TS Mai Thanh Truyết – Năng lượng Nguyên tử ở Việt Nam

image003Quan niệm đúng đắn về phát triển bền vững cũng như nhu cầu năng lượng cần thiết cho phát triển là hai vấn đề cấp thiết mà nhân loại cần lưu phải tâm trong những năm sắp đến. Tiến trình toàn cầu hóa trong phát triển chung khiến cho hầu hết lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia hậu kỹ nghệ cần phải ngồi lại để truy tìm những biện pháp để cùng giải quyết vấn đề cốt lỏi của con người. Đó là năng lượng cần thiết để phát triển.

Trước những vấn nạn môi trường và hệ sinh thái bị hủy diệt, nhu cầu điện năng đến từ than đá hay thủy điện dần dần bị thay thế bằng những nguyên liệu “sạch” cho năng lượng. Năng lượng từ dầu hỏa có nguy cơ bị cạn kiệt trong những thập niên sắp đến. Về năng lượng gió cũng như năng lượng mặt trời…chỉ là những bước đầu, chưa đạt quy mô lớn và giá thành tương đối còn cao. 

Chỉ còn lại năng lượng hạt nhân hiện đang được các quốc gia ráo riết tập trung nghiên cứu để tiến đến một công nghệ năng lượng sạch, an toàn, giá thành rẻ, và mang lại nhiều ứng dụng khác hơn là việc tạo ra điện năng phù hợp với tinh thần phát triển bền vững do LHQ đề ra.

Bài viết có mục đích trình bày một số thông tin căn bản về sự lịch sử và sự hình thành một lò phản ứng hạt nhân, cùng những viễn kiến tiến tới một công nghệ sạch cùng một số an toàn lao động trong vận hành.

Sự phân bổ các lò năng lượng hạt nhân

Năm 2004, trên thế giới hiện có 441 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động rãi rác ở 31 quốc gia, sản xuất ra 363 triệu Kilowatt (KW) điện năng. Trung bình một lò phản ứng có khả năng sản xuất từ 800 trăm ngàn đến một triệu KW. Có 30 lò đang được xây cất ở 24 quốc gia và đi vào vận hành trong năm 2006-2007, và thế giới cũng đang có dự kiến xây dựng thêm 104 lò phản ứng nữa trong vòng 10 năm sau đó, trong số nầy phần lớn là ở Trung Cộng.

Các quốc gia Á Châu như Trung Cộng, Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn là những quốc gia đang đặt trọng tâm vào việc xây dựng lò phản ứng cho nhu cầu năng lượng cần cho phát triển. Trong tương lai, năng lượng hạt nhân không chỉ được được xử dụng để sản xuất ra điện năng mà còn được ứng dụng như một dạng năng lượng để sản xuất ra khí Hydrogen (H2), hoặc dùng để khử muối trong nước biển cho nhu cầu nước sinh hoạt ở những vùng không đủ nước. Có thể nói H2 là hoá chất căn bản để thực hiện hầu hết các quy trình sản xuất hóa chất trong kỹ nghệ, đây là một nguyên liệu có thể thay thế các sản phẩm hóa chất khác từ dầu hỏa. 

Tại Hoa kỳ, hiện có 103 lò phản ứng đang hoạt động, sản xuất ra 97 triệu KW, chiếm khoảng 20% nhu cầu điện năng toàn quốc. Chi phí xây dựng cho 1 KW giờ điện của loại năng lượng nậy là 1,68 cents, chỉ đứng sau giá điện năng do thủy điện cung cấp mà thôi. Tại California, chúng ta phải trả trung bình khoảng 7 cents cho 1 KW giờ. Thời gian hoạt động của một lò phản ứng năng lượng hạt nhân là khoảng 40 năm.

Đối với các quốc gia Tây Âu, tỷ lệ xử dụng điện từ lò hạt nhân trung bình khoảng 35%. Pháp đã xử dụng 78% cho nhu cầu điện toàn quốc; Bỉ, 55%.

