Sách mới: Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng của Ngô Viết Trọng với lời tựa của VÕ HƯƠNG-AN

LỜI TỰA

Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là tác phẩm thứ 12 của nhà văn Ngô Viết Trọng, là tiểu thuyết lịch sử thứ 6, sau Lý Trần Tình Hận (2002), Công Nữ Ngọc Vạn (2004), Dương Vân Nga: Non Cao & Vực Thẳm (2005), Trần Khắc Chung (2009), Chế Bồng Nga, Anh hùng Chiêm quốc (2011), trong đó, Lý Trần Tình Hận đã được tái bản vào năm 2005.  Điều này chứng tỏ tiểu thuyết lịch sử của tác giả họ Ngô đã được độc giả hải ngoại tìm đọc với hảo cảm.

Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng là truyện dài viết về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu vào năm 248, chống lại sự thống trị bóc lột, hà khắc của nhà Đông Ngô thời Tam Quốc.

Sau khi chào độc giả bằng tác phẩm đầu tay Vết Hằn Mùa Xuân, một tuyển tập truyện ngắn dễ thương, dành được nhiều cảm tình của người đọc, Ngô Viết Trọng bỗng rẽ sang một nẻo đường mới – mà rất ít người cầm bút muốn dấn thân, nhất là giới cầm bút hải ngoại – là tiểu thuyết lịch sử.

Nhớ lại thời niên thiếu đã có lần mê mẩn đọc Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng, Bà Chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật, rồi Gia Long Tẩu Quốc, Gia Long Phục Quốc, v.v, chưa kể những Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa… , nên tôi không thể bỏ qua tác phẩm đầu tay về tiểu thuyết lịch sử của anh và nhận ra rằng đây là một sự chuyển hướng hợp tình lý, có thể tạo cho tác giả một chiếu riêng trong sinh hoạt văn học hải ngoại..

Đa số các tác giả thể loại này khi chọn một đề tài nào đó trong lịch sử là muốn vẽ lại lịch sử dưới một hình thức thân thiện, gần gũi, dễ hiểu để độc giả dễ tiếp thu nhưng cũng không thiếu tác giả muốn dựng lại một thời đại, một sự kiện hay một nhân vật nào đó theo cái nhìn  của riêng họ để lý giải điều gì đó. Tương tự, trong lãnh vực điện ảnh, khi Trương Nghệ Mưu dựng phim Hero với bao ngoại cảnh vĩ đại tốn kém cũng chỉ với mục đích vẽ ra Tần Thủy Hoàng dưới một cái nhìn khác.

Trong một tác phẩm văn học hay nghệ thuật, tác giả ít nhiều đóng vai một thượng đế nho nhỏ, nghĩa là có thể sáng tạo tùy thích. Tuy nhiên, trong khi viết tiểu thuyết lịch sử thì cái quyền này của tiểu thượng đế bị hạn chế nhiều lắm do quá khứ lịch sử đã thành nếp nên khó mà phóng tay bay bổng. Có lẽ đấy cũng là lý do khiến nhiều nhà văn cảm thấy ngòi bút không được thoải mái nên không ham đi vào lãnh vực này. Đó là chưa kể người viết phải mất công tìm đọc sử liệu thuộc giai đoạn làm bối cảnh câu chuyện, tìm hiểu nhân vật, sinh hoạt của xã hội đương thời, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… nghĩa là càng biết nhiều càng nắm vững càng tốt vì sẽ có thêm nhiều chất liệu để tái tạo quá khứ một cách sinh động hơn.

Khi nhà văn Ngô Viết Trọng dấn thân vào lãnh vực này, anh cũng không làm khác hơn. Và lần này, khi chọn đề tài Bà Triệu, anh đã di vào một con đường gập ghềnh hơn vì thiếu sử liệu.

Sau ba phen Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm, Ngô Quyền đã mở đầu thời kỳ tự chủ của nước ta với chiến thắng Bạch Đằng (939), lập ra Nhà Ngô, tồn tại trong 6 năm (939-965). Tiếp đến là Nhà Đinh (968-980), Nhà Tiền Lê (980-1009), Nhà Lý (1010-1225). Trong suốt bốn triều đại này nước ta chưa có một bộ sử nào tuy rằng khoa thi đầu tiên – khoa Tam trường – đã được mở ra vào năm 1075, triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127) để tuyển người có văn học ra làm quan. Trong các triều đại vừa kể, Nhà Lý tồn tại lâu hơn cả nên có một tổ chức chánh quyền hoàn bị hơn các triều đại trước. Tuy nhiên, mãi đến năm 1272, nghĩa là bước vào thế kỷ XIII, Bảng nhãn Lê Văn Hưu mới là người đầu tiên cho ra đời bộ sử đầu tiên của nước ta, một nước vốn tự hào có trên 4,000 năm lịch sử. Ấy là bộ Đại Việt Sử ký, chép từ Triệu Vũ đế (207 tr.TL) đến Lý Chiêu Hoàng (1225), gồm 30 quyển, được vua Trần Thánh Tông ban khen.

Qua đó, ta có thể hiểu rằng trước thời kỳ tự chủ (939), để chép sử nước ta, các nhà làm sử đều phải mượn sử liệu từ những ghi chép của Trung Hoa. Với mặc cảm tự tôn “thiên triều” của kẻ đi đô hộ, dĩ nhiên những ghi chép của họ sơ sài và đầy thiên kiến.

Nói đến Bà Triệu, họ gọi là Triệu Ẩu và thêm chi tiết là người cao lớn, thô tháp, hung dữ (giết chị dâu). Những bộ sử đầu tiên của Việt Nam cũng lặp lại những điều này. Ẩu 媼,nghĩa là bà già. Bà Triệu qua đời lúc mới 23 tuổi, chưa chồng, sao gọi là bà già? Như vậy, chỉ có thể hiểu người Hoa muốn gọi xách mé Bà Triệu là con mụ họ Triệu. Có lẽ vì cảm nhận được điều này nên trong kỳ tái bản bộ Việt Nam Sử Lược tại Pháp (Nxb Institut de l’Asie du Sud-Est, 1987), thấy sử gia Trần Trọng Kim đã thay cái tên Triệu Ẩu bằng BÀ TRIỆU (TRIỆU THỊ CHINH) với chú thích ” Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu, nay xét ra nên để là Triệu Thị Chinh” (Sđd, Quyển I, tr.44). Vua Tự Đức (1848-1883) khi đọc Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán biên soạn, tới đoạn Bà Triệu vú dài 3 thước, đã châu phê “ Nhưng nói là vú dài ba thước thì cũng quái gở, đáng cười “.

Tôi dẫn dài dòng như thế để chỉ nói lên một điều: để xây dựng nên Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng, Ngô Viết Trọng , ngoài việc dựa vào Đại Nam Nhất Thống Chí (tỉnh Thanh Hóa, mục Liệt Nữ Phụ, Tập Hạ, bản dịch của Trần Tuấn Khải, Nha Văn Hóa, Saigon, 1960) còn phải tham khảo nhiều sách sử khác, sàng lọc các chi tiết, rồi mới dám cấu tứ và xuống bút làm thành tác phẩm. Chỉ với sử liệu dài hơn một trang sách, bằng óc sáng tạo, nhà văn họ Ngô đã có thể cống hiến cho độc giả 200 trang sách đầy cuốn hút với một văn phong giản dị như chính con người của anh. Nếu viết một truyện dài tình cảm trong đời thường, có lẽ người cầm bút không phải khổ công như thế. Sự khổ công đó, ngoài lòng tự trọng và sự tôn trọng độc giả, không muốn muốn cung cấp cho người đọc một món hàng mạo hóa, mà còn được thúc đẩy bởi một động cơ tình cảm khác, âm thầm và mãnh liệt hơn.

Trước cảnh Biển Đông dậy sóng với đủ trò diễu võ dương oai của Tàu cộng, nào xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, tuyên bố lãnh hải lưỡi bò, bức hiếp ngư dân Việt Nam, v.v. mà nhà cầm quyền CSVN vẫn chịu lép một bề, người dân đã đứng lên, đã lên tiếng, và đã bị đàn áp tù đày nhưng vẫn hiên ngang đối mặt,trong đó không thiếu những anh thư của thời đại mới, như Nguyễn Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần, v.v. khiến ngòi bút của Ngô Viết Trọng không thể nằm yên. Như nhà thơ Trần Trung Đạo đã viết những dòng này cho  Đỗ Thị Minh Hạnh:
Đất nước mình không có hôm nay
Nếu hai ngàn năm trước không có bà Trưng, bà Triệu
Và sẽ tiếp tục sống trong độc tài nô lệ
Nếu không có những người con gái như em
Dòng sông dài và phiến đá chông chênh
Nhưng nếu tất cả đều co ro, sợ hãi
Nếu tất cả đều đứng nhìn, e ngại
Dân tộc này rồi sẽ ra sao?

Cũng thế, Ngô Viết Trọng đem tâm tình viết Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng không phải để chỉ vinh danh một Bà Triệu mà còn để vinh danh tinh thần Trưng  Triệu, khơi dậy ngọn lửa yêu nước đang âm ỉ trong tâm mọi người, ca ngợi và tiếp sức cho các anh thư nước Việt của thời nay.

Sử sách chỉ có tác dụng đối với giới học giả, trí thức bởi nó thuộc loại khoa giáo. Với quảng đại quần chúng, tiểu thuyết lịch sử, và trong thời hiện đại, là phim ảnh, dễ thâm nhập lòng người hơn. Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí không phải sách sử nhưng hầu như ai cũng thích đọc nó và nhớ rất kỹ những chuyện trong đó. Cũng thế, người ta thấy rõ với sự xâm nhập hàng ngày của phim ảnh lịch sử Trung Quốc qua màn ảnh nhỏ trong xã hội Việt Nam hiện nay đã làm cho thị dân Việt Nam thuộc lịch sử Tàu hơn lịch sử Việt.

Nhiều thức giả quan niệm hiện tượng trên là một mối đe dọa văn hóa nguy hiểm đối với dân tộc Việt. Sự xâm nhập văn hóa ấy có thể coi là một mặt trận trong chính sách xâm lược trường kỳ của người Hán đối với các lân bang.

