Văn Lang Tôn Thất Phương – Anh Vĩnh Sính: Nhìn lại cách yêu nước của người Việt

haibatrungĐọc những điều này, chúng ta suy nghĩ:  Hơn 70 năm qua, khuynh hướng lịch sử của Việt Nam là cả một chuỗi kèn thúc quân, dưới ngọn cờ “vì độc lập”.  Vì độc lập mà phải hy sinh tất cả, thực sự có cần đến thế không sau khi cả nước đã nghe biết những bộc bạch của hai nhà tiền bối họ Phan?  Nếu độc lập để có 1 cái gì đó thì nhất định nó phải vĩ đại và cần thiết hơn sự hy sinh xương máu.  Nếu mục đích của cả dân tộc là làm sao để có được no ấm giàu mạnh, hạnh phúc, văn minh tiến bộ; thì cả ba nhà học giả bậc nhất là Phan Chu Trinh, Fukuzawa và Lương Khải Siêu đã đều nói một lời như nhau.   Đó là “chấn dân khí, khai dân trí”,  “nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập” và  “nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được độc lập”.

 * * *

Dân đói kêu trời vang ổ nhạn

Quân gian dậy đất tựa đàn ong

(Phan Đình Phùng)

Nong nả đắp vun nền đạo nghĩa

Dõi theo người trước giữ năm hằng

(Phan Văn Trị)

Thưở ấy, xa rồi, vào những năm sau của thập niên 1960, trong cư xá Komaba ở Tokyo có ba sinh viên gốc Huế hay ưa chơi với nhau, trong đó anh Sính là một.  Tôi mến anh Sính (và anh M.) không phải chỉ do hai anh vui vẻ mà tính tình lại giản dị, và tuy cả hai anh đều thuộc khoá đàn anh lớn hơn tôi nhiều nhưng không bao giờ làm ra vẻ đàn anh.

Có lẽ chúng tôi thấy ưa chơi với nhau vì mỗi người mang đậm trong mình một chất gì “rất Huế”.  Chất Huế trong cách ẩm thực, cách yêu thích sự vật, yêu thiên nhiên, yêu văn chương; và tự hào là những đứa con trai của Huế… Ngoài ra còn thêm cái tính “gàn” nữa.  Không hiểu sao, nhưng cứ như chim thì bay, cá thì lội, con trai Huế thì … gàn!   Người có một cái gì đó “coi cũng được được” dám gàn đã đành, người không có gì hết cũng “gàn”.  Con trai Huế “gàn” một cách kiên trì, có lẽ do được quen với những truyền thống bền bĩ:

Thất thập Tề thành giai Bắc diện

Nhất thời trung phẫn độc thư sinh

(Cả 70 thành nước Tề đều ngảnh mặt về hướng bắc để qui phục

Duy chỉ có một thư sinh trung nghĩa lòng thấy giận)

Hay nhẫn nại:

Vàng mười để vậy lu li

Chùi ra sáng lạng kém gì ngọc trai

(câu ca dao này vẫn có từ lâu, nhưng thấy ứng vào cuộc đời của anh Sính rất đúng)

Bên cạnh các điều đã kể có lẽ còn có thêm một hai điểm chung khác nữa, tuy không ai nói ra.  Thứ nhất là nao lòng khi nhìn thấy nước Nhật hùng cường và thanh bình quá, trong khi nước mình thì loạn lạc nghèo đói quá.  Thứ hai là ước mơ cho Huế, mong sao có ngày nơi xứ Huế trời yên biển lặng, “quê miền Trung thôi hết điêu tàn”.

Thưở ấy, khi còn là người sinh viên trẻ, anh Sính vẫn hay đọc câu thơ đầy hào khí:

Rằng ta tự thưở nào tuổi trẻ

Thề không hề theo kẻ quyền cao …

Suốt hơn mấy chục năm qua, câu thơ vẫn còn rõ rệt trong trí tôi, dù sống xa anh quan san muôn dặm.

Thực ra anh và tôi có bà con, cho nên thưở còn ở Huế hai đứa đã được ông chú cho mượn sách để đọc (đa số là truyện Tàu), và từ đó cùng san sẻ được với nhau về nhiều điều thích thú, chẳng hạn như những hoàn cảnh chẳng đặng đừng trong Thủy Hử, những say mê trong Liêu Trai Chí Dị, những gương can đảm và mưu lược trong Đông Châu Liệt Quốc Tam Quốc Chí, vv… ví dụ như việc:

Hội đào viên  anh hùng kết nghĩa

Chém giặc khăn vàng  hào kiệt ra tay 

Anh Sính chịu ảnh hưởng của những hành động “vị nghĩa” của các nhân vật trong Tam Quốc Chí rất mạnh.  Mạnh đến nỗi gia đình anh hay dựa vào đó để nói khích anh:  “Sính đọc Tam Quốc Chí rồi mà còn như thế sao?”.  Chỉ cần như vậy mỗi lần là anh xử sự “đâu vào đấy” ngay.  Lòng yêu trung ghét nịnh của  anh có lẽ cũng bắt đầu từ thưở đó.  Cái nghĩa khí được biểu hiện dưới nhiều hoàn cảnh khác nhau của các nhân vật mà anh yêu thích cũng có thể đã tạo cho anh một ý hướng mạnh về nghĩatình.

