Vương đem cả con, cả cháu sang ở “Phương Thốn Thảo đường”(nhà cỏ vuông một tấc) ở làng Dương Xuân đồng thời cho sửa sang ngôi chùa cổ Từ Lâm (hiện nhà tăng của chùa còn nhiều liễn đối của phòng Tùng Thiện, hậu liêu cũng còn thờ một số nhân vật liên quan) làm nơi cư ngụ, chuyên lo việc ruộng vườn, vợ con phải canh tác, trồng cây, sống đạm bạc nhờ vào ruộng vườn cây trái(sdd, tr. 66).

Qua một số tư liệu đã dẫn, biết các nhà nghiên cứu nêu trên, dẫu không nói rõ vị trí của ngôi “nhà tranh vuông một tấc” nhưng người đọc có thể đoán các tác giả nghĩ rằng Phương Thốn Thảo đường cũng gần chùa cổ Từ Lâm, tức ở vùng Dương Xuân Thượng và Dương Xuân Hạ.

Theo chúng tôi thì 12 mẫu ruộng, có dựng Phương Thốn Thảo đường của Tùng Thiện công không thuộc làng Dương Xuân trên đồi Dương Xuân ở Nam sông Hương mà thuộc làng Dương Xuân Bắc thuộc Hương Sơ. Tư liệu sau minh chứng khẳng định của chúng tôi.Thật vậy, Nguyễn Phước Bảo Quyến đã dẫn theo Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng trong sách Tùng Thiện Vương, (tiểu sử và thi văn)(1970): “Năm Tự Đức thứ 21[1868], một hôm Vương đang răn dạy con cháu: “Ngày sau nên giữ lấy nghề nông, thân lao mà tâm nhàn, tự mình làm cho mình, khi nào mình cũng tự chủ. Chốn này, hiện ta có 12 mẫu, ta đã đắp đê đào hói, lụt có ngả thoát nước, hạn có ngả đem nước vào vì lợi cho Lễ Khê, Thế Lại, Bao Vinh cả ba làng nên ta đã chịu tốn hơn vạn quan và mất hơn vài sào đất. Ta mong con cháu ngày sau biết giữ theo chí hướng của ta, dẫu giàu dầu nghèo cũng không đến nỗi làm điều bất thiện”(sdd, tr.66).

Xem bản đồ Thừa Thiên Huế, tỉ lệ 1/100.000, lập vào đầu thế kỷ 20, được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu in trong Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, với các địa danh có từ thế kỷ 19, được bảo lưu phần lớn, cho thấy làng Dương Xuân, Lễ Khê, Thế Lại, Bao Vinh bao quanh cánh đồng hằng trăm mẫu. 12 mẫu có Phương Thốn Thảo đường của Thi ông Tùng Thiện là ở đây.

image006

Một phần bản đồ có từ đầu thế kỷ 20

Chúng tôi về làng Dương Xuân (bắc Hộ Thành hà) để tìm dấu tích “Phương Thốn Thảo đường” và 12 mẫu ruộng thờ của Thi ông Tùng Thiện vào ngày 22/2/2014. Chúng tôi đi dọc một con hói lấy nước từ Hộ Thành hà và hỏi dân sở tại về 12 mẫu ruộng của Thi ông. Kết quả chúng tôi gặp được chủ nhân một ngôi nhà khang trang, nằm giữa cánh đồng, đó là ông Nguyễn Hữu Toàn. Ông Toàn tiếp chuyện chúng tôi và cho biết như sau:

Ông Nguyễn Hữu Toàn (59 tuổi, cán bộ phòng Giáo dục huyện Hương Trà), có thân phụ là ông Nguyễn Đăng Phụng, ông nội là Nguyễn Đăng Thu và ông cố là Nguyễn Đăng Mẫn. Chính ông Nguyễn Đăng Mẫn là một người “quản gia” của phủ Tùng Thiện công. Tùng Thiện công từng bảo ông Mẫn hoặc chọn đất vườn ở quanh phần mộ của bà Thục Tần ở Dương Xuân (thượng) hay về coi sóc 12 mẫu ruộng thờ ở Dương Xuân (Bắc) . Ông Mẫn đã chọn về quản lý 12 mẫu ruộng thờ ở Dương Xuân (Bắc). Sau khi Tùng Thiện công trở lại lo việc ở Tôn Nhân phủ, ông Nguyễn Đăng Mẫn ở lại Phương thốn thảo đường để lo tổ chức canh tác 12 mẫu ruộng thờ. Ông Nguyễn Hữu Toàn còn nhớ mỗi mẫu ruộng thờ đều có đặt tên, dựng bia; tên chữ Hán các mẫu: Vô, Cô, Ứng, Lâm, Hoàng, Di, Luy, Hải, Trọng, Giáp,…Đặc biệt Thi Ông còn dựng bia đá Thanh, khắc bài minh, dựng đầu cống gạch, bắc ngang con hói dẫn nước vào chằm Hoàng Tử, để vào khuôn viên Phương thốn thảo đường. Hiện nay bia này vẫn còn nhưng chữ đã mòn, còn cống gạch vẫn được ông Nguyễn Hữu Toàn giữ lại nhưng đã cho dựng một cầu nhỏ bằng bê tông trùm lên cống gạch. Theo ông Toàn hai ông hoàng Tùng Thiện và Tuy Lý thường đi ngựa về đây để tổ chức ngâm vịnh những khi rỗi rảnh. Cha ông của ông Toàn 3 đời canh tác trên 12 mẫu ruộng thờ, dân gian gọi là ruộng ông hoàng, để cung cấp lương thực cho phủ Tùng Thiện và phủ Tuy Lý.