Dân tộc Việt đã từng trải qua một quá trình vùng dậy trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc! Dân tộc Việt cũng đã từng lập được những chiến công oanh liệt nào đánh Tống, nào phá Nguyên, nào đuổi Minh, nào trục Thanh để giành quyền tự chủ! Dân tộc Việt cũng có nhiều danh nhân đã để lại những câu nói bất hủ như “Trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy” (Lý Thánh Tông), “Đừng để ai lấy một phân núi, một tấc đất của cha ông để lại” (Lê Thánh Tông), “Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng), “Khi nào nước Nam hết cỏ người Việt mới hết người chống Tây” (Nguyễn Trung Trực), v.v…

Đó là một kho tài nguyên phong phú nội tại để các nhà văn, nhà thơ, các nhà dựng phim ảnh, kịch nghệ có thể khai thác mà khỏi cần mượn đến những danh nhân, cảnh trí mang tính giả tạo của Trung Hoa xa lắc xa lơ. Làm được công việc này cũng là một cách để phát triển văn hóa nước nhà đồng thời ngăn chận bớt phần nào mối đe dọa của sự xâm nhập văn hóa nói trên!

Ước mong nhà văn Ngô Viết Trọng tiếp tục con đường tiểu thuyết lịch sử đã đi và ước mong các nhà văn khác chung tay khai thác thế mạnh này của văn học trong khí thế “văn dĩ tải đạo” như người xưa từng nói. Bởi đó, tôi xin trân trọng mời độc giả đọc tiểu thuyết lịch sử Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng của Ngô Viết Trọng.

 

San Jose, California, tháng Giêng, 2014

VÕ HƯƠNG-AN

* * *

LỜI  MỞ  ĐẦU

Nước Tàu là một đại đế quốc đã có mặt trên trái đất từ thời cổ đại và tiếp tục bành trướng to lớn mãi cho đến ngày nay. Hàng ngàn nước nhỏ chung quanh nước Tàu đã lần lượt bị người Tàu xâm chiếm và đồng hóa. Nước nào đã bị nước Tàu cai trị một lần dù thời gian cai trị ngắn hay dài, nếu chưa bị “mất tích” cũng bị người Tàu coi là “đất cũ”, là  “một phần lãnh thổ của Trung Quốc”.

Trong chính sách đồng hóa của người Tàu, ngoài việc sử dụng trình độ văn hóa cao để chinh phục đối tượng, họ còn sử dụng luôn cả chính sách xuyên tạc những hình tượng tốt đẹp trong quá khứ của các nước bị họ cai trị. Qua sách vở của người Tàu, những hình tượng tốt đẹp này đã biến thành quỉ quái, lố bịch, dã man, mọi rợ… Mục đích của việc làm này là đầu độc trí óc lớp hậu duệ: Với dân Tàu, đó là cách nuôi dưỡng tinh thần chủ nhân, tinh thần đại hán. Với dân bị trị, đó là cách gieo rắc tinh thần tự ti, chán nản để họ chối bỏ cội nguồn mà hướng về văn hóa Tàu.

Mỗi lần chiếm được một nước, ngoài việc vơ vét những tài vật quí giá của nước này đem về Tàu, người Tàu còn tích cực làm các việc như sau:

-Lùng kiếm nhân tài: học giả, nhà sáng chế, thầy địa lý, thầy thuốc, kiến trúc sư, thợ khéo, chiêm tinh gia, lực sĩ v.v… Tất cả những kẻ có danh trong các hạng này đều bị đem về phục vụ ở kinh đô nước Tàu và coi đó như là những tinh hoa của Tàu.

-Lùng soát vơ vét các loại sách vở do người bản xứ trước tác. Những sách giá trị cao họ đem về Tàu giữ làm tài liệu để rồi biến chế lại thành của họ. Những sách thấy không cần thiết họ đem đốt sạch khiến dân bản xứ không còn cái gốc để tra cứu.

Tất nhiên về sau, khi muốn tìm hiểu về cội nguồn lịch sử, văn hóa của mình, dân bản xứ chỉ còn biết dựa vào… sách Tàu!

Những viên tướng giỏi của nước Cao Ly (Triều Tiên) từng đánh cho nước Tàu bao phen liểng xiểng như Cáp Tô Văn, Ô Tất Khải, qua sách vở của Tàu, họ đều bị biến thành những tên quỉ sứ mặt xanh nanh vàng vô nhân tính. Hai Bà Trưng của Việt Nam người Tàu cũng biến thành những nữ tặc mặt đen như lọ chảo.

Nhờ chính sách thâm độc này mà nước Tàu đã lần lượt nuốt sạch cả khối “Bách Việt”, chỉ còn sót vỏn vẹn một nước Việt Nam!

Chuyện dân tộc Việt đã nổi lên giành lại được nền độc lập sau ngót một ngàn năm bị người Tàu đô hộ là một chuyện quá phi thường! Không những đã giành lại được độc lập, dân tộc Việt còn ngang nhiên phát triển lớn mạnh ngay bên cạnh nước Tàu tham lam ấy! Nếu không phải là điều đã thật sự xảy ra mà cả thế giới đều thấy thì nói ra khó ai tin được. Đó là một điều mà mọi người Việt chúng ta đều có quyền tự hào!

Nhờ đâu mà dân tộc Việt đủ khả năng gìn giữ và nuôi dưỡng tinh thần độc lập, ý chí tự chủ sắt đá ấy qua suốt cả ngàn năm tối tăm dưới sức đồng hóa mãnh liệt của Hán tộc?

Đó không phải chỉ do công lao của những vị anh hùng danh tiếng như hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ v.v… mà còn do sự góp sức của toàn dân đấu tranh dưới mọi hình thức, khi công khai, khi âm ỉ nhưng liên tục không lúc nào ngưng.

Đây là một dẫn chứng về tinh thần đấu tranh liên tục của toàn dân Việt:

Sau khi Phục Ba Tướng quân Mã Viện nhà Đông Hán đã đánh bại Hai Bà Trưng để tái lập cuộc đô hộ của người Tàu trên đất Việt, y đã cho dựng một cột đồng trụ để ghi công. Trên cột đồng này Mã Viện cho khắc sáu chữ lớn: Đồng Trụ Chiết – Giao Chỉ Diệt, nghĩa là cột đồng gẫy thì người Giao Chỉ mất nòi. Sáu chữ này người Việt đương thời cho là có ý nghĩa như một lời nguyền.

Vì sợ cột đồng gẫy thì nòi giống mình sẽ mất nên dân Việt phải tìm mọi cách để giữ cho cột đồng nói trên khỏi gẫy. Dân Việt đã vận động ngầm với nhau, ai đi ngang qua cột đồng ấy cũng lượm một viên sỏi ném vào chân cột. Trải qua nhiều thế hệ dân Việt vẫn tiếp tục làm công việc ấy. Kết quả là bao lớp sỏi đá đã lấp kín cột đồng lúc nào không hay. Thậm chí người ta không còn biết nơi dựng cột đồng ở đâu nữa. Đến đời Đường viên tướng phù thủy Cao Biền cho tìm lại cột đồng ấy để làm gì đó không biết nhưng tìm không ra.

Một điểm đặc biệt nữa là cuộc khởi nghĩa chống Tàu đầu tiên (năm 40 TL) của dân Việt lại do hai người đàn bà lãnh đạo: Hai Bà Trưng. Hai trăm năm sau một cuộc khởi nghĩa chống Tàu khác lại diễn ra (năm 248 TL), cũng do một người đàn bà lãnh đạo: Bà Triệu Thị Trinh.

Như vậy là trong bước đầu khi đất nước bị giặc Tàu đô hộ, người phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra năng động, can đảm vùng dậy giành độc lập trước cả các đấng trượng phu!

Đó là những vụ nổi dậy quá lớn làm rúng động cả triều đình nước Tàu khiến họ phải ghi vào chính sử của họ! Chắc hẳn còn nhiều vụ nổi dậy do giới phụ nữ Việt Nam lãnh đạo khác nữa nhưng ở tầm cỡ nhỏ hơn nên người Tàu không chép lại mà thôi. Đây không phải sự phỏng đoán liều, vì thực tế, trong công cuộc đấu tranh giải trừ hiểm họa Bắc thuộc hiện nay chúng ta thấy giới phụ nữ đã tham gia không ít!

Đáng tiếc là những sách sử do người Việt chép trước kia đã bị người Tàu tịch thu đem đốt hết. Vụ đốt sách của người Việt lớn nhất đã xảy ra vào đầu thế kỷ 15 do viên Tổng binh Trương Phụ thực hiện sau khi y đã diệt xong nhà Hồ (1407).

Chính sách thủ tiêu chứng tích để dễ bề xuyên tạc nguồn gốc và tinh thần đấu tranh của dân Việt mà người Tàu đã thực hiện gây rất nhiều khó khăn cho những sử gia của ta. Một số sự kiện lịch sử quá mơ hồ không có tài liệu để sưu khảo, họ chỉ còn biết cách chép theo sử của người Tàu! Ngay cả bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là một bộ sử được viết bởi những sử gia danh tiếng qua nhiều đời, được coi là bộ sử có giá trị đáng tin cậy nhất của nước ta mà nay đọc lại chúng ta cũng gặp những đoạn đáng buồn:

“Nhâm Tuất, 722, (Đường Huyền Tôn, Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10). Tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được”.

Mai Thúc Loan chỉ là “giặc” đối với chính quyền đô hộ Tàu chứ đâu phải là giặc của dân Việt? Người Việt viết sử Việt mà rinh nguyên chữ “Tướng giặc là Mai Thúc Loan…” từ Đường thư về theo là một sự thiếu cẩn thận!

Rất nhiều trường hợp các sử gia Tàu vì mục đích phục vụ lợi ích của triều đại họ, hoặc một số văn nhân Tàu nặng lòng kỳ thị các dân tộc khác đã cố tình bóp méo, xuyên tạc hình tượng những nhân vật mà các dân tộc này tôn thờ, yêu chuộng.

Vị anh thư Triệu Thị Trinh của dân tộc Việt là một nạn nhân điển hình của chính sách xuyên tạc bôi bác ấy! Người Tàu – nhất là chính quyền đô hộ Tàu – rất thù ghét người đàn bà đã dám nổi dậy chống lại họ, đã làm họ điêu đứng một thời gian khiến vua Đông Ngô là Tôn Quyền phải cử danh tướng Lục Dận sang đàn áp. Viên tướng này đã phải vất vả lắm mới thành công được!