Lịch sử hình thành lò phản ứng hạt nhân 

Một trong những nhu cầu cần thiết để phát triển quốc gia là năng lượng. Và năng lượng đến từ các lò phản ứng hạt nhân được các khoa học gia chú ý đến từ những năm đầu thập niên 50. Từ đó lò phản ứng thuộc thế hệ I (generation I) ra đời. Các lò nầy hiện tại vẫn còn được xử dụng. Tuy nhiên các lò thuộc thế hệ nầy đang đi dần đến sự đào thải vì thời gian vận hành sắp chấm dứt (tuổi thọ của một lò phản ứng vào khoảng 50 năm). Thế hệ thứ II ra đời vào đầu thập niên 70. Thế hệ thứ III, vào thập niên 90. Và sau cùng thế hệ thứ IV đang được chuẩn bị với rất nhiều hy vọng trở thành một công nghệ toàn hảo vì:

1-     Sẽ làm giảm thiểu tối đa hiệu ứng nhà kính qua việc phóng thích thán khí đối với các lò phản ứng thuộc các thế hệ trước đó;

2-     Thực hiện được an toàn lao động trong vận hành;

3-     Và nhất là các lò trên sẽ là “lò phản ứng tự giải quyết” trong trường hợp có tai nạn xảy ra, nghĩa là không cần thiết đến sự hiện diện của con người trong trường hợp nầy.

Lò phản ứng thế hệ I – Lò phản ứng có tên Magnox là một lò phản ứng đầu tiên được sản xuất và tung ra thị trường vào những năm đầy thập niên 50 do 3 nhà vật lý học người Anh sáng chế có tên: TS Ion, TS Khalit, và TS Magwood. Lò Magnox xử dụng nguyên liệu Uranium trong thiên nhiên trong đó chỉ có 0,7% chất đồng vị (isotope) U-235 và 99,2% U-238. Nguyên tắc vận hành có thể được tóm tắt như sau:

  • Các ống kim loại Uranium nầy được bao bọc bằng một lớp hợp kim gồm nhôm (Al) và Magnesium (Mg);
  • Một lớp than graphite đặt nằm giữa ống Uranium và hợp kim trên có mục đích làm chậm bớt vận tốc phóng thích của trung hòa khí (neutron) do sự tách rời (fission) U-235;
  • Từ đó các trung hòa khí trên sẽ va chạm mạnh với hạt nhân của U-235 (nuclei)…để các phản ứng dây chuyền liên tục xảy ra làm tăng thêm sự va chạm… Đây là một phản ứng phát nhiệt rất lớn và thán khí (CO2) được dùng để chuyển tải nhiệt năng nầy đến một máy turbine hơi nước để từ đó biến cải thành điện năng.

Việc điều hòa vận tốc phản ứng dây chuyền hoặc chận đứng phản ứng là một công đoạn quan trọng bậc nhất của một lò phản ứng. Trong công đoạn nầy lò Magnox xử dụng một loại thép làm từ hóa chất boron (B), loại thép nầy có tính chất hấp thụ các trung hòa tử, do đó có thể điều khiển phản ứng theo ý muốn. Có tất cả 26 lò Magnox đã hoạt động ở Anh Quốc, hiện tại chỉ còn 8 lò còn đang họat động và đã bị đào thải vào năm 2010.

Lò phản ứng thế hệ II – Các lò nầy đã ra đời vào thập niên 70 và 80, hiện chiếm đa số các lò đang họat động trên thế giới. Từ lúc ban đầu, 60% của loại lò nầy áp dụng nguyên lý lò nước dưới áp suất (pressurized water reactor-PWR), trong đó nước dưới áp suất cao được xử dụng vừa làm dung dịch làm nguội, vừa làm dung dịch điều hòa phản ứng. Nguyên liệu xử dụng cho lò thuộc thế hệ II nầy thay vì dùng Uranium thiên nhiên, hợp chất Uranium dioxide được thay thế và hợp kim nầy được bọc trong các ống cấu tạo bằng kim loại Zirconium. Do đó Uranium-235 sẽ được tinh luyện từ 0,7% đến 3,0 – 3,5%.

Nhưng các loại lò nầy lần lần được thay thế bằng cách áp dụng nguyên lý của lò hơi nước dưới áp suất (boiling water reactor-BWR). Một khác biệt căn bản là nước được đun sôi rồi mới chuyển qua hệ thống làm tăng áp suất. Làm như thế, phương pháp nầy rút ngắn tiến trình tạo nhiệt của hơi nước trong khi chuyển số nhiệt lượng qua các turbine để biến thành điện năng.