Những ngày ở Nhật, anh Sính tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị liên quan đến Việt Nam là từ khoảng năm 1969 trở đi.  Phải cần nhớ là hoàn cảnh lịch sử của nước ta đã làm cho đại đa số người Việt Nam cứ phải sống trong huyền thoại.  Có nghĩa là cứ sống với những ước mơ và mò mẫm tìm đoán chứ không được biết rõ thực chất của sự việc lịch sử.  Có những điều cơ bản lẽ ra phải được biết nhưng không mấy ai biết, tuy rằng nếu biết được thì cả dân tộc đã khỏi phải đi quanh co trong hơn nửa thế kỷ với cả sự hy sinh đầy xương máu.  Nói cách khác, có rất nhiều điều tuy đã trở thành hiển nhiên trong ngày nay, nhưng vào mấy chục năm trước lại là điều không mấy ai thấy.  Thưở trước, biết bao nhiêu người Việt vẫn thấy lòng rung động đầy ngưỡng mộ với những hình ảnh lãng mạn:

Mờ trong bóng chiều

Một đoàn quân thấp thoáng

Núi cây rừng

Lắng tiếng nghe hình dáng

Của người anh hùng …

Ra biên khu trong một chiều sương âm u

(Chiến Sĩ Vô Danh)

Huyền thoại thôi, vì trong “đoàn quân thấp thoáng” đó đâu phải ai cũng tốt; nhưng có thời hầu như cả nước đều nghĩ như thế, nói gì đến cá nhân!

Niềm rung động đó lại còn được gắn liền với những hình ảnh hy sinh của các bậc tiền bối Cần Vương, như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân:

Một gánh cương thường, há phải gông

Oằn oại hai vai quân tử trúc

Lung lay một cỗ trượng phu tòng

Thác về đất bắc danh còn rạng

Sống ở thành nam tiếng để không

Thắng bại vinh hư,  trời đất luận …

Hay Phan Bội Châu:

Nhục cho nước mà đau người trước

Nông nỗi này, non nước há cam?

Trong cái tâm tình đó, anh Sính đã tự thấy một sự thôi thúc phải làm những gì mà anh cho là đúng.  Khi “nghĩa như nên đến” thì “việc ắt phải làm”, thế thôi.  Cho nên anh đã có một chọn lựa dứt khoát.  “Chém giặc khăn vàng” cũng còn là hết lòng theo “việc ắt phải làm” mà mình đã chọn lựa.

Nhưng trong khi anh hoạt động tích cực nhất lại là lúc anh vất vả nhất về kinh tế.  Thưở đó, đã có nhiều sinh viên Việt Nam khác cũng phải kiếm đủ loại việc làm để sinh sống, và họ rất quen với cách tìm việc, có nhiều thông tin, vv… tuy nhiên anh Sính không tiếp cận với các sinh viên này vì không muốn để cho những người không ưa anh có cớ để dị nghị này nọ.  Thành ra anh cứ phải sống “an bần lạc đạo” khá lâu, sự lựa chọn này cũng làm anh khổ lắm.

Rồi bên cạnh đó, những hoạt động chung mà anh tin tưởng cũng không hoàn toàn như anh nghĩ.  Nhưng anh vẫn cố gắng trong thầm lặng …  cho tới khi cơ hội đi Canada tình cờ đến như một cứu cánh.  Anh quyết định ra đi dù chị ấy (vợ anh) rất phân vân:  Dù sao cũng là đi qua xứ khác, đời nút chai bập bềnh trên bến lạ, chẳng ai quen biết, việc làm chẳng rõ có hay không …

Tuy nhiên cuối cùng anh thuyết phục được chị, có lẽ do chị hiểu được đây là chọn lựa trọn tình trọn nghĩa nhất đối với anh.   Tiễn anh ra phi trường, tôi biết lòng anh hoang mang tuy tiếng cười của  anh vẫn giòn và đôi mắt vẫn sáng …  Trên đường về, ngồi trên con tàu lạnh, tôi thầm cầu chúc cho anh may mắn khi trong đầu cứ ngổn ngang với một điệp khúc:

Đường anh đi có chan hoà ánh sáng

Cho tôi nghe lòng ấm buổi chia xa …

Bẵng đi vài năm không có tin anh, bỗng một hôm anh “lù lù” trở lại Nhật.  Mới biết anh đang nghiên cứu về nhân vật Tokutomi Soho và trở về tìm tài liệu, tiếng cười của anh vẫn “giòn tan” như dạo nào.  Thấy mừng vì anh đã có hướng đi mới và bắt đầu an định.