Về tên gọi, người Tàu gán cho Bà Triệu một cái tên mang tính mỉa mai, khinh miệt: Triệu Ẩu. Âm Ẩu theo chữ Hán có nghiã là đánh lộn, mửa, bà già, mụ. Chữ Triệu Ẩu người Tàu dùng trong sách vở có thể dịch ra là “Mụ Triệu”. Thế nhưng hầu hết sách sử nước ta đã bắt chước theo người Tàu, cứ dùng cái tên không đẹp đó cho vị anh thư của dân tộc mình. Mãi đến giữa thế kỷ 20 mới có một số sử gia, trong đó có sử gia Trần Trọng Kim, đã cảnh tỉnh, đã phân tích cái dụng ý của người Tàu, không dùng tên Triệu Ẩu nữa mà gọi lại cái tên thật của Bà là Triệu Thị Trinh.

Về bản thân Bà Triệu, người Tàu vẽ nên một hình ảnh rất khó coi: vú dài ba thước! Sách Giao Chỉ Chí của Tàu chép:

“Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần”.

Sách “Thái Bình Hoàn Vũ Ký” của Nhạc Sử đời Tống cũng chép sự tích Bà Triệu tương tự như thế.

Thế là các sử gia và một số thi văn gia của ta cứ tin, cứ sơn vẽ lại cái hình ảnh dị hợm “vú dài ba thước” đó qua tác phẩm của mình. Trong số lầm lẫn này có cả các bậc vua chúa, công hầu nữa mới đáng buồn!

Chúng ta không thể trách sự tin lầm của các bậc tiền nhân vì thời bấy giờ ảnh hưởng văn hóa của người Tàu đối với nước ta còn quá đậm, nó đã quay như một guồng máy, các bậc tiền nhân ta thật khó tách ra ngoài được! Thế nhưng bây giờ đã nhận chân được điều vô lý đó rồi tại sao chúng ta không sửa đổi?

Để trả lại hình ảnh thật hơn của một bậc anh thư đã hi sinh cả cuộc đời cho lẽ sống của dân tộc, quyết đưa dân tộc Lạc Việt thoát khỏi ách nô lệ của người Tàu vào thế kỷ thứ 3, tôi đã sưu tầm một số truyền thuyết dân gian nói về bậc anh thư ấy, xây dựng thành một thiên tiểu thuyết lịch sử. Xin mượn câu thơ “ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG” ở đoạn viết về Bà Triệu trong tập sử thi Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của hai ông Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái để làm tựa đề.

Rất mong thiên tiểu thuyết lịch sử ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG này sẽ đóng góp được phần nào trong việc hóa giải những hình ảnh sai lầm về bậc anh thư dân tộc Triệu Thị Trinh do người Tàu cố ý vẽ ra! Đồng thời cũng để nêu cao tinh thần tranh đấu quật cường của người phụ nữ Việt Nam trước nạn nước như hiện nay.

 

Sacramento, ngày 1 tháng 1 năm 2014

Ngô Viết Trọng

 

 

CHƯƠNG  1

 

Nhà họ Triệu lập nghiệp ở quận Cửu Chân (1) đã nhiều đời. Cuộc sống con cháu giòng họ này trải qua bao nhiêu năm vẫn trầm trầm với nghề ruộng rẫy hoặc săn bắn. Đến đời Triệu Thành, một cơ duyên tình cờ đã đưa đẩy họ này phất lên một cách bất thường.

Cha mẹ mất sớm, thuở nhỏ Triệu Thành từng phải sống dựa vào chú bác họ hàng. Nhờ trời phú cho một thân thể cường tráng, tính tình trung hậu, lại siêng năng, cần cù nên ai cũng thương mến. Nhà họ Phạm thấy Triệu Thành được người được nết nên gọi gả con gái cho. Phạm thị vốn thông minh, khéo léo, có sức khỏe bền bỉ, lại quen tính cần kiệm từ thuở nhỏ nên vợ chồng sống với nhau rất hợp.

Từ khi ra ở riêng, vợ chồng Triệu Thành càng siêng năng làm ăn khiến gia đình mỗi ngày mỗi khá. Nhà họ Phạm vốn sống bằng nghề nuôi tằm ươm tơ, nhưng chỉ làm trong phạm vi gia đình. Nhờ vậy Phạm thị cũng khá thạo nghề. Lúc bấy giờ việc nuôi tằm ươm tơ ở xứ này chưa được phát triển, còn xa lạ với dân địa phương.

Biết rõ nghề tằm tơ ít vất vả mà lại đem đến nhiều lợi nhuận nên Phạm thị rất muốn chồng mình chuyển sang nghề này cho dễ sống. Những lúc nông nhàn Phạm thị lại kéo chồng về giúp việc tằm tơ ở nhà cha mẹ để học nghề luôn thể. Nhưng Triệu Thành vốn đã quen nghề ruộng rẫy, không muốn cuộc sống xáo trộn, chỉ học cầm chừng cho vừa ý vợ chứ trong dạ vẫn còn thờ ơ, không muốn xa nghề cũ.

Lúc bấy giờ có một ông nhà giàu tên là Phùng Của ở Long Biên, phủ trị quận Giao Chỉ (2), muốn đến quận Cửu Chân lập nghiệp. Sau khi thăm dò thổ nhưỡng và nhân sự kỹ càng, ông Phùng quyết định bỏ vốn ra kinh doanh nghề trồng dâu nuôi tằm ở đây. Một mặt ông ta mua một vùng đất mới khai khẩn ở làng Hương Vân thuộc huyện Nông Cống để trồng dâu, một mặt ông cho xây dựng một khu nhà nuôi tằm. Khu nhà này nằm luôn trong khu vực trồng dâu nên về sau, khi đã khoanh vùng đàng hoàng, người ta vẫn gọi gộp toàn bộ là trang trại Hương Vân. Muốn được thuận tiện, ông Phùng mướn rặt dân tại địa phương làm công cho mình. Phạm thị nhân dịp này đã thúc giục chồng xin làm công. Ban đầu Triệu Thành không bằng lòng nhưng rồi Phạm thị cứ thúc giục mãi, cuối cùng Triệu Thành đành phải nghe theo.

Không ngờ khi bước vào nghề, Triệu Thành đã nhanh chóng thích nghi với nghề nghiệp mới. Vốn là người lanh lợi, có óc nhận xét bén nhạy, lại được Phạm thị trực tiếp truyền thụ kiến thức, không bao lâu Triệu Thành đã vượt xa các đồng bạn làm công. Nhiều lần Triệu Thành đã mạnh dạn góp ý với ông Phùng trong công việc khiến ông Phùng phải ngạc nhiên và rất hài lòng. Khi được ông Phùng giao phó công việc gì, vợ chồng Triệu Thành đều làm tới nơi tới chốn. Vì thế ông Phùng càng ngày càng nể trọng Triệu Thành thêm. Để tâm nhận xét, ông Phùng thấy đôi vợ chồng này không những làm việc giỏi giang, tận tụy mà còn có lòng dạ minh chính, không tham lam, không tìm cách mưu lợi riêng tư. Từ đó, ông Phùng có ý định chọn Triệu Thành làm người quản lý cho cơ sở làm ăn của ông trong tương lai.

Công việc của ông Phùng đã được tiến hành rất đều đặn, vững chắc, đầy hứa hẹn. Nhưng ông Phùng chưa kịp thấy được kết quả cụ thể về công việc của mình thì có người từ Long Biên vào báo cho ông một cái tin chẳng lành: thân phụ ông qua đời. Việc xảy ra bất ngờ làm ông Phùng vừa đau buồn vừa bối rối. Cái cơ sở và khu ruộng dâu mới mẻ của ông bỗng trở thành cái nút thắt rối rắm mà ông cần phải tháo gỡ. Ông không thể không trở về Long Biên để lo tang sự cho thân phụ ông. Nhưng theo niềm tin trong nghề nuôi tằm thời đó, nếu người có tang chế xuất hiện ở chỗ nuôi tằm thì tất cả số tằm ở đó sẽ mắc bệnh mà chết hết. Ngặt nỗi những người đi theo ông lại chẳng có ai thạo nghề, đủ khả năng có thể tạm thay ông để điều hành công việc. Sau khi đắn đo suy nghĩ, ông Phùng mời vợ chồng Triệu Thành đến gặp riêng. Ông hỏi:

-Qua một thời gian chúng ta làm việc chung, tôi rất quí mến và rất tin tưởng anh ả (3). Anh ả đã luôn tỏ ra cần mẫn, tận tụy với công việc. Có phải anh ả đã từng biết qua về nghề trồng dâu nuôi tằm này rồi không?

Triệu Thành thành thật nói:

-Thưa ông chủ, gia đình vợ tôi cũng đã từng làm nghề này nên chúng tôi cũng có biết qua ít nhiều.

Ông Phùng lộ vẻ mừng:

-Gia đình của ả cũng đã từng trồng dâu nuôi tằm? Tôi đoán quả không sai. Hôm nay tôi mời anh ả đến đây để nhờ anh ả một việc. Tôi nghĩ việc này đối với anh ả không khó. Không biết anh ả chịu giúp tôi không?

Triệu Thành nói:

-Xin ông chủ cứ nói. Nếu có thể giúp ông chủ được chúng tôi sẽ không từ nan.

Ông Phùng nói:

-Vậy thì tốt lắm. Không giấu chi anh ả, tôi vừa nhận được tin thân phụ tôi mới qua đời. Vì vậy tôi mới làm phiền đến anh ả.

Triệu Thành sốt sắng lên tiếng:

-Vậy thì trước hết vợ chồng tôi xin thành thật chia buồn cùng ông chủ. Trong trường hợp này ông chủ cần giúp việc gì chúng tôi cũng xin làm hết lòng. Chỉ ngại công việc ấy nằm ngoài khả năng của chúng tôi thôi.

Ông Phùng tươi nét mặt:

-Anh ả đã chịu giúp thì tôi yên tâm lắm. Tôi là con trưởng trong gia đình, đương nhiên tôi phải về quê để chịu tang. Tôi muốn nhờ anh ả coi sóc công việc ở đây trong thời gian tôi về quê. Anh ả đồng ý chứ?

Triệu Thành đang ngẫm nghĩ thì Phạm thị hỏi:

-Ông chủ về quê khoảng chừng bao lâu?