Lò phản ứng thế hệ III – Kể từ cuối thập niên 80, thế hệ III bắt đầu được nghiên cứu với nhiều cải tiến từ các lò phản ứng loại BWR của thế hệ II. Và lò nầy được đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 1996 tại Nhật Bản. Bằng sáng chế đã được US Nuclear Regulatory Commission (NRC) xác nhận. Hiện tại các lò nầy đang được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới vì đáp ứng được nhu cầu xây cất tương đối ngắn, 3 năm, và chi phí cũng giảm so với các lò thuộc thế hệ trước cùng phương cách vận hành cũng như bảo trì tương đối giản dị và an toàn hơn.

Lò phản ứng thế hệ IV – Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cấp thiết hơn về an toàn lao động và bảo vệ ô nhiễm môi trường nhất là hiệu ứng nhà kính, các khoa học gia đang tiến dần đến việc xây dựng các lò hạch nhân thế hệ IV, trong đó hệ thống an toàn không còn dùng đến con người nữa mà hoàn toàn tự động. Thêm nữa, sẽ không còn việc thải hồi khí CO2 vào không khí.

Một đặc điểm mới của lò hạch nhân thế hệ IV nầy là có thể sản xuất ngoài điện năng, còn cho ra Hydrogen, một nhân tố căn bản cho hầu hết các phương pháp tổng hợp hóa chất căn bản cần thiết cho công kỹ nghệ. Thế hệ IV còn được gọi là “lò phản ứng cách mạng” (revolutionary reactor). Thế hệ nầy đang được 9 quốc gia phối hợp thử nghiệm từ năm 2000. Các quốc gia nầy gồm: Á Căn Đình, Ba Tây, Canada, Pháp, Nhật Ban, Nam Phi, Đại Hàn, Anh Quốc, và Thụy Sĩ. Cộng đồng nguyên tử năng Âu Châu (European Atomic Energy Community) cũng đã xin gia nhập nghiên cứu chung vào năm 2003.

Thế hệ nầy sẽ đi vào ứng dụng vào năm 2030 và có thể thỏa mãn những điều kiện sau ngoài các lợi thế kể trên:

  • Giá thành cho điện năng sẽ rẻ hơn hiện tại;
  • Hoàn toàn an toàn 100%;
  • Phế thải được giảm thiểu tối đa.

Vấn đề an toàn vận hành của một lò hạt nhân

Để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai, việc làm khẩn thiết và cấp bách của các khoa học gia là làm thế nào để bảo đảm an toàn lao động trong vận hành và an toàn cho dân chúng sống chung quanh lò hạch nhân trong tường hợp có tai nạn hay khủng bố. Đây là mục tiêu mà mọi quốc gia đang nhắm đến.

image004

An toàn trong vận hành?

Vấn đề an toàn lao động trong việc xử dụng năng lượng hạt nhân đã làm tăng thêm nhiều dị biệt trong quan niệm về lãnh vực nầy của các nhà làm khoa học. GS Jerrence Collins, thuộc đại học Carnegie Mellon, Pittsburgh đã phát biểu:”Tôi nghĩ năng lượng hạch nhân là một hướng đi sai lầm vì việc xử dụng loại năng lượng nầy sẽ không bao giờ có được an toàn“.

Ngược lại, TS Peterson có cái nhìn tích cực hơn trong khi suy nghĩ về tính an toàn trong vận hành một lò phản ứng là:

1-     Cần phải có một hệ thống kiểm soát hữu hiệu để chấm dứt sự tách đôi của các trung hòa tử (nghĩa là chấm dứt hệ thống phát nhiệt) khi xảy ra tai nạn. Tai nạn ở Chernobyl năm 1986 đã xảy ra quá trầm trọng về mặt thiệt hại nhân sự vì lò hạch nhân ở nơi đây không có hệ thống tự động để ngưng phản ứng kể trên;

2-     Mục tiêu thứ hai cho an toàn lao động là làm thế nào để di dời các phế thải phóng xạ (radioactive decay) được sinh ra liên tục trong giai đoạn va chạm và tách rời giữa các trung hòa tử và hạch tâm Uranium. Nếu không được di dời đúng lúc, phế thải phóng xạ sẽ tích tụ ngày càng nhiều làm cho các ống phản ứng nóng thêm ra và làm hư hại các ống nầy, do đó lò phản ứng sẽ bị giảm hiệu năng và có thể xảy ra tai nạn. Đó là tai ạnn ở một lò hạch nhân Pennsylvania vào năm 1979;

3-     Mục tiêu thứ ba là làm thế nào để ngăn chặn việc chất phóng xạ thoát ra ngoài không khí. Do đó, lò phản ứng phải hoàn toàn bị cô lập trong trường hợp có tai nạn.

