GS Tôn thất Trình – Lạm bàn Phát triển tỉnh Vĩnh Long Phần II)

vinhlong Cải thiện  đuờng bộ nông thôn ô tô  tới được  mọi xã, để  phát triễn du lịch

Về giao thông đường  bộ,  trước năm 2006, Vĩnh Long có quốc lộ số 1A ( trước đây là quốc lộ 4)   nối   liền  Sài Gòn  với các tỉnh miền Tây .  Từ  bến phà Mỹ Thuận ( nay là cầu Mỹ Thuận)  đến bắc Cái Vồn ( nay là cầu Cần Thơ )  dài 38 cây số.   Đường  quốc lộ  số  53( liên tỉnh số 7) nối liền Vĩnh Long với Trà Vinh qua Long Hồ, Vũng Liêm, kéo dài trong  tỉnh Trà Vinh cho đến huyện Duyên Hải, đọan ngã ba quốc lộ 4 đến Cầu Mới dài gần 23 cây số . Đường quốc lộ số  23 (liên tỉnh số 8 ? )   từ Mỹ Thuận đến bắc Vàm Cống dài khỏang 53 cây số.  Đường quốc lộ  số  57( hàng tỉnh 27 ? )  dài khỏang 19.3 km , nối liền Vĩnh Long với Chợ Lách phải qua đò Đình Khao. Và kéo dài trong tỉnh Bến Tre đến Cái Mơn, Mỏ Cày, Thạnh Phú , Giao Thới.   Đường hàng tỉnh 31  nối tỉnh lỵ Vĩnh Long đến ranh giới Vĩnh Bình( Trà Vinh ) dài khỏang 25 km , đọan đường này  chạy dọc theo bờ sông Long Hồ, qua cầu Ông Me rồi đi xuống Cầu Mới.  Đường hàng tỉnh 32, từ đường liên tỉnh  7 đến Cái Nhum dài khỏang 10 km . Ngoài ra,  Vĩnh Long còn nhiều hương lộ nổi tiếng : huơng lộ 1 trong xã Tân An , hưong lộ 2 từ Vĩnh Long qua cầu Thiềng Đức đến  chợ Ngã Tư, hương lộ 3  từ quốc lộ 4 đến lộ Cầu Vồng ( liên tỉnh 7 ) , huơng lộ 4  từ quốc lộ 4 đến xã Lộc Hòa, hương lộ 5  từ đường hàng tỉnh 31 đến giáp ranh quận Cái Nhum, hương lộ 8 từ  Chợ Cái Nhum đến đường hàng tỉnh 31, hương lộ 18 từ Ba Càng đến Tam Bình, hương lộ 22 từ đò Đình Khao đến Chợ Lách.

Nay  Vĩnh Long có 5   quốc lộ chạy ngang qua và 10 tỉnh lộ. Năm 2000, Úc viện trợ đã làm xong cầu Mỹ Thuận nối Cái  Bè với thị xã  Vĩnh Long theo quốc lộ 1A . Cũng trên Quốc lộ 1A, đã khánh thành năm 2010 , nhờ viện trợ Nhật, cầu Cần Thơ  nối  thị xã Vĩnh Long qua  Phú Quý ( Ba Càng ), Bình Minh trong tỉnh nhà, đến Cần Thơ, Cái Răng, đi  Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.  Không rỏ khúc đọan xa lộ cao tốc Mỹ Tho- Ngã ba Trung Luơng, dài 62 km  từ Thành Phố HCM,  quốc lộ 1A, 8 lằn,  lọai A ( B? )   dài 535 Km do Ngân Hàng Phát triễn Á Châu tài trợ,  trị gíá 535 triệu đô la về miền Tây, nay đã xong đọan  thị xã Vĩnh Long – Long Hồ – Bình Minh chưa ?  Quốc lộ 53  từ Vĩnh Long qua thị xã Trà Vinh, Vũng Liêm  đi  Cầu Ngang, đến tận Duyên Hải –  gần cửa Định An – Trà Vinh và quốc lộ 54 ( ) nối  Long Hồ, Tam Bình, Trà Ôn tỉnh nhà  đến Trà Mẹt –  Cầu Kè – Tiểu Cần-  Trà Cú địa phận  Trà Vinh và quốc lộ 57  từ Vĩnh Long đi Chợ Lách-Cái Mơn – Mõ Cày-Thạnh Phú đến  Giao Thới thuộc tỉnh Bến Tre tới cửa Hàm Luông v.v…  cũng đã đuợc nâng cấp, nới rộng.  Cùng lúc sửa sang đường phố trong thị xã tỉnh lỵ, và các huyện lỵ áp dụng “ mô hình mới” xây dựng đường xá “ xã hội hóa xây cất – socialising transport construction”, nghĩa là chấp thuận tặng dữ từ các tổ  chức và cá nhân tư nhân ( tiền bạc, vật liệu và đất đai ). Phần tặng dữ tư nhân, vào tháng 7 năm 2013, đã chiếm 26.3 % ( 339 tỉ ĐVN )  tổng phí xây cất đường xá. Tổng phí  xây cất  đường xá  huyện lỵ và thị xã tỉnh lỵ, năm 2013, là 113 tỉ ĐVN.

Nhưng nét đặc điểm nhất cho Vĩnh Long  là cải thiện các hương lộ như đã nói trên phần nào.  Tỉnh nhà có 2693 km  đường nông thôn. Năm 2013 Vĩnh Long  đã cấp 27.5 tỉ ĐVN cho  các dự án đầu tư cải thiện  đường lộ nông thôn . Tới cuối năm  2012, mọi đường đến trung tâm xã, ô tô đều đến được. Năm đó, Vĩnh Long cũng đã thiết lập thêm 1138 km đường ô tô chạy được. Tỉnh nhà dự trù, vào năm 2015,  xây cất và hoàn tất 500 km đường nông thôn  phẩm giá tốt, tập trung giúp đở  chương trình phát triễn nông thôn của 22 xã cốt lõi  thực hiện đầy đủ những tiêu chuẩn  chuyên chở  và vượt quá 40 %  tiêu chuẩn ở các xã khác, xây dựng thêm mỗi năm 171 km đường nông thôn .