-Cũng tùy. Nếu anh ả điều hành công việc suôn sẻ, tôi có thể nán lại ở quê chừng một năm. Nếu có sự trắc trở, buộc lòng tôi sẽ phải xếp đặt lại. Nhưng tôi tin chắc anh ả dư sức giúp tôi việc này.

Phạm thị lại nói tiếp:

-Ông chủ đã tin cậy giao cho chúng tôi coi sóc, điều hành công việc ở đây trong thời gian ông chủ vắng mặt, lẽ nào chúng tôi lại từ chối. Tuy thế, chúng tôi cũng muốn biết rõ ông chủ sẽ tính liệu thế nào về lương bổng của kẻ ăn người làm.

Ông Phùng thong thả đáp:

-Điều ả hỏi tôi đã tính liệu kỹ. Việc trên đầu trên cổ, việc quận việc huyện anh ả khỏi cần lo gì cả. Riêng ở đây, tôi sẽ trả công cho tất cả những người làm tính tới hôm nay và trả trước cho họ một tháng công kế tiếp. Sau tháng đó, nhờ anh thay mặt tôi trả công cho họ như thường lệ. Tôi cũng sẽ ứng trước cho anh một số tiền đủ để anh yên tâm mà lo công việc. Hi vọng dưới sự điều hành của anh ả mọi việc vẫn chạy đều…

Triệu Thành nghe vợ mình đối đáp với ông Phùng như vậy thì lộ vẻ hoảng hốt vội xua tay cản lại:

-Nhà tôi nói ẩu như vậy chứ chúng tôi tài nghệ gì mà dám nhận cái việc ông chủ giao phó! Xin ông chủ tìm người khác.

Phạm thị nhìn chồng rồi nói giọng quả quyết:

-Chàng quên rằng cả nhà thiếp đã từng sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm rồi sao? Ông chủ cứ tin tôi đi! Tôi không dám nhận bừa đâu!

Để tỏ ra mình đã nắm vững tiến trình của công việc, Phạm thị tiếp:

-Như vậy là chắc chắn chúng tôi được hân hạnh thay mặt ông chủ thu hoạch những lứa kén tằm đầu tiên? Ông chủ không ngại chúng tôi làm việc hồ đồ chứ?

Ông Phùng tỏ vẻ an tâm:

-Đương nhiên anh ả sẽ thay tôi thu hoạch những lứa kén tằm đầu tiên! Được những người có tư cách như anh ả giúp tôi đâu ngại gì nữa! Tôi dự tính sau khi trở lại, tôi có thể nhờ anh ả giữ việc quản lý cơ sở đấy!

Phạm thị hỏi tiếp:

-Vậy thì thưa ông trong trường hợp ông chủ chưa về kịp mà ở đây có việc cần phải thay đổi hay thêm bớt người, chúng tôi có thể tự tiện xếp đặt không?

-Dĩ nhiên anh ả có thể. Cứ tùy cơ ứng biến miễn sao chạy việc thì thôi! Tôi tin tưởng ở tấm lòng và khả năng của anh ả mà! Nhưng được rồi, để mọi chuyện được rõ ràng, minh bạch, chúng ta cũng nên làm một tờ giao ước mỗi bên giữ một bản làm bằng rồi căn cứ vào đó mà thực hành cho tiện.

Thế rồi hai bên hợp nhau soạn một tờ giao ước. Tiếp đó, ông Phùng triệu tập mọi người lại để thông báo việc ủy quyền cho Triệu Thành điều hành cơ sở sản xuất tơ tằm của ông trong thời gian ông đi vắng. Mọi khoản tiền nong, lương bổng lớn nhỏ đều được thông báo rành mạch. Nghe ông Phùng thông báo mọi việc xong ai nấy đều vui vẻ, hài lòng. Thế là hai hôm sau ông Phùng cùng đám đệ tử khăn gói trở về Long Biên.

*

Tiễn chân ông Phùng xong, thấy Triệu Thành vẫn luôn lộ vẻ lo nghĩ, Phạm thị nói:

-Sao chàng nhát gan đến thế? Thiếp nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để mình thử sức xem có thể làm giàu với cái nghề tằm tơ này không đấy!

Triệu Thành cười nửa miệng lo lắng:

-Nàng định thử sức đó ư? Thấy nàng tỏ vẻ hăng hái quá ta đâu dám cản, giờ đã lỡ gánh cái nợ này ta chẳng yên lòng chút nào. Những công việc sắp tới nàng có chắc rành rẽ hết chưa? Bố mẹ già cả rồi không biết có giúp đỡ gì cho mình không?

Phạm thị nhìn chồng mà cười:

-Mình đòi hỏi bố mẹ làm gì nặng nề đâu mà sợ già chứ! Ông bà truyền kinh nghiệm cùng coi sóc công việc giúp mình là tốt rồi. Chàng cứ yên chí!

Thế rồi vợ chồng Triệu Thành lăn xả công việc chẳng quản ngày đêm. Để cầm chắc công việc thành công, họ còn ráo riết vận động những người thân ra giúp sức nữa.

*

Trời đã không phụ người có lòng, kết quả năm đó các vụ thu hoạch kén tằm của Triệu Thành đều trúng lớn. Sau khi tính khoản tiền công của thợ cùng khoản tiền trả lại cho chủ theo giao ước, Triệu Thành đã hưởng được một số lợi tức vượt xa sự dự tính. Triệu Thành mừng rỡ nói với vợ:

-Không ngờ cái nghề tằm tơ này lại dễ ăn đến thế. Khá khen cho nàng khéo tính toán điều hành mới tạo được cái kết quả này! Đáng tiếc là không bao lâu nữa mình sẽ phải trở lại với vai làm công! Nếu mình thành chủ thật của cơ sở này, chẳng những gia đình mình sẽ dễ phất lên mà cả dòng họ mình cũng sẽ có công ăn việc làm hết!

Phạm thị cười chế nhạo chồng:

-Trước chàng cứ sợ không dám nhận, bây giờ thì phát ham rồi chứ?

Triệu Thành cười chống chế:

-Bởi trước ta chưa biết tài nghệ của vợ. Bây giờ công việc thành công thế này đố ai chẳng phát ham?

Phạm thị ra vẻ tự tin nói:

-Chàng cứ yên chí, thế nào mình cũng sẽ có ngày trở thành chủ nhân. Chúng ta làm với ông Phùng một thời gian rồi sẽ tự lập cũng không muộn! Đây là cơ hội để mình học thêm kinh nghiệm mà! Thiếp biết mình hợp với nghề này lắm. Nếu như bố mẹ chịu nghe lời thiếp, có lẽ giờ này ông bà cũng đã có một cơ sở đáng kể rồi!

*

Nhờ vợ chồng Triệu Thành điều hành công việc suôn sẻ nên gần một năm sau ông Phùng mới trở lại quận Cửu Chân. Lần này ông chỉ đem theo một người đệ tử. Vợ chồng Triệu Thành thấy ông chủ đã trở lại thì mừng lắm. Họ đã chuẩn bị sẵn số tiền hoa lợi cao hơn con số hai bên thỏa thuận để trao lại cho ông chủ. Tới lúc hai bên gặp nhau, khi Triệu Thành sắp tường trình công việc trong thời gian qua thì ông Phùng khoát tay ngăn lại. Như một người khách đến thăm cơ sở chăn tằm hơn là một ông chủ đi xa trở về, ông Phùng nói:

-Việc đó cứ từ từ. Tôi chưa về tới nơi đã biết được tin anh ả điều khiển công việc tốt đẹp lắm. Xin có lời khen và chúc mừng anh ả. Anh ả nên tiếp tục giữ lấy cơ sở này để làm ăn chứ giao cho người khác uổng lắm.

Nghe ông Phùng nói vợ chồng Triệu Thành đều lộ vẻ ngạc nhiên, Triệu Thành hỏi:

-Như vậy là ông chủ vẫn tiếp tục giao cho chúng tôi điều khiển công việc này sao?

-Vâng, nếu anh ả muốn. Trường hợp anh ả không nhận thì tôi cũng phải sang nhượng cho người khác thôi. Lần này trở lại đây tôi chỉ cốt thu xếp việc đó. Nhưng tôi có lời khuyên, anh ả là những người chịu khó làm ăn, không nên bỏ lỡ dịp tốt này!

Triệu Thành thành thật hỏi:

-Tôi thấy cái cơ sở làm ăn này đang phát triển tốt đẹp lắm. Vì lẽ gì ông chủ phải sang nhượng nó?

Ông Phùng nói chậm rãi với giọng tiếc rẻ:

-Lẽ gì ư? Tôi vẫn biết đây là chỗ làm ăn dễ thành công! Thật tình tôi rất muốn lập nghiệp ở quận Cửu Chân này. Tiếc rằng thân phụ tôi qua đời quá bất ngờ, người đã để lại cho gia đình một cơ sở làm ăn khá lớn ở quê nhà nhưng thiếu người coi sóc. Thân mẫu tôi lại muốn chính tôi phải gánh vác việc đó. Vì thế, tôi không thể giữ lại cơ sở tằm tơ này. Nếu anh ả thích, tôi xin nhượng cho anh ả luôn thể! Giá cả phải chăng thôi. Tôi đã hiểu rõ tấm lòng và năng lực của anh ả, nếu chưa đủ vốn để hoàn lại cho tôi anh ả cứ từ từ trả sau cũng được. Một lần nữa tôi khuyên anh ả không nên bỏ lỡ cơ hội này.

Vợ chồng Triệu Thành hết sức bất ngờ trước lời đề nghị của ông Phùng. Quả thật đây là một cơ hội hiếm có. Tất nhiên cả hai vợ chồng đều vui mừng đồng ý ngay. Tuy vậy Triệu Thành vẫn áy náy hỏi lại:

-Hay là ông chủ vẫn giữ cơ sở này và vợ chồng tôi sẽ quản lý giúp ông?

Ông Phùng cười với vẻ thành thật:

-Thật tình tôi rất quí tấm bụng của anh ả nên cũng muốn giúp anh ả làm ăn. Giúp được một người tốt bụng thì không có gì để phải ân hận cả. Hơn nữa, hai cơ sở của tôi lại xa cách nhau quá, việc đi lại cũng bất tiện. Anh ả lấy đi! Cứ cố gắng lên tôi nghĩ anh ả thế nào cũng thành công.

Triệu Thành nói:

-Vậy thì chúng tôi xin nhận. Đa tạ ông chủ.