Hiện nay trên 12 mẫu ruộng thờ đã được xây dựng trường PTTH Hương Vinh (phía trước chằm Hoàng Tử), phía tả Phương thốn thảo đường là Trung Tâm y tế bệnh xã hội. Còn “ngôi nhà tranh vuông một tấc” đã thành nhà bê tông của ông Nguyễn Hữu Toàn, tuy nhiên ông Toàn vẫn bảo tồn các di vật của gia đình Tùng Thiện như bộ nồi đồng, sanh đồng, thau đồng, cái bàn, cái tủ gỗ, cái rương,…Việc phát hiện tấm bia với bài minh, dấu tích Phương thốn thảo đường, chằm Hoàng Tử, khoảng nửa số ruộng thờ của Thi ông Tùng Thiện là triển vọng đối với việc bảo tồn bảo tàng về di tích gắn bó với một nhà thơ nổi tiếng của Huế. Không những thế về mặt du lịch nếu biết khai thác thì đây là một địa chỉ tham quan thú vị. Hơn nữa theo hướng “nhà nước và nhân dân cùng làm”,   nếu có đầu tư phục dựng chằm Hoàng Tử với các hạng mục kiến trúc làm bằng tranh, tre bên bờ chằm, làm nơi tổ chức “ngâm thơ, câu cá, hóng mát đêm trăng,…” cho Hội văn nghệ, cho khách du lịch trong các kỳ Festival Huế thì quá hay…

image007

Bia, cống gạch, những di vật của Phương Thốn Thảo đường, chằm Hoàng tử (ảnh T.V.Đ)

 image008

             Ruộng thờ và con hói nối Hộ Thành hà với chằm Hoàng Tử (Ảnh T.V.Đ)

 image009

                           Bàn ghế, phản, tủ,…của Thi ông Tùng Thiện ở Phương Thốn thảo đường được gia đình ông Nguyễn Hữu Toàn bảo lưu (ảnh T.V.Đ)

               Mãi điền trong Thương Sơn thi tập được Thi ông Tùng Thiện sáng tác trong khoảng thời gian từ 1864 đến 1870, sau khi Thi ông đã mua được 12 mẫu ruộng thờ, dựng Phương Thốn Thảo đường, đào chằm Hoàng Tử. Đặc biệt sau loạn Đoàn Trưng [1866], Thi ông sống hẳn ở Phương Thốn thảo đường và sống nhờ 12 mẫu ruộng với nỗi đau tâm thân, u ẩn…Thế thì việc xác định đúng vị trí của “nhà cỏ vuông một tấc” với cảnh trí chung quanh sẽ góp phần cảm thụ một số bài thơ trong Mãi điền vậy. Cũng nhờ nghiên cứu tìm kiếm “công trình” này mới thấy trong hành trạng của Thi ông Tùng Thiên, ngoài sự đóng góp lớn lao của Thi ông cho văn học nước nhà, đào tạo một số nhân tài, Thi ông còn bỏ của tiền làm thủy lợi không những cho ruộng của Thi ông mà còn giúp hằng trăm mẫu ruộng của các làng Dương Xuân, Lễ Khê, Bao Vinh, Thế Lại hạ nữa. Tiếc rằng vua Tự Đức chỉ học hỏi Thi ông về thi pháp, chỉ nhờ ông lo việc ở phủ Tôn Nhân, chứ không thực sự hỏi Tùng Thiện công việc nước, việc dân. Xin trích nửa bài tứ tuyệt do Thi ông cảm tác vào ngày đầu năm đón tết đầu tiên ở “nhà cỏ vuông một tấc” thay cho lời kết bài viết: “Minh Mạng niên gian hoàng thập tử/Bạch đầu nguyên nhật tọa sao thư(Hoàng tử thứ mười triều Minh Mạng/Bạc đầu ngồi chép sách đầu năm).

                                                                             Huế, tháng 4 năm 2014

                                                                                     Trần Viết Điền

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s