Vĩnh Long đã ký kết  một chương trình hợp tác với TP HCM – Sài Gòn Phát triễn du lịch  và năm 2013 ký kết những chương trình tương tự giữa 5  tỉnh ĐBSCL là Tiền Giang , Vĩnh Long , Bến Tre , Trà Vinh và Cần Thơ . Cố nâng cấp  Lễ  Miếu Ông Tiên-  Ông Tiên Temple Festival   ở xã Thiện Mỹ , huyện Trà Ôn hầu  nhấn mạnh  du lịch trên sông Hậu . Hai hướng du lịch Vĩnh Long đặt trọng tâm là   thế giới sinh thái – ecology  sông nước water world và   thăm viếng các  làng vườn  đặc hửu– gardening tourism, tuy cố phát triễn đường xá  để nghiêng thêm về du lịch văn hóa, và tinh thần tụ điểm trên cộng đồng. Nhắc lại là Vĩnh Long trái với một số người lầm tưởng là đất người Gia Tô giáo Cơ Đốc, chỉ thật sự  là đa số dân gian  Cù lao Minh ( vùng Chợ Lách, Cái Mơn …. )   ẩn náu và giảng đạo thời vua Thiệu Trị cấm đạo gắt gao. Thật tế,  đa số dân gian lại theo các đạo Phật ( Đại thừa , Nguyên thủy… ), nhiều người theo Hòa Hảo , Cao Đài , Nho ( Khổng ) giáo, Lão giáo, Tin Lành v. v…  Năm 2013 , ngành du lịch  cố đón mời 950 000 du khách. Quí đầu năm  2013 , Vĩnh Long   đã có 217 000  du khách , trong đó có 41 500 là du khách ngọai quốc  và 175 000 du khách trong nước . Lợi tức ngành du lịch  qúi đầu này là 54 tỉ ĐVN , bằng 27 % mức dự tính và tăng 18 % hàng năm. Ngành du lịch tỉnh nhà  đã tổ chức hai chuyến   du lịch tham quan quốc tế và rất nhiều du lịch nội tỉnh,  tụ điểm trên  thư giản , du ngọan đi chơi ăn ngòai trời – picnickingtiêu khiễn vui nhộn Ca – Nhạc -Vũ Kim Cổ giao duyên , Đông Tây hòa điệu như ngày nay ở các thị trấn to nhỏ  Đại Hàn – Hàn Quốc – Nam Hàn (  từ hát bội nhưng nên dùng  thêm tích mới,  anh hùng hào kiệt  thời mở cõi thay tích Tàu làm ra thế hệ  phục sinh thứ 5).

Hình như  cải lương xuống dốc từ năm 1988,  hí trường mất khách lỗ vốn , đóng cửa dần cuối năm 1990, vì các tuồng phải tập  qua sự kiểm duyệt của sở Văn Hóa, tác dụng theo đường lối Đảng. Thế hệ thứ nhất, trước 1945,  trong Nam phía nữ là Phùng Há, Kim Huê, cô Ba Helène…; thế hệ thứ hai phía Nam là Bảy Cao, Út Trà Ôn…, phía nữ là  Ngọc Nuôi, Kim Luông …; thế hệ thứ ba phía Nam là Hửu Phước, Thành Được, Hùng Cường,  Văn Chung , Bảo Châu … , phía nữ  là  Út Bạch Lan,  Ngọc Giàu , Bạch Tuyết , Thanh Nga, Hương Lan, Hồng Vân- Trâm Anh …; thế hệ thứ tư là Chế Thanh, Ngọc Huyền, Thanh Ngân …( theo Thái Quốc Nam, Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long số 4 – 2006 ) .

Thể thao hay du ngọan trên sông rạch, điển hình Vĩnh Long là các chuyến du ngọan trên sông Cửu Long  gồm thăm viếng  Chợ Nổi –  Foating Mardet Cái Bè  và cù lao An Bình , kéo dài chừng 4 giờ đồng hồ; cù lao An Bình có thể đến bằng đường bộ  sau khi  qua phà,  đi dạo bộ  quanh  các đảo chánh  có cầu nhỏ bắc ngang, gần bến phà  có thể  thuê xe đạp hay xe mô tô  hay dùng mô tô tắcxi;  vườn cây kiểng An Bình  cách  phà 20 phút  theo mô tô . Đi dạo bộ An Bình sẽ  thấy  một chùa Tàu và một trường học và xa hơn tí nữa là một nhà thờ Cơ Đốc, hình như  đã đóng cửa tháng 11 năm 2011 ?

Ăn uống đặc thù của tỉnh có thể lựa chọn  ốc gạo cù lao Tân Phong huyện Chợ Lách,  các chim nướng- chim ram thơm ngon  như le le, ốc cao, vỏ vẻ , chàng nghịch, mỏ nhác…  bắt được nhiều từ Ba Càng  huyện Bình Minh ;  ổi xá lị  to  lớn ở bắc Mỹ Thuận mua một chục mấy cô bán hàng đưa cho khách 14 trái còn nói là ở miệt Sa  Đéc 1 chục là 18 trái và thời xưa  là 24 trái “ lận”  nhưng nay bán theo ki lô,  không rỏ nay bán ở đâu ( Cái Bè ? ) vì  phà đã bỏ đi  lúc có cầu Mỹ Thuận; bưởi Năm Roi huyện Bình Minh   phát khởi từ nhà ông Hương Hào N. giữa Tân Quới và Tân Lược, hình dáng  tương tự bưởi Oroblanco ngày nay ở Ca Li -Hoa Kỳ nhưng tróc vỏ , ráo cơm ngọt thanh , mọng nước hơn cả bưởi thanh trà Biên Hòa hay bưởi Thanh Trà  Thanh Lương, Nguyệt Biều Huế;  chôm chôm tróc vỏ và chôm chôm  nhản ở cù lao An Thành ; quít đường Thới Hòa; mật ong nội địa và ong nhập  từ Ý – Italian bees, vàng lợt thay vì màu đen ong nội  địa , lưng vằn, lớn con thay vì nhỏ con, thuần tánh, hiền hòa,  thay vì hung dữ  quen thói ngang tàng ong nội địa, Ong Ý bay rất xa , đem về nhiều phấn hoa nên năng xuất rất cao, rất chung tình không bao giờ  bỏ tổ bay đi ( theo G S Đào Hửu Ngạn –  Vĩnh Long Địa Linh Nhân Kiệt,  2006) ; hay các món đặc sản tỉnh nhà như  lươn kho mắm,  cá chạch kho nghệ , gà xào nước dừa và lá cách,  gỏi ốc gạo bắp chuối dừa khô,  mắm chưng Cá Chấy- Cháy ngon hơn  cháo ám Cá Lóc, thịt Cá Chấy nóng tươi ăn với cơm nguội là ngon hết sẩy. Cá Chấy là lọai cá có vảy  mình dẹp hơn cá chép, nhiều xương phải biết cách gở xương thuận chiều, vào những ngày giáp Tết xuất hiện nhiều ở vùng nước  lợ Trà Ôn,  thịt có phần ngon hơn vùng Cầu Kè – Trà Vinh hay Đại Ngãi – Sóc Trăng …