Vẻ mặt rạng rỡ của vợ chồng Triệu Thành đã làm ông Phùng cũng vui sướng lây. Ông tươi cười nói:

-Anh ả đã chịu sang lại cái cơ sở này tôi rất mừng. Tôi thiết tưởng cũng nên nói thêm vài điều khá quan trọng với anh ả. Chắc anh ả cũng đã rõ, ở đời khó lắm. Bình thường thì chẳng sao nhưng khi anh ả đã làm nên chắc chắn anh ả không thể nào thoát khỏi sự dòm ngó của thiên hạ. Quan lại cũng dòm ngó, kẻ ganh tị cũng dòm ngó, kẻ trộm cướp tham lam cũng dòm ngó. Đó là điều có thể làm cho anh ả phải khổ sở, đôi khi đi đến chỗ điêu đứng không chừng. Muốn yên ổn làm ăn anh ả phải quan tâm đến việc giao thiệp bên ngoài, phải hết sức tế nhị mới được. Nói thực tế là mình muốn ăn bát cơm phải chia sớt cho kẻ khác chút cháo mới yên!

Vợ chồng Triệu Thành nghe ông Phùng nói nhìn nhau có vẻ lo lắng. Ngưng một lát ông Phùng lại tiếp:

-Nhưng đối với anh ả tôi nghĩ chắc không đến nỗi nào. Vì anh ả đều có đức, đều siêng năng cần cù, không huênh hoang, không tham lam bừa bãi. Quan Thái thú (4) quận Cửu Chân cũng như quan huyện Nông Cống tôi đều có quen biết, nếu thuận tiện tôi sẽ giới thiệu vợ chồng anh ả với họ một tiếng. Bây giờ chưa có gì rắc rối đáng ngại đâu! Nhưng việc về lâu về dài thì tự nhiên anh ả sẽ hiểu lần và tự lo liệu lấy! Những lời tôi có thể khó nghe nhưng chắc chắn sẽ giúp ích cho anh ả. Anh ả nên ghi nhớ lấy nhé!

Phạm thị nhanh nhảu trả lời:

-Tôi đã hiểu những lời của ông chủ nói. Chúng tôi rất cám ơn những lời chỉ bảo thành thật của ông chủ. Nhờ ông chủ nói với những vị quan mà ông chủ quen biết đó giúp chúng tôi một tiếng. Chúng tôi sẽ làm theo lời ông chủ dạy bảo.

Triệu Thành thì lộ vẻ ngạc nhiên:

-Thì ra ông chủ quen biết rộng rãi như thế mà tôi đâu có biết. Vậy chắc ông không phải người gốc bản xứ? Hèn gì…

-Đúng, tôi cũng là người Tàu. Nhưng tổ tiên tôi đã sang lánh nạn ở Giao Châu từ hồi Vương Mãng dấy loạn nên bây giờ tôi cũng gần giống như người Việt rồi. Nếu không quen biết các quan lớn tôi làm sao có thể từ Long Biên vào quận Cửu Chân lập nghiệp dễ dàng thế này? Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau lập khế ước sang nhượng được chưa?

Triệu Thành hoan hỉ đáp:

-Bây giờ vợ chồng tôi xin mời ông chủ dùng cơm đã, còn việc lập khế ước ông chủ muốn khi nào chúng tôi cũng sẵn sàng.

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

 

Chú thích:

(1) Quận Cửu Chân: Tên một quận do triều đình nước Tàu đặt ra thời nước ta bị Tàu đô hộ gồm đất Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tịnh và một phần Ninh Bình.

(2) Quận Giao Chỉ: Gồm toàn bộ phần đất Bắc Việt của ta hiện nay. Khi đọc sử nước nhà qua thời Bắc thuộc, nhiều người vẫn dễ lẫn lộn về các tên gọi Giao Châu với Giao Chỉ, tác giả xin mạn phép nói thêm về điều này vài dòng:

Khi Triệu Đà chiếm xong nước Âu Lạc, ông ta sát nhập nước ta vào lãnh thổ Nam Việt và chia nước ta thành hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Khi nhà Hán chiếm xong đất của nhà Triệu, nhà Hán đặt ra Giao Chỉ bộ gồm 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Nhật Nam là phần đất từ Quảng Bình đến Bình Định), Đạm Nhĩ, Châu Nhai (hai quận này thuộc đảo Hải Nam), Hợp Phố, Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô (bốn quận này thuộc Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 203, nhà Đông Hán đổi Giao Chỉ bộ thành Giao Châu cũng gồm 9 quận trên. Năm 226, nhà Đông Ngô chia Giao Châu làm hai: 1. Quảng Châu gồm 3 quận Nam Hải, Uất Lâm và Thương Ngô, trị sở đặt ở Phiên Ngung. 2. Giao Châu gồm 4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố, trị sở đặt ở Long Biên. (Không thấy nói đến hai quận Đạm Nhĩ và Châu Nhai thuộc đảo Hải Nam). Sau biến cố Sĩ Huy chống lại nhà Đông Ngô, Đông Ngô lại cho hợp nhất Quảng Châu và Giao Châu lại như cũ (227). Rồi các triều đại kế tiếp Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường các quận này còn được xếp đặt lại nhiều lần nữa. Dân Việt thời bấy giờ là cốt lõi của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Tuy thế, toàn thể các quận của Giao Châu đều là đất của các dân tộc khác mới bị người Tàu chiếm nên nếu Giao Chỉ, Cửu Chân có biến động, dân các quận này cũng sẵn sàng nương cơ hội để nổi dậy giành độc lập.

(3) Tiếng “ả” ngày xưa rất nhiều nghĩa: chị, cô, cô ấy, nàng ấy. Có nơi con cái còn gọi chính mẹ sinh ra mình bằng ả nữa.

(4) Thái thú: Chức quan cai trị một quận.

 

 

CHƯƠNG  2

 

Sau ngày chính thức trở thành chủ nhân trang trại sản xuất tơ tằm ở Hương Vân thuộc huyện Nông Cống, quận Cửu Chân, cuộc sống vợ chồng Triệu Thành biến đổi dồn dập. Trước kia dù luôn làm việc chân tay vất vả nhưng họ còn giữ được những vui thú riêng tư, muốn ăn muốn ngủ lúc nào tùy ý, chẳng có ai đếm xỉa đến. Giờ gia đình đã có tiền của, không phải làm việc nặng nhưng tự công việc nó lại bắt họ lúc nào cũng quay như cái vụ. Họ phải luôn thức khuya dậy sớm và đôi khi không có thì giờ để ngồi ăn được một bữa cơm trọn ngon.

Nhưng mất cái này thì được cái khác. Họ đã tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều người chung quanh. Nhờ siêng sắng chăm lo công việc, biết điều hành khéo léo, nhất là cách đối xử với kẻ ăn người làm đầy tình nghĩa của vợ chồng này đã khiến mọi người phải mến phục, yêu chuộng. Dần dần những người làm công đều coi công việc của họ Triệu như công việc nhà. Do vậy mà cơ sở sản xuất kén tằm của họ Triệu cứ mỗi ngày mỗi được nới rộng.

Để tránh những phiền phức có thể xảy ra từ phía quan quyền, Triệu Thành luôn lo đầy đủ việc thuế má. Tuy vậy, những phiền toái từ bên ngoài vẫn dần len lỏi tìm đến với ông và càng ngày càng gia tăng.

Một buổi chiều vào cuối tháng tư, vợ chồng Triệu Thành làm việc vừa nghỉ tay chưa kịp ăn cơm tối thì cụ lý trưởng Hương Vân ghé thăm. Vừa bước vào nhà, cụ lý đã nức nở khen:

-Chú Thành thật là một người hiểu biết phép nước. Làng vừa thông báo việc nộp thuế là chú sốt sắng đóng trước ai hết! Nếu cả làng ai cũng được như chú thì bọn tôi cũng đỡ vất vả nhiều. Tôi thành thật khen chú.

-Dạ đó là bổn phận của con dân, có gì đâu mà cụ lý quá khen.

Triệu Thành vừa khiêm tốn trả lời vừa lấy rượu ra rót mời cụ lý. Cụ lý vừa nhắp rượu vừa nói chuyện bâng quơ một hồi. Lát sau cụ lại đi vào vấn đề khác:

-Mình ăn nên làm ra thật cũng nhờ ơn trên phù hộ. Gần gũi nhất với chúng ta là ngài Thành Hoàng. Ngài giúp dân được mưa thuận gió hòa, ngài ngăn chận côn trùng phá hoại mùa màng. Cào cào châu chấu thứ gì mà nó chừa! Thế mà nó không đụng đến khu ruộng dâu của chú cũng nhờ ngài che chở đó. Vả lại dân chúng có được mùa, đời sống có sung túc người ta mới mua tơ lụa, kén tằm của chú mới được tiêu thụ mau hơn. Có đúng thế không chú Thành? Nay sắp tới ngày húy của ngài rồi, tôi là lý trưởng cũng có nhiệm vụ nhắc nhở để chú biết rồi tùy sức mà đóng góp với làng xóm.

Triệu Thành nhỏ nhẹ đáp:

-Cám ơn cụ lý, thật sự lâu nay chẳng năm nào cháu dám lơ là chuyện đó.

Cụ lý cười:

-Đồng ý là không năm nào chú lơ chuyện đó. Nhưng trước đây chú chỉ là một người dân mạt hạng còn bây giờ chú đã là người có máu mặt ra vào rủng rỉnh thì sự đóng góp phải khác chứ! Lo gì chú, “xởi lởi thì trời gởi cho” mà!

Triệu Thành chưa kịp trả lời ông lý lại tiếp:

-Chút nữa mà tôi quên, có việc này gấp hơn việc đó, tôi nói với chú luôn thể. Mấy ngày nữa là tới tết đoan dương. Mấy ông hào trưởng và lý trưởng làng bên có nhã ý rủ tôi cùng họ đi tết quan huyện. Kẻ dưới đi tết người trên vẫn là truyền thống tốt đẹp xưa nay. Tôi thấy cơ hội này chú cũng nên đi chung với tôi một chuyến cho nở mày nở mặt với thiên hạ và cũng để biết mặt quan huyện luôn thể, chú nghĩ thế nào?

Triệu Thành từ chối:

-Thưa cụ lý, việc gì chứ việc đó xin cụ miễn cho. Cháu vốn quê mùa vô danh mà đòi chúc tết quan huyện cháu biết ăn nói làm sao?