Các lò phản ứng thuộc thế hệ I và II có hệ thống an toàn dựa theo các nguyên lý về cơ học, vật lý, và điện học như: hệ thống kiểm soát nhiệt, các chốt đóng/mở tự động, bơm tự động, hệ thống trao đổi nhiệt (làm nguội) tự động.

Trong lúc đó các lò thuộc thế hệ III được trang bị hệ thống di dời phế thải phóng xạ và có hệ thống bơm nước để gỉai nhiệt tòan thể lò phản ứng; khi tai nạn xảy ra sẽ có một hệ thống an toàn tự động bắt đầu hoạt động ngay không cần có sự điều khiển của con người.

Hiện tại, trước khi thế hệ IV đi vào hoạt động, thế hệ III đang được cải tiến thêm để thỏa mãn 3 mục tiêu kể trên. Đó là lò hạch nhân Westinghouse AP 1000 do Westinghouse Electris (US) sáng chế. Lò nầy, so với 3 thế hệ trước đã giảm được 50% chốt đóng mở, 35% bơm áp suất, 80% đường ống, và 80% dây cáp trong thiết kế mới nầy. Với sáng chế trên, lò AO 1000 cho đến năm 2010 đã giảm chi phí xây cất xuống còn $1000 đến $1200 Mỹ kim cho 1 KW điện.

Quan điểm dị biệt giữa các quốc gia

Tuy cùng chia xẻ một nhu cầu chung cho tương lai, cùng những tiện ích và tương đối an toàn trong việc bảo vệ môi trường đối với các lò hạt nhân ở thế hệ mới, các quốc gia trên thế giới vẫn còn nhiều tranh cãi trong quan niệm không đồng nhất về sự hiện hữu của các lò hạt nhân.

Đối với Hoa Kỳ, các lò phản ứng thuộc thế hệ IV thể hiện một chu trình sản xuất năng lượng sạch, từ đó họ cổ súy việc xử dụng loại năng lượng nầy. Nhu cầu phát triển của Hoa Kỳ trong vòng 20 năm tới cần thêm 335 triệu KW tương đương với việc xây thêm khoảng 50 lò hạt nhân. 

image005

How to handle nuclear waste?

Trong lúc đó tại các quốc gia Tây phương như Phần Lan chỉ dự định xây thêm môt lò nữa mà thôi trong tương lai. Pháp cũng đồng ý xây thêm nữa cho nhu cầu của nước nầy. Đối với các quốc gia khác như Đức, Hòa Lan, và Thụy Điển đang có dự án chấm dứt các lò phản ứng hiện đang còn hoạt động.

Và trầm trọng hơn nữa, là chính phủ Áo, Đan Mạch, và Ái Nhỉ Lan đã bày tỏ chống đối việc xử dụng loại năng lượng hạt nhân nầy. Chính phủ Ý đã quyết định hủy bỏ 4 lò phản ứng sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1987. Về phần Tay Ban Nha thì đang quản lý 9 lò phản ứng và có dự định xây thêm. Còn Anh Quốc thì hiện tại chưa tỏ thái độ đồng ý hay chống đối. Trong lúc đó, Nga Sô sau tai nạn Chernobyl đang xây thêm 6 lò và dự trù xây thêm 8 lò nữa trong một tương lai gần đây. 

Vế phía Á Châu, Trung Cộng, Ấn Độ, Nhật Bản, Đại Hàn, và Đài Loan đều có chương trình tích cực cho việc xây dựng lò phản ứng hạch nhân. Gần đây nhất, các quốc gia nầy đã hoàn tất tất cả 17 lò, và đang dự định xây cất thêm 70 lò nữa. Trong lúc đó Phi Luật Tân vừa sắp sửa hoàn thành 90% lò hạch nhân, nhưng vì sự phản đối của người dân trong vùng về mức bảo đảm an toàn lao động trong vận hành đã bắt buộc chính quyền quốc gia nầy phải hủy bỏ dự án nữa chừng, tốn hao công quỹ hàng tỷ Mỹ kim.

Còn Việt Nam thì sao? 