khám phá văn hóa -văn nghệ  bình dân, truyền thống dân gian, di tích lịch sữ . Trước hết  là miếu thờ  ở tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ, thờ Quốc Công Tống Phước Hiệp, mất năm 1776,  một trong những quan lưu thủ  Long Hồ  vang danh và được người dân Vĩnh Long kính mến, đã nhiều phen bình định giặc Xiêm  đem lại an lạc, thanh bình  cho nhân dân miền Nam. Đáng tiếc Vĩnh Long không có miếu thờ  hai vị khai quốc công thần  miền Nam thời  các chúa Nguyễn  là các cụ Trương Phước Du và nhất là cụ Nguyễn Cư Trinh mất năm 1767 , đã có công đầu bình định, khai khẩn, kiến tạo đất Long Hồ.  Thứ đến là ngôi đình thờ  một trong “ Tam Hùng  Gia Định”   là Bình Tây Đại Đô Đốc Châu văn Tiếp ở làng An Hội – Cái Nhum, bị binh tướng Tây Sơn kết liễu tại  vàm Măng Thít tháng 10 năm 1784. Kế đến là  chân dung vị tiến sĩ đầu tiên đất Nam Kỳ là cụ  Phan Thanh Giản thờ tại tòa Văn Xương Các trong Miếu Văn Thánh, xây năm  1864. Ngòai cụ Phan,  miếu còn có bài vị của  cụ Võ Trường Tỏan  và bên sâu trong nội điện  có  thờ tượng đức Khổng Phu Tử. Khi Pháp chiếm Vĩnh Long, họ đã san bằng tất cả thành quách để xây cất những cơ sở mới cho chánh quyền thuộc địa.  Đình miếu thờ Công thần và di tích lịch sử Vĩnh Long còn quá nhiều không thể kể ra hết ở đây.

Tuy  nhiều di tích đã hòan tòan mất dấu  như Thành Long Hồ, nay là một phường thị xã Vĩnh Long, cửa hậu  nhìn  ra sông Cổ Chiên , cửa tiền quay về phía Cầu Lầu, cửa tả quay ra sông Long Hồ,  còn cửa hửu nay gọi là “ Cây Da Cửa Hửu”.  Hai đồn khác trấn  giữ sông Cổ Chiên  là đồn Vĩnh Tòng  phía Đông Bải Tiên và đồn  Vàm Tuấn  ở xóm Vĩnh Mỹ Thành, cũng đã bị phù sa bồi đắp mất. Ngòai các lăng mộ của các quan đàng cựu dọc sông Măng Thít  hay dựa mé sông Cổ Chiên , Vĩnh Long còn có nhiều đền chùa và miếu xưa, trong đó đáng kể nhất là  Chùa Tiên Châu hay chùa A Di Đà, một ngôi cổ tự nằm bên cù lao An Thành.  Năm 1837, vua Thiệu Trị cho xây miếu Hội Đồng và năm  1842 miếu Thành Hòang, nằm về phía Đông tỉnh lỵ về phía bắc Cổ Chiên, hiện còn nền  một ngôi đình  nằm sát bên bờ sông Cổ Chiên là đình Đình Khao, xây năm 1817, chổ khao quân, của các quan đàng cựu đã bị Pháp san bằng. Cách chợ  Vĩnh Long về  hướng Cổ Chiên khoảng 3 km, có một cái miếu gọi là Miếu  Công Thần, thờ 85 vị sắc phong khai quốc công thần đã giúp vua Gia Long chiếm được giang sơn từ tay nhà Nguyễn Tây Sơn. Bị  quân Pháp triệt hạ,  dân gian dời phong thần về  Thành Hòang Thiềng Đức. Năm 1951 đốc phủ quận trưởng Châu thành Vĩnh Long quyên tiền dựng ra một ngôi miếu riêng  thờ 85 vị sắc phong Công Thần lập ra triều Nguyễn Phước, nay ngôi miếu vẫn còn khói hương nghi ngút. Năm 1945 ,tại xã Phước Hậu  huyện Châu Thành,  xây miếu Nghĩa Trung ( hay miếu Âm Nhơn ) tưởng niệm  các chiến si Việt Nam đã bỏ mình trong thời kháng Pháp…

Tưởng cũng không nên quên các danh nhân Vĩnh Long như  nhà bác học Petrus  Trương Vĩnh Ký ( 1837- 1898 )  hay các chính trị gia thời cận đại, nguyên quán Vĩnh Long, đã làm thủ tướng  nước nhà : từ  Trần văn Hửu  ( 1951-52 ), đến Nguyễn văn Lộc ( 1967 -68 ), Trần văn Hương ( hai lần thủ tướng, năm 1964 và năm  1970 , tổng  thống 7 ngày từ 21 tháng tư đến 28 tháng tư năm 1975,  rồi trao quyền  lại cho Đại tướng Dương văn Minh ngày  28 tháng tư năm 1975,  rồi ông Minh đầu hàng Bắc Việt ngày 30 tháng 4 năm 1975) , qua Phạm Hùng thủ tướng chánh phủ thống nhất  Cọng Sản  cuối thập niên 1980, Võ văn Kiệt thập niên 1990.  Địa Linh Nhân Kiệt Vĩnh Long có phần trội hơn  Văn La – Trung Bính ca dao ca tụng  tỉnh Quảng Bình, chỉ có 4 thượng thư – tổng trưởng :

Văn La song hiệp biện    

                      Trung Bính tứ thượng thư .

 

Hai ngành nông nghiệp nổi bật Vĩnh Long :  nuôi cá  Pangasius ( tra- ba sa, vồ …) và  lập vườn cây ăn trái xứ nóng đặc sản Miệt Vườn Cửu Long

 

–  N uôi cá Pangasius sp.  VĩnhLong,  trong khuôn khổ cả nước

 

     Nguyên thủy dân Việt nuôi cá tra, cá vồ, cá bông lau, cá ba sa… loài Pangasius  trong ao gia đình để  tiêu thụ hằng ngày.  Khi nước nhà  mở rộng cửa  ra thị trường thế giới, vài lọai Pangasius biến thành những ngư sản thương mãi quốc tế . Nay Việt Nam xuất khẩu Pangasius sp. khắp thế giới .