Cụ lý ngắt lời:

-Chú đừng lo, đi từng bước cho quen vậy mà. Sau này có việc gì cần nhờ đến quan mình cũng đỡ ngỡ ngàng. Chỉ cần lễ vật cho khá khá là được chứ ăn nói chỉ là chuyện phụ, người khác sẽ lo cho.

Triệu Thành bất đắc dĩ nói:

-Cháu bận công việc quá sợ không đi được. Vậy cháu xin đóng góp chút đỉnh để phụ với cụ sắm lễ vật đi tết quan huyện được không?

Cụ lý lộ vẻ hớn hở hỏi:

-Chú định đóng góp bao nhiêu đây?

Triệu Thành cười:

-Dạ, cháu xin góp một lượng bạc.

Cụ lý hơi xịu mặt:

-Chú làm ăn khá giả mà chỉ góp một lượng người ta chê là keo kiệt đó. Gắng bỏ ra năm lượng đi!

Triệu Thành cười bẽn lẽn:

-Xin cụ lý thông cảm cho. Cháu làm ăn tuy có tiền vô thật đó nhưng cháu cũng phải chi ra bao nhiêu thứ. Thôi thì cháu xin góp hai lượng vậy.

Triệu Thành vừa nói vừa trao hai lượng bạc. Cụ lý Hương Vân vói tay cầm lấy xong lại nhấc chén uống nốt phần rượu còn lại rồi đứng dậy cáo từ:

-Thôi, tôi về. Chú nhớ là làng sắp kỵ ngài Thành Hoàng đó nhé!

Cụ lý vừa đi khỏi Phạm thị liền cằn nhằn:

-Đi tết quan huyện là việc của ông ấy. Mình làm ăn đã đóng thuế cho nhà nước đàng hoàng rồi, mắc gì chàng lại góp hai lượng bạc cho ông ấy như thế? Không biết quan trên chọn người sao mà hay đến vậy? Thấy ai cất đầu lên một chút là dòm như “cú dòm nhà bệnh”!

*

Chừng ba tháng sau thì quan huyện phái một toán lính lệ về các làng xã để yểm trợ việc thu thuế. Trong dịp này cụ lý Hương Vân cũng dắt mấy thầy lính lệ ghé thăm trang trại trồng dâu nuôi tằm cho biết. Khi họ đến trang trại, Triệu Thành đã dẫn họ đi thăm viếng quanh một vòng tượng trưng rồi mời về tư thất đãi cơm nước. Trong lúc ăn uống, mấy thầy lính lệ đã ân cần hỏi thăm Triệu Thành về công việc làm ăn, hỏi thăm luôn cả chuyện kẻ ăn người ở trong trang trại. Triệu Thành cứ thành thật có sao nói vậy. Nghe xong một thầy khuyên:

-Số đàn ông phục vụ ở trang trại của ông như thế kể cũng hơi nhiều. Ông nên mướn đàn bà và những đàn ông tuổi trên bốn mươi lăm thì tiện hơn. Đàn ông từ bốn lăm trở xuống rất dễ bị tuyển đi lính hoặc mộ đi dân phu. Lỡ gặp những đợt tuyển mộ như thế công việc của ông có thể bị trở ngại đó.

Triệu Thành thưa:

-Cám ơn thầy lệ đã dạy bảo. Chúng tôi sẽ giảm bớt số nhân công đàn ông làm việc trong trang trại.

Sau khi cụ lý và toán lính lệ đã ra về Triệu Thành bèn thuật lại lời thầy lệ cho vợ nghe. Phạm thị nói:

-Đàn ông dễ mướn chứ đàn bà bận việc nhà hết bao nhiêu người chịu đi làm? Thôi, cứ để như vậy tới đâu hay đó. Thầy lệ nói cho có chuyện vậy hơi đâu mà lo cho mệt.

Triệu Thành nghe vợ nói cũng dần quên chuyện đó. Nhưng không lâu sau đó cụ lý Hương Vân lại ghé nhà Triệu Thành một lần nữa. Cụ nói:

-Trên huyện vừa chỉ thị làng ta phải lo lập lại sổ sách dân đinh để huyện duyệt chọn một số dân phu. Trong trang trại của chú cũng có nhiều dân đinh, chú định làm thế nào?

Triệu Thành hỏi lại:

-Theo ý cụ lý cháu nên làm như thế nào?

Cụ lý Hương Vân làm ra vẻ vô tư, nói:

-Việc đó cũng tùy chú thôi. Hoặc đưa danh sách cho người ta tuyển chọn, hoặc thử liên lạc với người ta tình nguyện ủng hộ một ít tiền bạc để chi dụng trong việc tuyển mộ đôi khi người ta cũng miễn cho. Nên tính sớm sớm đi, đừng để nước tới chân mới nhảy đôi khi lại không kịp.

Triệu Thành nghĩ trong thời gian công việc ở trang trại đang phát triển đều đặn mà bị giảm bớt một số nhân công thì việc có thể bê trễ nên hỏi lại:

-Xin cụ cho biết cháu có thể liên lạc với ai?

Cụ lý chỉ vào ngực mình:

-Nếu cần tôi có thể làm trung gian giúp chú. Giúp cho chú cũng là cách giúp đỡ một số dân đinh trong làng, tôi không nề hà gì đâu!

Triệu Thành biết ý cụ lý muốn gì rồi nhưng vẫn hỏi:

-Theo cụ mình tốn khoảng bao nhiêu?

Cụ lý thong thả đáp:

-Sơ sơ thôi, nhưng cũng đừng keo lắm làm họ không vừa lòng đôi khi họ làm khó sinh ra kẹt. Để tôi dọ hỏi rồi sẽ cho chú biết…

Chuyện cứ như thế hết việc này đến việc khác. Một con đường làng bị sạt lở cần đắp lại, một cái cầu hư cần sửa, một cái giếng công cộng cạn cần đào thêm…, mặc dù đã có khoản tiền do dân làng đóng góp theo qui định, bao giờ các viên chức trong làng cũng kêu gọi Triệu Thành ủng hộ thêm.

Những vụ sách nhiễu với mục đích moi tiền của các viên chức làng xã ngày càng làm cho vợ chồng Triệu Thành chán ngấy. Hai người chỉ còn biết an ủi nhau mình nhờ trời có được đồng ra đồng vô thôi cứ nhẫn nhịn đóng góp thêm cho họ một chút cho xong.

Tình cờ một hôm ông Phùng nhân đi công việc đã ghé lại thăm trang trại cũ. Thấy vợ chồng Triệu Thành đã phát triển trang trại rộng hơn trước nhiều ông Phùng rất khen ngợi. Trong khi hàn huyên, Triệu Thành đem chuyện các viên chức làng xã hay tìm cách moi tiền mình ra kể, ông Phùng nói:

-Đó chỉ là thói thường, mình không thể cự tuyệt nó được. Tuy nhiên, mình có thể giới hạn nó lại. Ngày mai tôi đi thăm quan huyện đây, ông nên đi cùng tôi cho vui, tôi sẽ giới thiệu với quan huyện về ông một lần. Ông có thể nhờ dịp này để quen biết thêm một số viên chức khác ở huyện như quan đội lệ chẳng hạn. Khi ông quen biết mấy vị này rồi thì bọn tép riu ở làng thôn tự khắc sẽ bớt quấy nhiễu ông.

-Nhưng bớt chi cho mấy ông nhỏ mình lại phải chi cho mấy quan lớn thì đâu có khác chi nhau?

Ông Phùng giải thích:

-Ông chưa gặp chưa biết thôi chứ quen biết các quan lớn chắc chắn họ sẽ giúp ông được nhiều việc hơn. Việc mối lái, việc đi đây đi đó ông đều có thể nhờ tay họ giúp. Nghĩa là có qua có lại chứ không phải một chiều. Còn với bọn trong làng trong thôn bất quá họ chỉ biết ăn hại ông chứ thật khó giúp ông được gì.

Triệu Thành ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

-Vậy thì ngày mai ông cho tôi cùng đi với. Nhưng tính tôi rụt rè, không được bặt thiệp, có gì thiếu sót xin ông đỡ đần cho.

Ông Phùng khuyến khích:

-Ông đừng ngại gì cả. Họ vốn nể trọng tôi, ông đi với tôi tất nhiên họ chẳng dám coi thường ông đâu!

Hôm sau Triệu Thành theo ông Phùng lên huyện Nông Cống. Đi đến đâu ông Phùng cũng giới thiệu Triệu Thành với họ như một người thân tín của mình. Nhờ dịp này Triệu Thành đã có cơ hội để tiếp xúc, làm quen với một số viên chức có vai vế ở huyện. Từ đó, thỉnh thoảng Triệu Thành cũng có đi lại với những người này.

Quả đúng như lời ông Phùng đã nói, cũng từ đó Triệu Thành bớt bị các viên chức làng thôn quấy nhiễu.

*

Công việc làm ăn của vợ chồng Triệu Thành cứ đều đều tiến tới. Một hôm Phạm thị vui vẻ báo với chồng:

-Hình như thiếp đã có thai. Đã hơn một tháng này thiếp không thấy gì cả!

Triệu Thành mừng rỡ ôm vợ vào lòng:

-Thật vậy ư? Thế là phước lớn đã vào nhà mình rồi! Nếu trời cho chúng ta một đứa con trai đầu lòng thì tốt biết mấy! Tôi sẽ đặt tên cho nó là Đạt, Quốc Đạt. Cha Thành con Đạt còn chi hơn thế nữa, nàng đồng ý không?

-Hay lắm! Chàng chọn cái tên Quốc Đạt thật tuyệt. Thiếp tin chắc đứa con đầu lòng của mình sẽ là con trai!

Vợ chồng Triệu Thành càng hăng hái phát triển cơ sở làm ăn. Triệu Quốc Đạt đã ra đời trong giai đoạn ấy. Cậu bé được trời phú thể chất khỏe mạnh, ít ốm đau, trí óc thông minh, thích tò mò tìm hiểu. Cậu lại luôn biết vâng lời cha mẹ, biết nhường nhịn bạn bè nên ai cũng yêu thương.

Nhận thấy con trai mình đã đến tuổi lớn khôn, một hôm Phạm thị bàn với chồng:

-Quốc Đạt bây giờ đã khá lớn, mình làm sao gây dựng cho nó trở thành một người hữu dụng cho xã hội mới được. Sao chàng chưa lo tính việc đó?