Việt Nam hiện có một Viện Năng Lượng Nguyên Tử ở Đà Lạt (Việt Nam Nguyên tử Lực Cuộc cũ thời Việt Nam Cộng Hòa) do TS Phạm Duy Hiển làm Giám đốc hơn 30 năm nay. Theo báo chí trong nước thì Việt Nam dự định bắt đầu xây cất 2 lò phản ứng hạch nhân vào năm 2012 để có thể đi vào hoạt động năm 2015. Địa điểm dự trù là Phước Dinh, Phước Hải (Ninh Thuận), và Hòa Tân (Tuy Hòa, Phú Yên). Kinh phí dự trù cho hai dự án kể trên là 3 tỷ Mỹ kim.  Ngay sau khi quyết định nầy được phổ biến vào đầu năm 2004, nhiều nhà khoa học trong nước và ngoại quốc đã bày tỏ mối quan ngại và lên tiếng phản đối hai dự án trên. (Trên thực tế dự án nầy cũng còn nằm trong vòng tranh cãi và cho đến cuối năm 2013, vẫn chưa có một động thái quyết định về việc nầy dù quốc hội CS Bắc Việt đã phê chuẩn xây cất).

Có nhiều lý do đưa ra cho việc phản đối nầy:

  • Địa điểm chọn lựa của hai vùng hoang mạc khô cằn, thưa dân cư, không thuận tiện cho việc di chuyển của nhân công và ban quản lý nhà máy trong tương lai;
  • Ở cả hai vùng, không có hạ tầng cơ sở tối thiểu cho nhu cầu yểm trợ việc xây cất, vận chuyển, cùng nhu cầu về xã hội, y tế, và sinh hoạt hàng ngày của công nhân như điện nước v. v…;
  • Và nhất là, hiện tại Việt Nam chưa có khả năng cũng như không có dự kiến đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực nầy trong một tương lai gần.
  • Vấn đề nguyên liệu nguyên tử là một vấn đề cốt lỏi mà chắc chắn Việt Nam không thể nào chủ động  và kiểm soát được vì tùy thuộc vào quốc gia cung cấp. Chất Uranium và khả năng tinh luyện chất nầy để dùng cho lò phản ứng hạt nhân cần những nhân sự thật chuyên môn và nhiều kinh nghiệm mà việc đào tạo đòi hỏi ít nhất vài chục năm.

Xây cất một lò phản ứng hạth nhân chỉ là giai đoạn sau cùng trước khi hoàn tất các giai đoạn kể trên. Về nhân sự, sự yếu kém về tri thức công nghiệp, kiến thức quản lý, cũng như khả năng chuyên môn trong lãnh vực nguyên tử và hạt nhân sẽ là những cản ngại lớn khiến cho việc thiết lập lò phản ứng khó có cơ may thực hiện hay chỉ thực hiện nửa chừng.

 image006

Mô hình nhà máy điện hạt nhân xã Phước Dinh, Ninh Thuận

Thêm nữa, theo ước tính của một số nhà khoa học trong và ngoài nước thì tiềm năng của Việt Nam về than đá, dầu mỏ, khí đốt, cùng với việc khai thác và phát triển những loại năng lượng trong tầm tay như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… Việt Nam vẫn còn có thể dư thừa năng lượng dùng cho việc phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2030.

Để rồi, vào thời điểm nầy, Việt Nam có đủ thời gian để chuẩn bị ngay từ bây giờ để có thể tránh được những cản ngại vưà kể trên trong tương lai. Thêm nữa, trong giai đoạn nầy, những lò thuộc thế hệ IV đã được áp dụng trong một thời gian đủ dài để cho các quốc gia Tây phương có khả năng và kinh nghiệm điều chỉnh những bất ngờ trong vận hành. Và, sau đó Việt Nam có thể áp dụng công nghệ nầy an toàn hơn cho công cuộc phát triển quốc gia.

Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay (11/2013), nhà cầm quyền Việt Nam vẫn không để ý đến những khuyến cáo của các nhà làm khoa học trong nước hay hải ngoại, vẫn tiếp tục cho đấu thầu để xây dựng hai lò nguyên tử trên, và dự trù khánh thành vào năm 2016. Nhà thầu vẫn không ai khác hơn là Trung Cộng, Nga Sô và Nhựt Bản. Bài học Cherbonyl ở Liên Sô cũ còn đó, và bài học mới nhứt ở Dung Quất là phải đình chỉ sản xuất thường xuyên vì các hệ thống sensor nguyên tử dùng để điều chỉnh nhiệt độ và áp suất với độ chính xác cao không  hoạt động theo quy trình sản xuất. Thảm nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Kỹ thuật TC còn thô sơ, do đó xác suất xảy ra tai nạn càng lớn hơn nữa. Và nơi xây dựng nhà máy chính là nơi cư trú của đồng bào thiểu số Chàm ở tỉnh Ninh Thuận, một dân tộc hiếu hòa và đang trên đà bị diệt chủng.  