Pangasius là tên khoa học một họ  nước ngọt  tiếng Anh là cá da trơn( da láng ), cá  râu mèo – catfish  tìm thấy nhiều  ở Việt Nam,  Căm Bốt  và vài quốc gia lân cận. Tên gọi  dễ gây ra lầm lẫn, vì  nhiều lòai cá này  sinh sản và nuôi dưỡng  ở nhiều quốc gia khác nhau.  Định danh cá Pangasius  còn phức tạp hơn nữa, vì nhiều lòai –species khác nhau  và cách  sản xuất cùng một lòai ở những địa điểm khác nhau. Sau đây là phân lọai  của Cơ quan Thực phẩm và  Dược phẩm- FDA Hoa Kỳ  về các lọai cá da trơn- râu mèo  tại  các vùng thế giới :

–  Cá da trơn catfish  hay Râu Mèo Kênh  Muơng- Channel catfish  ở Hoa Kỳ và Trung Quốc , tên khoa học là Ictalurus punctatus

–   Cá Ba sa hay cá Pangasius ở Việt Nam, Trung Quốc và các nước Á Châu láng giềng, tên khoa học là Pangasius bocourti

–   Cá Swai , Tra , Sutchi , Pangasius  Sọc hay Pangasius  ở  Việt Nam , Trung Quốc và các nước Á Châu láng giềng, tên khoa học là Pangasius hypophthalmus.

Tất cả mọi lọai cá này thảy đều nuôi dưỡng. Thu họach cá catfish hoang dã rất là giới hạn vì phẩm giá catfish hoang dã thay đổi rất lớn .

Ở thị trường Vương quốc Anh-UK   mọi lòai cá tông Pangasius trên phương diện pháp lý  đều có thể  mô tả là cá da sông vá víu- river cobbler, cá ba sa,  panga hay những từ này theo sau  từ catfish. Ở Âu châu , mọi thị trường catfish đều có tên chung là  “Pangasius” hay “Panga”  . Cá basa Pangadius bocourti là lọai cá da trơn – catfish họ Pangasidae, bộ- order cá trê- cá tràu Siluriformes. Tên basa  Pangasius bocourti  là của Sauvage đặt ra từ năm 1880 ( ? ). Ở Bắc Mỹ và Úc Châu,   Pangasius bocourti  đều được gọi là  “ basa fish “ hay “ bocourti” . Cá Pangasius bán ở Hoa Kỳ  dưới nhiều thể dạng như mọi lọai cá khác. Dân Hoa Kỳ thích nhất là dạng lát thịt thăn, phi lê – fillet, không xương không da hay những phần lát phi lê đủ kiểu cắt, đa số đông lạnh, bán ra còn đông lạnh hay đã hết đông.   Ba sa là lòai Pangasius dân tiêu thụ thích nhất  vì thịt ít nhiều  dịu ngọt, ngot bùi – sweet ,  trắng hơn và khi nấu có phần nào dễ bong mảnh – flaky . Trái lại  cá Tra hay Swai  có vẽ ít trắng hơn, màu ngà ngà, phi lê cũng nhỏ hơn và cấu tạo tầm thường, thô kệch hơn. Các loài cá Pangasius  thường chỉ có lượng chất béo,  mỡ  nhỏ hay trung bình  và lượng protêin  cao.  Nồng lượng  dinh dưỡng các sản phẩm Pangasius   thay đổi tùy  gia vị, thức trộn lẫn thêm nhiều ít và tùy cách nấu nướng .

Từ ngữ  các lòai Pangasius  vay mượn đậm đà từ tiếng Khmer.  Nhắc lại theo  tiến sĩ Phan Tấn Tài ( năm 2006 ), Việt Nam phân lọai  tông chi  Pangasius ra làm: “ cá basa –  Pangasius bocourti , cá tra  nuôi – P. hypophthalmus, cá bông lau – P.  kempfi, cá hú – P. concophilus , cá xác sọc –P. macronema, cá xác bầu –P.  pleurotetaenia , cá dứa –P. polyuranodon , cá vồ đém –P. larnaudii, cá vồ  cờ –P. sanitwongsei, cá tra dầu –P. gigas . Hai lọai cá tra dầu P. gigas hay Pangasianodon gigas  và cá vồ cờ  là cá khổng lồ nước ngọt  của sông Cửu Long, được liệt kê  là cá nước ngọt lớn nhất thế giới , có thể  đạt 300- 350 kg một con. Chúng đã được ghi vào sách đỏ của Việt Nam, Thái Lan, Lào và Căm Bốt. Đôi khi cá tra dầu ( iridescent shark ) và  cá tra đuôi vàng  yellowtail – catfish , ghi nhãn lầm là cá basa ở ngọai quốc . Không rỏ cá tra( cá vồ ) đuôi vàng Pangasius  pangasius  có hiện diện ở nước ta không ? chắc nay các trung tâm thủy sản Việt Nam đã định danh thêm nhiều lòai cá tông chi -genus Pangasius ?  Giống cá tra đen  dễ nuôi  hơn là lòai lưng xám bụng trắng, nên đã nuôi nhiều để xuất khẩu.  Cá Tra hay Swai nuôi rất mau lớn, chỉ ít hơn 10 tháng,  sau khi thả con giống là đạt kích thước thương mãi rồi .

Năm  2000 , ngành nuôi cá Pangasius tiến bước nhảy vọt. Diện tích nuôi  lên  trên 5000  ha,  ở các tỉnh  An Giang, Đồng Tháp , Cần Thơ và Vĩnh Long. Năm 2001, tổng  sản luợng cá Pangasius Việt Nam chỉ mới đến  100 000 tấn. Năm 2005 , vùng ĐBSCL đã có  sản lượng 400 000 tấn cá nuôi, trong đó 96% là cá  tra P . hypophthalmus ,  3% là cá basa   và 1% các lòai Pangasius khác.