Triệu Thành nói:

-Ta cũng đang tính việc đó đấy chứ. Nhà ta trải bao đời nay chữ nghĩa không bao lăm, nay phải làm sao cho Quốc Đạt trở thành một người văn hay chữ tốt mới được. Ta sẽ tìm một ông thầy nho giỏi về dạy cho Quốc Đạt.

Phạm thị lại nói:

-Thiếp rất đồng ý việc phải mời một thầy nho về dạy cho Quốc Đạt nên người. Nhưng thiết nghĩ nhà mình còn đơn chiếc mà lúc này cũng có chút của ăn của để, mình cũng nên ráng kiếm luôn một ông thầy võ đến nhà, trước dạy võ cho Quốc Đạt, sau để bọn bất lương nó e ngại không dám dòm ngó. Biết đâu Quốc Đạt lại chẳng trở thành một kẻ văn võ toàn tài nhà ta càng vinh dự biết mấy!

Nghe vợ nói Triệu Thành bỗng hào hứng cười to:

-Nàng nói cũng có lý đấy. Hiện nay thiên hạ đang loạn lạc, bên Tàu cũng đang chia năm xẻ bảy, học được võ nghệ để giữ mình cũng hay lắm chứ! Thời loạn là thời của võ tướng mà! Nếu Quốc Đạt học võ được tới nơi tới chốn biết đâu thời thế chẳng đưa đẩy nó trở nên quan nọ quan kia.

Phạm thị cũng hào hứng lây:

-Ừ nhỉ! “Ông bà ấy là thân phụ thân mẫu của quan huyện đấy”! Nghe vậy cũng đã tai đấy chứ!

Triệu Thành nghe càng cười lớn, nhưng liền đó ông bỗng tư lự nói:

-Ngặt nỗi quan Tàu đâu có cho phép dân bản xứ học võ hoặc dạy võ tại tư gia. Họ coi việc dân bản xứ học võ là chuyện đại kỵ. Họ sợ mầm loạn có thể khởi lên từ đó! Đố có ông thầy nào ăn gan trời dám đến dạy võ cho con mình!

Phạm thị cũng cụt hứng:

-Người Tàu cấm dân mình học võ thật ư? Việc ấy thiếp đâu có biết. Nhưng nhà ta đã quen biết quan huyện Nông Cống chàng lo gì chuyện nhỏ ấy. Há chàng lại không biết cách xử trí sao?

Triệu Thành hạ giọng:

-Dưới mắt nàng thì chuyện chi cũng dễ cả! Ta chỉ mới gặp ông ấy vài lần giờ mở miệng nhờ cậy ngay coi sao được? Nhưng nàng đã muốn ta cũng gắng lo thử xem sao. Mình phải tìm cho có ông thầy nào đã rồi tính chuyện đó sau cũng không muộn!

Từ đó Triệu Thành âm thầm nhờ người dò tìm cho được một vị thầy võ giỏi để mời về rèn luyện cho Quốc Đạt.

 

 

CHƯƠNG  3

 

Gia đình Triệu Thành lúc bấy giờ đã nổi tiếng giàu có ở quận Cửu Chân. Vì công việc làm ăn, Triệu Thành càng ngày càng quen nhiều biết rộng. Trong số quen biết ấy có cả quan huyện Nông Cống và một số quan chức có thế lực ở địa phương. Đối với quần chúng, uy tín Triệu Thành cũng ngày càng tăng để rồi trở thành một vị hào trưởng có tiếng trong vùng dù bản thân ông không ham, không cầu.

Thiết tưởng cũng nên nói sơ vài dòng về cái danh xưng hào trưởng đương thời. Hào trưởng nguyên thủy được coi như là một người khôn ngoan, có uy tín nhất trong một khu vực, đủ khả năng để dàn xếp những vụ rắc rối trong khu vực ấy. Khu vực có thể là một xóm, một làng, đôi khi lan rộng ra cả vài ba làng. Những vị này thường là những phú ông, những thương gia có tính hào hiệp, có lòng nhân ái, hay giúp đỡ người nghèo kẻ khó về cả vật chất lẫn tinh thần. Tuy không phải là một chức vụ, một hàm tước, không hưởng lương bổng và cũng không có trách nhiệm pháp lý nào đối với chính quyền trong việc trị dân nhưng hào trưởng lại có uy tín đặc biệt rất ảnh hưởng đối với cả chính quyền lẫn dân chúng. Hào trưởng có thể dùng tình cảm để hòa giải những mối tranh chấp giữa dân chúng với nhau một cách ổn thỏa. Hào trưởng cũng có thể đệ đạt nguyện vọng của dân chúng lên giới cầm quyền. Ngược lại giới cầm quyền cũng có thể nhờ hào trưởng dùng uy tín của mình để đả thông những khúc mắc đối với dân chúng. Nói chung, hào trưởng là một hư chức không tốn lương nhà nước nhưng lại rất hữu ích cho xã hội. Đáng tiếc là về sau cái danh vị này đã bị lạm dụng và biến chất dần…

Cậu bé Quốc Đạt càng khôn lớn càng tỏ ra thông minh, hiếu hạnh. Vì vùng đất này còn hoang sơ, dân cư thưa thớt nên Triệu Thành chưa tìm kiếm một vị thầy nho như ý để dạy dỗ cho cậu. Ông đành phải tự mình dạy cho Quốc Đạt học được chữ nào hay chữ đó. Việc tìm một ông thầy võ càng khó khăn hơn vì người Tàu cấm dân bản xứ không được dạy võ và học võ. Một hôm Triệu Thành than với vợ:

-Nghĩ mà thương Quốc Đạt quá. Ta sợ khi lớn lên nó cũng sẽ trơ trọi chẳng khác chi mình! Lỡ bị người hiếp đáp cũng không có ai bênh vực. Giấc mơ kiếm một ông thầy võ về nhà dạy cho Quốc Đạt bao giờ mới thực hiện được đây?

Phạm thị trách chồng:

-Sao chàng không liều bỏ ra một ít nhờ quan huyện châm chước giúp đỡ? Mình không chịu nói ra người ta làm sao biết được mình cần gì mà giúp!

Triệu Thành suy nghĩ một hồi rồi nói:

-Mình thương con mà tính như vậy cũng phải. Đối với quan huyện ta nghĩ chắc không khó lắm. Nhưng ta còn ngại một điều: vị quan huyện này có bền vững không? Lỡ mai mốt vì một lẽ gì lại thay ông khác mình sẽ gặp chuyện rắc rối ai đỡ đòn cho mình? Việc này phải cẩn thận mới xong.

Im lặng giây lát Triệu Thành lại tiếp:

-Hay thế này, mình sẽ mời một võ sư nào đó về ở nhà mình với tư cách là một người làm công rồi thuyết phục võ sư ấy bí mật dạy võ cho con mình? Không biết người ta có chịu không?

Phạm thị gật đầu:

-Thế cũng được. Chàng cứ lo tìm kiếm thầy võ đi!

Tuy nói thế nhưng ngày qua tháng lại đã lâu mà Triệu Thành vẫn chưa tìm ra được một vị võ sư nào.

Rồi một nhân duyên bỗng đến bất ngờ. Ngày kia Phạm thị nhận được tin thân phụ lâm bệnh nặng. Bà ngỏ ý với chồng muốn về thăm ông cụ cùng gia đình vài ngày. Gặp lúc công việc hơi rảnh, Triệu Thành cùng vợ dắt Quốc Đạt về thăm bên ngoại luôn thể. Khi Triệu Thành về tới nhà nhạc phụ cũng vừa gặp lúc một ông thầy thuốc đang chẩn mạch cho ông cụ. Nhìn dáng tiên phong đạo cốt của vị thầy thuốc, Triệu Thành bỗng sinh lòng ngưỡng mộ. Thấy Triệu Thành có vẻ quan tâm đến vị thầy thuốc, cậu em trai của Phạm thị nói nhỏ:

-Anh biết không? Thấy ông thầy bộ tướng nho nhã yếu đuối vậy mà lại là một tay võ nghệ siêu đẳng lắm đó!

Triệu Thành ngạc nhiên hỏi lại:

-Thật hả? Sao em biết ông ta giỏi võ?

Cậu em Phạm thị nói:

-Thật chứ anh! Hồi năm ngoái ông cậu của em cũng lâm bệnh nặng, người nhà phải mời ông ta đến chữa. Vì bệnh khá trầm trọng nên người nhà phải năn nỉ ông ta ở lại nhà vài đêm để tiện bề theo dõi bệnh tình của ông cậu em. Không ngờ đêm đó lại có một bọn cướp bốn đứa võ trang đao gậy xông vào nhà ông cậu em để ăn cướp. Thấy ông cậu em nằm liệt giường, ông thầy thuốc thì mảnh mai ốm yếu, những kẻ còn lại đều là đàn bà con nít nên bọn cướp sinh dể ngươi. Chúng dồn mọi người lại một góc nhà rồi giao cho một tên cầm đao lớn đứng kềm chế. Ba tên kia thì nghênh ngang đi lục soát của cải. Bất ngờ ông thầy thuốc phóng cước hạ gục tên đang kềm chế ông và cướp được ngọn đao của hắn đồng thời nhảy theo chém ngã một tên khác. Hai tên còn lại biết đã gặp thứ dữ kinh hãi phóng thân chạy mất…

Nghe cậu em vợ thuật chuyện nét mặt của Triệu Thành hân hoan hẳn lên. Đợi ông thầy bốc thuốc cho nhạc phụ xong, Triệu Thành liền lại gần ân cần thăm hỏi. Khi được biết ông thầy này quen thú phiêu bạt sông hồ, lấy việc bốc thuốc cứu thiên hạ làm vui thì Triệu Thành càng ngưỡng phục hơn. Sau một hồi chuyện vãn, Triệu Thành lễ phép mời:

-Thưa thầy, khu vực trồng dâu ở Hương Vân của chúng tôi tiếp giáp với vùng rừng núi. Vùng này có vô số loại cây cỏ, chắc hẳn cây thuốc cũng không ít. Nếu thầy chưa có ý định đi đâu xa vợ chồng tôi xin mời thầy ghé lại nhà chơi một thời gian, nhân thể thầy đi tìm cây thuốc cũng rất tiện. Biết đâu thầy lại chẳng tìm ra được cả kho thuốc ở đó! Nhà cửa chúng tôi cũng rộng rãi khang trang, thầy có thể nghỉ ngơi thoải mái. Mong thầy nhận lời, gia đình chúng tôi rất hân hạnh được tiếp đón thầy.