Hải ngoại chúng ta phải làm gì để cứu một dân tộc đã được xem là có cùng nguồn gốc với dân Việt thời xa xưa?

Mai Thanh Truyết

Bài đọc thêm

Bài 1: Japan’s PM Wants Fukushima Completely Scrapped

Thu, 09/19/2013 – 10:17am

                                                               MARI YAMAGUCHI, Associated Press

Japanese Prime Minister Shinzo Abe ordered the operator of the country’s crippled nuclear power plant to scrap all six reactors at the site instead of just the four already slated for decommissioning. He also told TEPCO officials to concentrate on tackling pressing issues like radioactive water leaks. After taking a firsthand look at the Fukushima Dai-ichi plant, however, Abe insisted that radiation-contaminated water had been contained at the complex and said he would fend off “rumors” regarding Fukushima’s safety.

Following a three-hour tour of the plant, Abe instructed its operator, Tokyo Electric Power Co., to decommission the Nos. 5 and 6 reactors, which survived the March 2011 earthquake and tsunami. The disaster caused three other reactors to melt and damaged a fuel cooling pool at another. TEPCO has been unsure about what to do with the two surviving reactors, leading some to believe that it may be still be hanging on to hopes of keeping them alive. “I told (TEPCO) to ensure decommissioning of reactors No. 5 and 6 so that they can concentrate more on dealing with the accident,” Abe told workers and reporters as he wrapped up the tour at the plant’s emergency command center.

TEPCO President Naomi Hirose told Abe that a decision on the reactors would be made by the end of the year, the prime minister said. Abe said that he urged TEPCO to ensure it has enough funding on hand to take care of urgent work needed to clear the way for the plant’s decommissioning, and that Hirose promised to obtain 1 trillion yen ($10 billion). The prime minister said he stood by the reassurance about Tokyo’s safety that he gave to the International Olympic Committee before the city of 35 million was awarded the right to host the 2020 summer games earlier this month.

“One of the main purposes of this visit was to see it for myself, after I made those remarks on how the contaminated water has been handled,” Abe said. Officials have acknowledged that radiation-contaminated groundwater has been seeping into the Pacific since soon after meltdowns and explosions crippled the plant following earthquake and tsunami. Abe said he was convinced that all of the contaminated water had been contained. “In light of that, I will work hard to counter rumors questioning the safety of the Fukushima plant,” he said.

During his tour, Abe was shown some of the 1,000 tanks containing radioactive water, water treatment equipment and a chemical dam being installed along the coast — steps meant to contain the water leakage, which experts say is a major obstacle for the decades-long cleanup process. Abe’s adamant reassurance to the IOC that the leaks are “under control” had backfired at home, as many Japanese believe he was glossing over problems at the plant. Thursday’s plant visit was Abe’s second since taking office in December, when he took his first tour on a bus. Hours before the IOC chose Tokyo to host the 2020 Olympics, Abe gave a speech declaring that radioactive contaminants from the leakage had no impact on seawater outside the bay near the plant. Tokyo was not at risk, he insisted.

Senior TEPCO official Kazuhiko Yamashita told opposition Democratic Party of Japan lawmakers last week that the water situation was “not under control,” appearing to contradict Abe. DPJ leaders said they would demand that Abe explain his remarks to the IOC. TEPCO later said Yamashita was referring to isolated incidents and had not contradicted Abe’s comments. The most heavily radiated water pools inside the reactor and turbine basements, where waste cooling water that leaked out of melted reactors has gathered, have mixed with groundwater seeping through cracks in the damaged buildings, generating 800 tons of contaminated water per day.

Much of the water is being pumped out and partially treated — half is recycled as cooling water, the other half stored in tanks. The plant has 350,000 tons of water kept in the 1,000 tanks. The chairman of Japan’s Nuclear Regulation Authority, Shunichi Tanaka, has proposed using a new water treatment machine capable of removing all radioactive elements apart from less toxic tritium so the water can be eventually released into the ocean once it is safe enough. Meanwhile, the government is funding the development of more advanced water treatment equipment and paying for a costly ice wall to surround the reactor and turbine buildings and prevent them from contaminating outside groundwater.