            Năm 2009 , tổng sản lượng Pangasius nước nhà  đạt trên 1000 000 tấn, đem lại lợi tức  1.4 tỉ đô la Mỹ . Nuôi cá Pangasius ở Việt Nam cũng đã   gặp nhiều khó khăn. Tháng12 năm 2002,  ngành nuôi cá da trơn Hoa Kỳ kiện  Việt Nam bán phá giá, đánh thuế trên cá Pangasius Việt Nam, cấm cá Việt Nam dùng tên catfish, nên xuất khẩu cá da trơn sang Hoa Kỳ giảm bớt, nhưng may mắn là thị trường Đông Âu và Nga lại gia tăng thêm nhiều. Các ngư dân Hoa Kỳ nuôi cá catfish ở Mỹ, còn  mô tả catfish nhập khẩu là sản phẩm thấp kém. Nhưng các nhà khảo cứu  Viện đại học  bang Mississipi  lại nhận thấy cá ba sa nhập khẩu được dân Mỹ ưa thích hơn, theo tỉ xuất 3/1, ở  một thử nghiệm  nếm, ăn không nhìn thấy – blind test. Việt Nam phải đổi tên Pangasius  bán ở Hoa Kỳ là cá Ba sa hay cá bocourti. Năm 2008, Việt Nam đã thiết lập  hệ thống ao hồ nuôi cá môi trường  sạch, gồm luôn cả ao phát thải chất độc, không dùng thuốc kháng sinh thay bằng thuốc vi sinh,  hệ thống nước sạch và chửa trị nước bẩn,  nước ô nhiễm v.v…  . Khi áp dụng phương pháp tiên tiến, nông dân sẽ được cấp giấy chứng nhận sản xuất an tòan  – safe quality  food certificate, SQF, mà đa số đã được học  tại lớp huấn nghệ Nuôi cá tốt đẹp- Good  Agriculture  Practices, GAP .… Nặng nề nhất là cuối năm 2010,  Quỉ  Đời Sống hoang dã -World Wildlife Fund , WWF đặt cá Pangasius  Việt Nam vào sổ đỏ tên các sản phẩm  khuyên các nước gồm có Đức, Bỉ,  Áo,  Đan Mạch và Thụy Sĩ  nên tránh mua , vì các lý do tai hại  môi sinh. Sự cố  đã được thâu hồi, sau khi  Mark Powel của WWF đến Việt Nam  nghiên cứu tình trạng. Năm 2013,  ngành Pangasius  đối mặt vài khó khăn như thiếu ổn định cung cấp cá, đòi hỏi quốc tế thấp hơn  và giá cá cũng thấp hơn. Theo Thống kê V N,  sáu tháng đầu năm 2013,  sản xuất nội địa  Pangasius VN là 560000 tấn , giảm  3% so với 6 tháng đầu năm 2012.  Tuy nhiên xuất khẩu Pangasius Việt Nam, năm 2013,  cũng đạt  1.7 tỉ đô la Mỹ , tương đương với năm 2012.  Nhờ cuối năm 2013 gia tăng xuất khẩu sang Trung Quốc. Năm 2014 , xuất khẩu  Pangasius có cơ phục hồi, vì yêu cầu tòan cầu có vẽ tăng gia, cũng như kinh tế tòan cầu dần dần cải thiện.  Xuất khẩu  ngành thủy sản Việt Nam, năm 2013,  đã vượt chỉ tiêu 6.6 tỉ đô la, đạt 6.7 tỉ . Phần lớn là nhờ xuất khẩu tôm, đặc biệt là tôm  thẻ chân trắng –  whiteleg shrimp.  đã lên trên  3 tỉ đô la , chiếm  46% tổng xuất khẩu hải sản – sea food.   Tôm thẻ chân trắng Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường lớn như Nhật Bổn và Hoa Kỳ năm 2013,  đã tăng 113 %,  đạt 1. 6 tỉ đô la. Vì nguồn cung cấp  tôm thẻ chân trắng VN ổn định hơn Trung Quốc, Thái Lan và giá tôm tăng mạnh.

Riêng tỉnh Vĩnh Long  có diện tích nuôi  cá năm 2012 là 2950 ha , phần lớn là cá rô phi điêu hồng – red tilapia và cá Pangasius , sản xuất hàng năm 150 000 tấn . Diện tích nuôi cá Pangasius Vĩnh Long là  433 ha , sản xuất  56 000 tấn. Còn kém xa nuôi Pangasius của An Giang, Đồng Tháp .

 

     Miệt Vườn Việt Nam giữa cả hai nhánh Cửu Long( Tiền và Hậu) chứa nhiều đặc sản trái cây địa phương

 

Vườn cây ăn trái Miệt Vuờn Việt Nam  nghĩa là vùng sông Tiền  và giữa sông Tiền và sông Hậu,  miền Đông Nam  Phần ( Nam Bộ ),  lớn hơn hẳn miền Tây Bắc và Đồng Bằng sông Hồng. Như vậy,  ngòai các từ thúng lúa gạo,  vựa thủy sản ( xem bài biên khảo về tỉnh Kiên Giang )  nay  hình ảnh hai đầu nước nhà còn phải  gánh nặng thêm phía Nam những  thúng  hàng cây ăn trái ( quả ) nữa.  Thật thế , năm 1994,  trong tổng số  diện tích cây ăn trái là 325 077 ha cho tòan quốc, ĐBSCL  chiếm 204 568 ha trong khi Đồng Bằng Sông  Hồng chỉ  trồng  12 774 ha và vùng Tây Bắc  32 335 ha. Năm 2000,  thống kê cho biết Tiền Giang trồng được 46 900 ha cây ăn trái và Vĩnh Long  23 513 ha, trong tổng số diện tích cả nước năm đó là  565 000 ha. Năm 2003,  tổng số diện tích cây ăn trái VN là   843 500 ha và tổng sản lượng là 5 695 000 tấn , gần gấp đôi sản lượng năm 1994  chỉ là 3 3442 000 tấn (  Theo tiến sĩ Vũ Mạnh  Hải, Viện Khảo Cứu Cây Trái và Rau Đậu Hà Nội, 2003) .  Năm 2005 , Tiền Giang đạt 60 877 ha và Vĩnh Long  36 356 ha .

Các cây ăn trái chánh của VN là  chuối , vải ( lệ chi – lychee ),  long nhãn,  cam quít bưởi chanh ( cây có múi – citrus ), thơm dứa khóm pineapple ,  xòai mangifera indica , mít jackfruit Artocarpus  hetero phyllu( integrifolius )., đu đủ  Carica papaya,  dưa hấu  watermelon Citrullus lanatus , dừa Cocos nucifera ,  sầu riêng durian  Durio zebethinus ,  dâu tây strawberry  Fragaria x ananassa,  măng cụt , nhãn châu mangosteen  Garcinia mangostana ,  bòn bon langsat  Lansium  domesticum, thanh long dragon fruit  Hylocerus undatus   sa bô chê ( tiếng Bắc là hồng xiêm ) sapodilla  Manilcara zapota  ,  chôm chôm  rambutan  Nephelium lappaceum , lạc tiên( tiếng Nam là chùm bao , tiếng Huế là nhãn lồng )  passionfruit  Passiflora  edulis, trái bơ avocado  Persea  anericana, mơ apricot Prunus mume , mận tây plum Prunus  selicina,  đào lông , đào Vân Nam  peach Prunus persica , lê pear  Pyrus piryfolia, ổi  guyava Punica  granatum,  sấu santol Sandoricum  koetjape ,  cóc  ambarella  Spondias cytherea , mận java  Syzygium  javanica , lý, bồ đào, roi rose apple  Syzygium jambos   trái me Tamarindus indica ,  nho Vitis vinifera , táo tàu jujube Ziziphus jujube .