Ông thầy thuốc thấy thái độ quá ân cần của Triệu Thành vui vẻ nói:

-Thật là hân hạnh cho tôi. Gia chủ đã có lòng như thế tôi đâu dám từ chối. Tuy thế, phải đợi năm ba ngày nữa bệnh ông cụ dứt hẳn tôi mới ghé nhà ông chơi được.

Triệu Thành tươi hẳn nét mặt:

-Vâng, được thầy hứa như vậy là chúng tôi vui lắm rồi. Kính mong thầy đến chơi càng sớm càng hay.

Năm ngày sau thì ông thầy thuốc đến Hương Vân tìm nhà Triệu Thành. Ông đã được cặp vợ chồng này đón tiếp, chiêu đãi hết sức nồng hậu. Bữa ăn nào cũng đầy đủ rượu thịt. Triệu Thành lại thân hành dẫn ông đi chơi nhiều nơi trong khu vực. Khi đi chơi Triệu Thành dẫn mấy đứa nhỏ mang cả thức ăn và đồ giải khát theo để thầy dùng. Thấy gia chủ đối đãi với mình ân cần, trân trọng quá ông thầy thuốc rất cảm động và cũng nẩy sinh một chút hoài nghi: có thể gia chủ cần mình điều gì. Trong một bữa cơm tối, khi có đủ mặt vợ chồng Triệu Thành ông thầy thuốc nói:

-Không biết nhờ phước đức từ đâu mà tôi lại được ông bà trọng đãi đến thế này? Ơn nghĩa này tôi làm sao trả nổi? Ông bà có thân nhân nào gặp khó khăn về bệnh hoạn gì xin cứ cho biết tôi sẽ tận tình chữa giúp quyết không dám từ nan.

Triệu Thành ấp úng không dám trả lời. Ông thầy thuốc lại tiếp:

-Tôi nói thật lòng đó. Tôi chỉ biết chữa bệnh thôi chứ chẳng thể giúp được ông bà điều gì nữa.

Thấy lời ông thầy thuốc có vẻ chân tình, Phạm thị như dồn hết can đảm nói nhanh:

-Thưa thầy, vợ chồng tôi thật tình từ lâu đã ôm ấp một ước vọng mà chưa thực hiện được. Nay thầy đã rộng lòng đoái tưởng tôi cũng xin thưa thật với thầy. Số là chúng tôi chỉ có một đứa con trai tên là Quốc Đạt như thầy đã biết đó. Chồng tôi vẫn mong cho nó được thêm một vài đứa em để sau này trong cuộc sống chúng có thể nương tựa nhau nhưng chúng tôi chờ mỏi mắt vẫn chưa thấy gì…

Ông thầy thuốc hơi mỉm cười hỏi ngang:

-Nghĩa là ông bà muốn kiếm một toa thuốc để được mắn con phải không?

Phạm thị e thẹn cười đáp:

-Dạ thưa không phải vậy. Vì thấy Quốc Đạt không anh em lẻ loi quá nên vợ chồng tôi ước vọng tìm kiếm một vị thầy võ để dạy cho nó vài đường hầu sau này ra đời nó có thể tự vệ khi cần thiết!

Ông thầy thuốc bỗng bật cười lớn:

-Hóa ra là vậy! Nhưng ông bà làm sao biết được tôi có thể dạy cậu bé? Và chắc ông bà cũng biết rõ luật lệ của quan trên cấm ngặt việc dạy võ và học võ?

Lúc đó Triệu Thành mới dám mở miệng:

-Thưa thầy, chúng tôi biết rõ luật cấm của quan trên. Nhưng thầy vẫn có thể truyền dạy bí mật được chứ? Ngày ngày thầy cứ lo việc hái thuốc chữa bệnh như thường. Khi nào thật thuận tiện thì thầy dạy cho cháu vậy!

Ông thầy thuốc cười:

-Ông bà thương con, lo cho con đến vậy là hết lòng rồi. Bất chấp cả sự vi phạm phép nước, có thể nguy hiểm đến cả mạng sống! Thôi thì tôi cũng liều mà giúp ông bà.

Được ông thầy thuốc nhận lời vợ chồng Triệu Thành vui mừng khôn xiết. Từ đó trong nhà Triệu Thành có thêm một ông thầy thuốc.

Nhưng trớ trêu thay, Quốc Đạt tuy thể chất mạnh khỏe và được vị võ sư dưới cái lốt ông thầy thuốc tận tình dạy dỗ nhưng cậu lại chỉ ham những thú vui khác như bắt chim, đá cá mà chẳng mặn nồng gì với nghề võ cả. Điều này đã làm ông thầy thuốc lẫn vợ chồng Triệu Thành thất vọng lắm. Một hôm ông thầy thuốc nói với Triệu Thành:

-Cháu đã không chịu học tức là cháu không có duyên với võ nghiệp rồi. Dẫu có ép lắm cũng vô ích thôi. Tôi ở đây đã lâu mà không giúp ích được chi cho ông bà tôi cũng áy náy lắm. Vậy xin phép ông bà vui lòng cho tôi đi chốn khác làm thuốc cứu thiên hạ như trước.

Triệu Thành khẩn khoản nói:

-Thưa thầy, chúng tôi biết cháu nó làm cho thầy chán nản lắm, nhưng thú thật vợ chồng tôi rất quí trọng thầy. Chúng tôi không muốn thầy rời bỏ ngôi nhà này chút nào cả. Nếu thầy không được thanh thản trong lòng, thầy cứ đi chơi giải khuây đâu đó vài ba tháng rồi trở lại với chúng tôi cũng được. Chúng tôi sẽ cố sức khuyên nhủ cháu. Chúng tôi tin chắc ít lâu nữa cháu nó sẽ thay đổi sở thích thôi.

Thấy ông thầy thuốc có vẻ dùng dằng Triệu Thành lại tiếp:

-Thầy biết, chúng tôi tôn trọng thầy đến nỗi thầy ở lại đây đã khá lâu mà chúng tôi chưa hề dám hỏi đến danh tánh của thầy. Mong thầy thương chúng tôi mà đừng bỏ cháu. Chúng tôi tin tưởng thế nào rồi đây cháu cũng sẽ chịu học thôi.

-Ông bà đối với tôi quả thật chí tình. Thế này thì tôi cũng không còn giấu giếm gì ông bà nữa. Tôi họ Lữ tên Phương, là hậu duệ của quan Tể tướng Lữ Gia (1) đời nhà Triệu (2). Sau khi Tể tướng Lữ Gia bị tướng Hán Lỗ Bác Đức giết, con cháu của ngài tuy phải tản mát nhiều nơi để giữ mạng sống nhưng vẫn luôn khắc đậm mối thù với giặc Hán trong lòng. Ai cũng mong một ngày nào đó lại có dịp ra giúp nước để giành lại nền tự chủ. Đời này qua đời khác giòng họ tôi vẫn cố truyền cho nhau nghề võ của tổ tiên mình. Nay vì cảm ơn tri ngộ của ông bà tôi quyết định truyền nghề sang cho cháu nhưng duyên nghiệp chưa đến với cháu chắc cũng là ý trời. Nhưng ông bà đừng lo, tôi sẽ không bỏ cháu đâu. Cứ để tôi đi ngao du vài ba năm nữa tôi sẽ trở lại. Hi vọng lúc ấy cháu đã đổi khác.

Nghe xong Phạm thị cảm thán nói:

-Trời ơi, hóa ra núi Thái Sơn đứng sừng sững trước mắt mà chúng tôi nào hay! Thầy ra đi mây ngàn chim rừng biết bao giờ chúng tôi gặp lại? Thôi, thầy cứ ở lại với chúng tôi đi. Chúng tôi rất hân hạnh được gần gũi một nhân vật thuộc dòng dõi thế gia có truyền thống yêu nước. Từ nay chúng tôi nguyện xin cung phụng thầy như cung phụng cha mẹ vậy. Thầy thuộc dòng dõi Lữ Tể tướng tất nhiên thầy phải là một bậc văn võ kiêm toàn. Bây giờ cháu nó chưa thích học võ thầy có thể dạy cho cháu học văn, học thuốc cũng được! Xin thầy thương tình giúp cháu!

Ông thầy thuốc thở dài:

-Thôi, được rồi. Gia chủ đã cạn lời như thế tôi cũng xin hết lòng để đáp tấm ơn tri ngộ vậy! Gia chủ cứ yên tâm. Tôi đi chơi vòng vòng chừng vài tháng rồi sẽ trở lại!

Vợ chồng Triệu Thành được lời hứa của ông thầy thuốc mừng quá đồng loạt thưa:

-Cám ơn thầy đã hứa. Bây giờ thầy đi chơi đâu cứ đi nhưng xin sớm trở về để chúng tôi đỡ nóng lòng!

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

Chú thích:

(1)Lữ Gia người huyện Lôi Dương, quận Cửu Chân (tức huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa ngày nay), làm quan đời nhà Triệu, được thăng dần đến chức Thái phó Quốc công. Năm 111 trước Tây lịch, Lữ Gia với cương vị Tể tướng nhà Triệu, đã chỉ huy quân đội nước Nam Việt chống giặc Hán đến hơi thở cuối cùng.

Lữ Gia được coi như một tấm gương trung dũng, yêu nước của người Việt. Hiện nay cả Sài Gòn lẫn Hà Nội đều có đường Lữ Gia, ngoài ra ở Sài Gòn còn có một cư xá Lữ Gia nữa.

(2)Nhà Triệu: Do Triệu Đà gây dựng năm 207 trước TL, lãnh thổ của Triệu Đà là nước Nam Việt bao gồm 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và nước Âu Lạc cũ (của vua An Dương Vương). Các vua Triệu muốn kết cấu lòng dân nên không kỳ thị dân Âu Lạc, do đó những người Âu Lạc có tài đều có thể ra làm quan như trường hợp Nguyễn Danh Lang, Lữ Gia… Sau khi Lữ Gia tử tiết, nhà Triệu mất vào tay nhà Hán (111 trước TL).

 

 

3 comments

Trả lời Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng của Ngô Viết Trọng (Chương 12, 13, 14 và 15) | khoahocnet Hủy trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s