Bài 2: Tự do dân chủ và vấn đề điện hạt nhân

       Thục Quyên (SaveVietnam´sNature)

Hai cây cổ thụ của ngành năng lượng hạt nhân Việt Nam, hai vị giáo sư khả kính Nguyễn Khắc Nhẫn và Phạm Duy Hiển, vừa dạy chúng ta một bài học không những về sự hiểu biết đứng đắn về tình trạng điện hạt nhân (ĐHN) trên thế giới và tại VN, mà trong cuộc phỏng vấn (1) của RFI ngày 4/09/2013, hai vị còn làm gương cho mọi người ,lấy cách ứng xử của mình để thể hiện Tự do Nhân quyền cần thiết nhằm bảo vệ sự sống còn của dân tộc .

Nói theo một thiền sư VN nổi tiếng khắp thế giới, không có con đường đưa đến Tự Do Dân Chủ, chính con đường là Tự Do Dân Chủ (TDDC). TDDC không là một cái đích trọn vẹn xuất hiện từ không có gì và chỉ xuất hiện trong một tương lai xa vời, TDDC cũng không phải hoàn toàn không thể có vì bị một thế lực nào đàn áp, hay có vì một thế lực nào cho phép, mà tinh thần Tự do đã và đang tiềm ẩn  và chỉ cần mỗi con dân VN nhận thức và thể hiện nó theo phương cách của mình.

Thật ra, đáng lý GS Nguyễn Khắc Nhẫn và GS Phạm Duy Hiển không có gì phải cắt nghĩa thêm về cơ nguy thảm họa ĐHN sẽ tàn phá đất nước và phá hủy môi trường sống của những thế hệ con cháu chúng ta, trong thời kỳ hậu Three Mile Island ,  Chernobyl và Fukushima hiện nay. Mọi sự đã quá rõ ràng. Sau cả chục năm tiên phong đem sự hiểu biết chuyên môn cùng kinh nghiệm vài chục năm của mình để cắt nghĩa và chỉ dẫn những người chưa hiểu biết, sự lên tiếng cuả hai vị mới đây,  ngoài việc tóm tắt mọi lý do chính không cho phép Việt Nam phạm lỗi lầm giết người đi vào con đường ĐHN, còn một lần nữa tiên phong đưa ra khía cạnh nhân bản và trách nhiệm của vấn đề:

1-      Quan tâm và dấn thân gánh vác,

2-      Đem sự hiểu biết để bảo vệ sự sống của con người VN thế hệ này cũng như những thế hệ tiếp nối,

3-      Thể hiện Tự do Dân chủ bằng cách lên tiếng bất kể trong tình huống nào để nói lên sự thật, gạt bỏ chút lợi lộc cá nhân, dù là sự yên thân của tuổi già mà mọi người có quyền hưởng.

Là người Việt Nam, nghe tiếng Việt Nam, thì chúng ta thừa tinh tế thấy rõ sự kiện, tưởng chừng là khác nhau về mức độ chống ĐHN (Điện hạt nhân hay Điện nguyên tử) của hai vị giáo sư, thật ra chỉ là chút khác biệt về cách nói, tùy thuộc hoàn cảnh nơi sống.

Một người (Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn) đã từng dạy học tại Việt Nam trước 75 và sau khi thành danh tại hải ngọai, đã từng về Việt Nam nhiều lần sau 75 để mong đóng góp xây dựng đất nước và cuối cùng đã phải ngao ngán dứt khoát tuyên bố với nhà cầm quyền đương thời từ chối mọi lời mời, ngày nào Việt Nam chưa buông bỏ chương trình “Điện hại dân, hại nước”.

Người kia (Giáo sư Phạm Duy Hiển),”với tư cách của một người được giao nhiệm vụ làm ngành hạt nhân từ 35 năm nay ở trong nước” và cũng vì còn sống trong nước nên chịu sự chi phối của nền pháp luật khấp khiểng đương thời  (với bản chất chẳng khác luật rừng) đành phải dè dặt hơn trong cách khẳng định.

GS Hiển đi từ “không nhất trí với việc làm sớm và làm ồ ạt ĐHN”, cho tới” nhưng bây giờ một khi chính phủ đã quyết, thì chúng tôi phải nói rất mạnh … chừng nào đội ngũ nhân lực đó mà chưa sẵn sàng, thì chưa có thể làm, chưa có thể cho vận hành, xây dựng nhà máy ĐHN được”.

Vã lại làm gì khi đã có những công trình nghiên cứu chứng minh Việt Nam không cần ĐHN?