Các cây diện tích nhỏ, có thể thay đổi các thập niên tới tùy theo mức cải thiện và  tìm ra thị trường xuất khẩu ? là khế carambola, star  fruit Averrhoa carambola , dâu  tiên,  dâu da burmese grape  Baccaurea ramiflora , vú sửa  cainito Chrysophyllum cainito,  kim quất kumquat Fortunella japonica , chanh tây chanh núm lemon Citrus limon , hồng xiêm nhung  hay sa pô chê ruột đen, bứa Ma ní, mun đen  Diospyros phillippinensis, loquat, nhót Nhật Bản Eriobotrya  japonica, bần quân , hồng quân rukam  Flacourtia rukam, me keo, keo tây, ô môi, manila  tamarind Pithecolobium dulce,  mận java , roi rừng, tràm mốc  java plum Syzygium  cumini, mận đỏ , mận hồng đào, roi , lý malay apple Syzygium  malaccense , các giống lai đào-mơ- mận apium , peacotum ,  plum cot, pluot , dương đào  kiwi,  mâm xôi -dum -ré raspberry, mảng cầu tây cherimola, mảng cầu lai atemoya,  bình bát,  sapochê trái vàng canistel trứng gà likima , sapochê ma mây ruột hồng , sapochê ruột trẳng vàng white sapote,  bánh mì bread fruit, mít tố nữ  champedak Artocarpus integer, dừa nước , thốt lốt (nốt ), chùm ruột,  ngay cả sung ngọt fig  Ficus carica,  pom , táo tây apple chăng ?   v.v…   ( chú thích :  phần cây ăn trái cũng như  phần cá Pangasius viết ra có mục đích  làm tài liệu,  ai không thích xin gạt bỏ ) .

Các cây trái Vĩnh Long trồng nhiều là  nhãn ( năm  2005,  diện tích đã là 10379 ha) , cây có múi – citrus (  riêng cam chiếm  7362 ha ), xòai   ( 4054 ha ) , sầu riêng (  6469 ha )  và bưởi  ( 6469 ha ) …. Mỗi năm Vĩnh Long   hái đuợc 535 000 tấn trái  cây .  Nổi  tiếng nhất là  bưởi Năm Roi , nguyên quán ở làng Long Tuyền tỉnh Cần Thơ , nhưng nay trồng nhiều ở huyện Bình Minh.  Từ bưởi là từ đặc hửu một địa phương  như  bưởi Đoan Hùng ở tỉnh Vĩnh Phú , bưởi Phúc Trạch tỉnh Hà Tỉnh , bưởi Năm Roi ở Bình Minh Vĩnh Long , bưởi Da Xanh  ở  Mõ Cày , huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre , huyện Châu Thành tỉnh  Tiền Giang , bưởi   Đường Lá  Cam  huyện Tân Triều, huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai   và đôi khi  còn thêm từ khác như  thanh trà ở  tỉnh Thừa Thiên – Huế .  Cây  bưởi Năm Roi  mọc tốt, nhưng không mạnh bằng  Da Xanh, trái hình trái lê thay vì tròn  như Da Xanh,  da vỏ Năm Roi vàng xanh khi chín  thay vì da xanh, trái nặng trung bình 1800 gr, có phần nhẹ hơn Da Xanh đôi chút,  rất dễ bóc múi , tép màu vàng lợt thay vì đỏ hồng ở bưởi  Da Xanh. Tuy  ít ngọt hơn vì Brix chỉ trung bình 8.33 %  thay vì   11- 12 %  ở Da Xanh, nhưng nhiều nước hơn. Có nhiều giống Năm Roi không  có hột, nhưng khi trồng lẫn lộn với các giống bưởi khác thì mỗi trái có đến 10 hột. Da Xanh nhiều hột hơn, có khi  trên 12 hột. Các  trái bưởi khác nhỏ hơn: Đường La Cam ( 1300 gr),  Phúc Trạch ( 800- 1200 gr ), Đoan Hùng  nhỏ nhất ( 500-  800  gr ). Tuy có tên là Đường, bưởi Đường Lá Cam   cũng ít ngọt hơn Da Xanh,  Brix chỉ   10.6 %.  Bưởi Da xanh nay đã xuất khẩu được sang Nhật Bổn như thanh long ?, giá cao hơn Năm Roi .  Giai thọai tên Năm Roi , chủ vườn Hương hào  N. ,  độc quyền thời xưa  trồng lòai bưởi ngon này, ai vào trộm cành về chiết  marcottage ),  ông cho ăn một trái bửởi , đánh phạt năm roi . Nay không  còn phải nhân giống khó khăn như vậy nữa, vì đã tháp- ghép mắt bưởi trên gốc tháp chanh  vàng Volkamer lemon ( Phi luật Tân cũng thành công tháp mắt buởi trên gốc  calamandarin , có thể là một giống lai giữa calamondin  và quít- mandarin )  tương đối dễ dàng.  Nhân giống  bưởi bằng hột thì cây sẽ không đồng đều, không giống  cha mẹ, có nhiều gai dài, cứng và nhọn hoắc,  trước khi  cây bắt đầu ra trái.

Cam  trồng ở Vĩnh Long,  cũng như ở miền Nam, khí hậu thiếu lạnh nên khó có phẩm giá cao  để ăn tươi như cam Xã Đòai Nghệ An , cam Vân Du ( du nhập  từ năm 1940 ) , Sông Sơn  ( từ năm 1960)  phía Bắc nước nhà . Nhưng khí hậu nhiệt đới lại giúp  cho cây mọc xum xoe hơn, năng xuất cao hơn, ít thơm ngon hơn vì thiếu lượng acid, tuy có phần ngọt hơn , cơ cấu thô kệch hơn  và da không có nhiều màu vàng, rất tốt dùng ép làm nước cốt cam- orange juice. Cam Sành Vĩnh Long và miền Nam  vỏ xanh,   bán ra Bắc nhiều,  lại là quít  King mandarin , một  giống lai – hybrid  cam  ( Citrus. sinensis ) và quít (  C. reticulata ) . Nhãn ĐBSCL   là  nhãn Long ,  nhãn  Tiêu Da Bò  ( trái khá lớn 80- 90 trái/kg ) ,  nhãn Xuồng Cơm Vàng và Cơm Vàng Bánh Xe  ( chuyên viên Thái Lan cho là ngon nhất ), chắc có trồng ở Vĩnh Long. Có phần lớn hơn  Nhãn Lồng Hưng Yên và Nhãn Cùi miền Bắc,  phải cần đến 100 trái cho một kg . Giống xòai  ngon ở Vĩnh Long là Xòai Xiêm Núm, tuy Vĩnh Long  cũng có trồng Xoài Cát Hòa Lộc Cái Bè,  tỉnh Tiền Giang và Xóai Cát Chu  Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Giống đặc thù sầu riêng cho Vĩnh Long là Ri-6 , hột nhỏ, tuy cũng có thể gặp  giống Cơm Vàng – Sửa Hạt Lép  của Chợ Lách Bến Tre, trái tròn  lớn 2.5- 2.7 kg ( có tài liệu nói rằng trái nặng 4- 4,5 Kg ), thịt  vàng,  mềm, không xơ, hột nhỏ  , giống Khổ qua Xanh trái hình thuẩn, nhẹ cân hơn  1.5- 1.8 kg, thịt vàng lợt, nhiều xơ, phần thịt ít hơn ( 15- 17 % trái), nhưng cây  mọc mạnh, năng xuất cao và giống tam nhiễm Mong Thong nguồn gốc tuyễn chọn ở Thái Lan ( ? )  . Tưởng cũng không nên quên vú sửa giống Lò Rèn   trồng nhiều ở Tiền Giang thay vì ở Cần Thơ trước đây, trái vỏ màu xanh cẩm thạch, bóng láng khi chín , cơm trong,  dày,  vị ngọt,  rất sai ( sây ) trái , sản xuất cao đến 40 – 50 năm và chỉ lảo sau 70 năm;  và chôm chôm. Cả ba giống chôm chôm thường, chôm chôm nhãn và nhất là  chôm chôm tróc vỏ java , vỏ trái  chín màu vàng đỏ, cơm trắng đục, tróc vỏ , ít giòn, ngọt vừa,  năng xuất cao,  cây trên 15 tuổi  sản  xuất 300 – 600 kg một cây. Không rỏ các giống tróc vỏ Trung Tâm Long Định – Tiền Giang  tuyễn chọn mới đây  thuộc các R – Ramboutan   Mã Lai Á như  R3 (  giống Peng Thing Chen ), R134, R160 , R 161, R  16,  các giống chôm chôm Thái Lan như  Rogrien –  Roengrean, chôm chôm Inđô nêxia như Lekakbulu, Simacan trái to, vị ngọt, mọc tốt xấu ở Vĩnh Long ?

 

Không quên lúa gạo và chăn nuôi

 

Diện tích cây trái Vĩnh Long tăng thì  diện tích ruộng lúa phải giảm, nhưng  nhờ khai thác thêm đất hoang , tăng thêm vụ năng xuất cao Đông Xuân ( nay năng xuất là 6-7 tấn/ha ).,  hòan chỉnh thêm  vét và chống lỡ bờ … sông, kênh rạch, đê điều,  mương, cống v.v…, nhất là ”bờ bao “ kiên cố , những con đê chắc chắn cao hơn mặt đất độ 1m , bên trên  chạy xe đạp được  ở vùng đất thấp, tránh hậu quả thê thảm  ngập lụt nhà cửa ruộng vườn vào lúc, từ tháng bảy cho đến tháng 10,  nước thượng nguồn Cửu Long đổ xuống  gặp triều cường, khi trời tiếp tục đổ mưa , mưa dầm hết trận này đến trận khác. Mảnh đất nào có nhà cửa , ruộng vườn đều có  bờ bao chạy bao quanh.  Nhờ tiến bộ khoa học ,  nông dân  nay có được lọai “ xáng cạp” , móc  những  mảng đất lớn  từ đáy sông  lên  đắp đê;   nơi nào yếu họ còn đóng cọc to để thêm sức chịụ đựng,  nên bờ bao bây giờ  kiên cố hơn trước nhiều.  Ngòai  bảo vệ ngập lụt , cung cấp đường thủy  chuyên chở và du lịch,  hệ thống kinh mương  chằng chịt  còn đưa nước tưới tiêu ruộng vườn, đã giúp  Vĩnh Long giữ  diện tích lúa  khỏang từ 206 000 ha  – 224 000 ha hai vụ một năm, các thập niên  1990 –  2000.  Lúa Hè Thu  chiếm 124000 –  146 000ha, lúa  Đông Xuân   72000 -76 000 ha,  Lúa Mùa không đáng kể. Tổng sản lượng lúa Vĩnh Long cả năm, tăng thêm từ 860 000 tấn năm 1995 đến   950 000 – 960 000 tấn những năm gầy đây, vuợt trên hẳn mức an tòan thực phẩm chỉ cần khỏang 550 000 tấn vào năm 2012- 13.  Sông Măng Thít  nối sông Tiền và sông Hậu  theo hướng Bắc Nam  giúp chuyên chở  hàng hóa cho ĐBSCL đến thế giới, có các cảng chánh Tiểu, Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên và Định An hổ trợ.

Nơi nào Vĩnh Long cũng  có vườn cây trái xum xoe,  nhất là ở  huyện  Chợ Lách, cù lao An Thành, cù lao Tân Phong, cù lao Phú Đa và vùng đất Cái Mơn  nên  nuôi ong lấy mật dễ dàng. Nuôi ong đã bàn qua ở trên , chỉ tiếc là chưa thấy mật ong và  sửa Ong Chúa – royal queen bee jelly  Việt Nam bán nhiều ở Hoa Kỳ và ngọai quốc. Cũng nên cải thiện  ngành  chăn nuôi gia súc,  năm 2012  tỉnh  đã có  5.7 triệu gà, bò và heo .