Cả hai vị giáo sư, hai nhà chuyên môn sáng giá nhất của Việt Nam trong ngành năng lượng hạt nhân, chính là những người có thẩm quyền nhất để bác bỏ sự xuất hiện của ngành kỹ nghệ ĐHN tại Việt Nam cũng như thúc bách đòi hỏi một chương trình năng lượng hiệu lực và có trách nhiệm, để người dân được no đủ và nâng cao mức sống của người dân cho không quá tụt hậu:

1- Tức khắc chú trọng nâng cao hiệu suất sử dụng điện và

2- Cấp tốc dồn hết sức lực, kế họach và phát triển các năng lượng tái tạo.

Đã có những giải đáp thực tiễn sẵn sàng để Việt Nam có thể học hỏi từ những nước văn minh trên thế giới và áp dụng, cớ sao phải ngụy tạo, thủ đọan, để bịt mắt dân và hại nước cho bằng được?

Tự do Nhân quyền không phải là một đặc ân do ai ban phát. Những tổ chức dân sự mọi nơi trên thế giới đã nghiễm nhiên hành động và chứng tỏ sức mạnh của người dân có thể áp lực những nhà cầm quyền phải trực diện sự thật và không ngừng thay đổi theo đà tiến triển của nhân lọai, thay đổi những quyết định sai lầm có hại cho đất nước.

Sức khỏe và hạnh phúc của người dân là tiên quyết. Một quyết định sai lầm dù đã được quốc hội thông qua vẫn là một quyết định sai lầm, cần bàn thảo lại và sửa đổi, ngay cả hủy bỏ.

Quan trọng là người dân phải dứt khoát lên tiếng.

Có rất nhiều hình thức để lên tiếng dù nhà cầm quyền không muốn dân lên tiếng hay cấm cản, gây khó dễ. Sức mạnh chính là sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm của lớp người có khả năng hiểu biết rộng .

Lớp người này rất may mắn Việt Nam không thiếu, chỉ cần họ theo gương hai giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn và Phạm Duy Hiển lên tiếng.

Lên tiếng không phải là một hành vi can đảm mà chỉ đơn thuần là điều mà lương tâm con người đòi hỏi phải làm.

Đâu là hàng trăm ngàn những chuyên viên, sinh viên cũ của hai vị giáo sư?

Đâu là những đồng nghiệp, những nhà khoa học Việt Nam trong cũng như ngoài nước?

Đâu là những nhà trí thức, những cô giáo, thầy giáo đang mang trọng trách hướng dẫn thế hệ con em, tương lai của đất nước?

Đâu là những nhà tôn giáo, luật gia, với chức năng bảo tồn nền đạo đức dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội?

Đâu là những nhà y tế đã nguyện bảo vệ sức khỏe, sự sống và môi trường sống của con người?

Đâu là những nhà truyền tin, nhà văn, với thế đứng hàng đầu trong việc nối kết mọi người trong nước với thế giới bên ngoài, góp sức mở rộng tầm hiểu biết?

Đất nước Việt Nam có thể đang tụt hậu về mặt vật chất nhưng không thể để thế giới lầm tưởng chúng ta cũng tụt hậu về mặt trí tuệ .

Bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, tinh thần trách nhiệm toàn cầu là vấn đề dân trí, là đặc thù của nền văn minh thế kỷ 21.

Không thể vỗ ngực đánh đuổi ngọai xâm trong khi giao trọn tương lai sự sống của bao thế hệ con người Việt Nam cho những công ty ĐHN ngọai quốc.

Có thể gọi là thành công khi khai mạc được một “Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành” với sự hiện diện của 5 nhà vật lý mang giải Nobel không, trong khi trẻ em tiểu học Việt Nam bị bỏ mặc cho tập đoàn Rosatom múa gậy vườn hoang, tung chút tiền mọn, nhồi sọ những tuyên truyền rẻ tiền vào đầu óc non nớt của chúng ?

Danh dự dân tộc Việt Nam cần được bảo vệ.

Chúng ta phải lên tiếng.

Trong tình huống này chúng ta không thể nhân danh bất cứ một cái gì để im lặng chịu trận, nhưng có thể nhân danh tất cả những gì thiêng liêng cao qúi nhất để lên tiếng :

Tôi không đồng ý làm Điện Hạt Nhân tại Việt Nam và sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm phổ biến tin tức giúp mọi người chung quanh tôi hiểu rõ về sự nguy hại này!

Thục Quyên

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s