 

Phát triễn công nghệ: cần tụ điểm huấn nghệ con em  kỷ thuật mới, hòan chỉnh chánh sách và chế độ đầu tư

 

Vĩnh Long không có nhiều  tài nguyên thiên nhiên cho công nghệ, ngòai đất sét, ước lượng trên 100 triệu mét khối, dùng làm gạch  ngói, đồ gốm, sản phẩm  tiểu công nghệ. Tuy nhiên những năm gần đây , tỉnh nhà vẫn đạt mức phát triễn kinh tế xã hội khá tốt đẹp. Đặc biệt  là chỉ số cạnh tranh tỉnh – provincial  competitiveness  index PCI . Từ năm  2011, PCI Vĩnh Long  đã leo lên từ  vị thứ 54  đến  vị thứ  5  tòan quốc  và vị  thứ 3  năm 2012  của 13 tỉnh – TP  tòan thể ĐBSCL.  

Tỉnh đã làm và thực hiện các dự án chủ trì  phát triễn kinh tế xã hội cho 6 huyện của 8 huyện thị xã, thị trấn huyện lỵ  tỉnh  và 9 dự án phát

triễn công nghệ, trình bày cho các nhà đầu tư ngọai quốc và trong nước    ngòai hệ thống đường bộ đã được nói trên,  tỉnh cố gắng  đặt  ưu tiên kêu gọi  nguồn tư bản  cần thiết cho canh tân hạ tầng cơ sở. Về điện, tỉnh đã thực hiện  xong 1954 km đường dây  điện trung thế – medium voltage lines, 1 2903 km đường dây hạ thế  và 4 225 trạm biến điện  công xuất tổng cọng là  289 .5 MVA. Nay  98.9 % gia thất  đã có điện. Về nước sạch , tỉnh đã thiết lập10 nhà máy nước thị trấn , cung cấp nước sạch cho 86% gia thất  thị trấn tỉnh nhà. Tỉnh  cũng  làm xong 106  trạm cung cấp nước nông thôn,  gồm luôn 28 trạm  nước  ở các xã  xa xôi và 28 trạm  ở vùng thấp  nhiều bờ bao  chống  ngập lũ triều cường.

Về công nghệ, tỉnh đã thiết lập 2 công viên công nghệ đầy đủ hạ tầng cơ sở và   đường công nghệ dọc theo sông Cổ chiên. Dự trù xây dựng thêm 3  công viên công nghệ  tập trung hơn là  Bình Tân, Đông Bình và An Định. Làng tiểu công nghệ làm đồ gốm – handicraft pottery , trải dài trên 20km sông Chiên, phía bắc Vĩnh Long thuộc sông Tiền, đã nổi tiếng từ lâu. It ai biết tới  là  vùng này đã  chuyễn sang, 10 năm gần đây, làm  công nghệ sành sứ nghệ thuật tinh vi  – fine art ceramics. Lúc ban đầu,  làng này  chỉ làm gạch ngói ở các lò nung đã 100 tuổi.  Sau đó vài doanh nhân đã  chuyễn nghề sang làm đồ men  sành sứ. Nay ngành này đã có  140  nghệ nhân mới, chủ nhân hơn 720 lò  mới, dài 20 km  thuộc sông Cổ  Chiên. Tập trung phần lớn ở các huyện Măng Thít và Long Hồ  và thị xã Vĩnh Long. Hút dẫn hơn 10 000 người  làm việc ở lò, xưởng và  10 000 người dùng trấu – rice husk   đút lò và chuyên chở sản phẩm.  Năm 2008,  chỉ mới có  387 lò men  sành sứ, dùng 4 557 nhân công, trị giá  đồ men sứ là 154 tỉ  ĐVN. Năm 2011 có 720 lò , dùng 9 639 nhân  công và trị gíá  357 tỉ  ĐVN, gần  17 triệu đô la Mỹ (năm 2011 một đô la Mỹ ăn 21 000 ĐVN ) . Nhắc lại là ngành sành sứ tỉnh  Bình Dương, cách TP HCM 20 km, năm 2011, có 125 doanh nhân, chủ nhân 500 lò  phần lớn  họat  động ở các  huyện Tân Uyên, Thuận An và  trong thị trấn Thủ Dầu Một.  Bát Tràng ( thật sự gồm 2 thôn Bát Tràng và Cao Giang ) cách Hà Nội 10km phía Bắc sông Hồng, lâu đời hơn vì tuổi đã 700 năm, có đến mấy ngàn lò đồ gốm và sành sứ chạy suốt đêm ngày, chỉ còn sử dụng  2100 người làm đồ sành sứ, nhưng trị giá lên đến 600 tỉ  ĐVN năm 2011, trong số này xuất khẩu ra ngọai quốc chiếm 350 tỉ ĐVN.

Điều đáng lo ngại là Vĩnh Long chỉ có những công nghệ kích thước nhỏ hay trung  bình, không hút dẫn nổi các nhà đầu tư lớn, hổ trợ công nghệ, chưa áp dụng những kỷ thuật tiên tiến và các  dự án giá trị cọng thêm  cao- high value added projects.  Mức đầu tư cũng rất chậm.

Nếu công nghệ không phát triễn  mạnh mẽ như dịch vụ, hạ tầng cơ sở đường bộ, điện nước …  thật khó lòng duy trì  mức  tăng trưởng 12- 13 %  dự  trù  cho 2011- 2020, và đạt lợi tức đầu người là 3200 đô la Mỹ,  năm 2020. Vĩnh Long đang cố gắng hòan chỉnh chánh  sách, chế độ, thủ tục(  tỉ dụ thủ tục hành chánh chỉ  một cửa sổ, một cơ chế duy nhất xin phép , cấp phép … )   cho một môi trường làm doanh vụ sán lạn hơn,  bảo đảm qui họach  và dự án đầu  trong sáng, ổn định, tiên đóan những khó khăn  của các nhà đầu tư …  cho đầu tư dễ dàng hơn , thay đổi cách suy nghĩ và hiểu biết  các hệ thống chính trị  và dân gian  hướng về hút dẫn đầu tư, nhất là những đầu tư lớn.  Nhưng đồng thời phải kiểm tra, bải bỏ hay trừng phạt đích đáng … hơn,  các nhà đầu tư yếu kém, bè đảng , tham nhũng… , như  Vĩnh Long đã thực hiện giữa năm 2013 một phần nào,  khi  thu lại môn bài của 30 dự án không thể làm được, tư bản tổng cọng là 4 850  tỉ ĐVN.  Lẽ  nhiên phải  bổ sung, nâng cấp mạnh mẽ  phẩm gíá  huấn nghệ  và đào tạo  nguồn tài nguyên  nhân lực cho kịp trào lưu tiến triễn thế giới, đặc biệt ở các ngành công nghệ thông tin – viễn thông  ICT và   thông tin IT … đang tính đầu tư ở Vĩnh Long ? …

( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ,  ngày 26 tháng hai năm  2014 )

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s