Mấy ngày ngắn ngủi, bận rộn, rồi anh đi.  Sau 1975, anh có trở lại Tokyo một lần nữa, với tư cách là một giảng sư ở đại học Alberta.  Lúc đó chiến tranh Việt Nam đã xong rồi, nhưng mọi điều mọi sự rối như canh hẹ  … Nói chuyện với nhau khá nhiều mà thấy ít, vì lúc đó có đứa nào biết gì về xã hội Việt Nam đâu!  Vì mấy tuần trước đó anh mới ghé Việt Nam xong, hỏi anh có sẽ về nước sinh sống hay không, anh cúi đầu nhìn xuống đất, nói chầm chậm:  “Còn có bà xã và con mình quyết định chung nữa chứ.  Không biết bà ấy, rồi con mình nữa, có muốn sống ở Việt Nam không”.  Con trai anh lúc đó mới khoảng hai ba tuổi.

Anh còn trở lại Tokyo nhiều lần, nhưng tôi không còn ở Nhật nữa nên chẳng được gặp.   Vẫn liên lạc với nhau qua thư tín, và email sau này, nhưng kẻ nam người bắc, không còn những cơ hội nói chuyện được lâu dài với nhau như ngày trước, nhất là chuyện Việt Nam.

Thời gian trôi … trong khoảng 25 năm sau đó mới là thời thực sự “làm việc” của anh Sính, bắt đầu từ việc nghiên cứu tư tưởng của một số trí thức Nhật thời cận đại khi nước này mở cửa ra cùng thế giới.  Đối với giới nghiên cứu Việt Nam, đây là một lãnh vực hoàn toàn mới, vì tuy vẫn có nhiều người muốn làm, và thấy là cần thiết, nhưng chẳng mấy ai rành tiếng Nhật  –  và có quan tâm đến lịch sử nước Nhật  –  để có thể khai phá lãnh vực này.

Nghiên cứu của anh Sính là tâm huyết của cả đời anh.  Anh muốn thử tìm một tia sáng cho hướng đi của dân tộc Việt Nam, bằng cách nhìn lại cách suy nghĩ của người Việt mình và so sánh nó với suy nghĩ của các trí thức Nhật Bản trong việc “cầu tiến bộ” cho xã hội.

Điểm chính yếu mà anh đưa ra là muốn tiến bộ, một quốc gia cần phải “hưng dân trí, chấn dân khí”, đúng như  cụ Phan Chu Trinh (PCT) đã đề xướng từ đầu thế kỷ trước.  Hai học giả Fukuzawa Yukichi (Nhật)  và Lương Khải Siêu (Trung Quốc) cũng nghĩ như thế.  Fukuzawa viết:

Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do, thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm.

Chưa biết thì phải học, học để trở nên văn minh.

Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu độc lập.

Còn Lương Khải Siêu cũng đã nói rõ cùng cụ Phan Bội Châu năm 1905:

Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí, dân khí và nhân tài.

Anh Sính nhắc đi nhắc lại điều mà Fukuzawa luôn nhấn mạnh là “phải biết mình biết người” vì đa số dân Việt ta không quen với ý nghĩ đó.   Anh đưa ra trường hợp của Shiba Ryotaro và Chu Thuấn Thủy.   Shiba là một trong những người viết dã sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật.  Ông nhận xét:

Người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung …  Ngoài ra, người Việt xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác, đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

Chu Thuấn Thủy là học giả người Trung Quốc.  Khi nhà Minh mất về tay nhà Thanh, ông nhiều lần lưu lạc sang Việt Nam mưu vận động phản Thanh phục Minh và các chúa Nguyễn ở Đàng trong đã tính chuyện thu nạp ông, nhưng người Việt đương thời không xem ông ra gì:  Khi nghe ông không có bằng cấp gì thì khinh bỉ ra mặt, lại bắt ông quỳ lạy, và hạch hỏi lắm điều vô lý, vô bổ.  Sau này, ông Chu kể:

Việt Nam…  ít tiếp xúc với các xã hội bên ngoài. Ngay với Trung Quốc tưởng đã quá quen thì (người Việt) cũng không hiểu gì cả

Người Việt đọc những truyện như Tam Quốc Diễn Nghĩa hoặc Phong Thần mà tin là thật, cứ hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi… trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam Sử… tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá…  Chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số (đông biết bao nhiêu), hỏi [lắm điều] thật không nhằm chỗ … Trong tứ dân (sĩ nông công thương) và chín học phái (Cửu lưu: Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv…), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực

Tuy là nước nhỏ, nhưng tính khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn… (tuy có người tài năng) nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng.

Thấy Việt Nam không thích hợp, ông Chu đi qua Nhật.  Tại đây, ông trở thành một đại trí thức có công đưa nước Nhật lên hưng thịnh.

Sau khi dẫn chứng như thế, anh Sính đi vào vấn đề:

Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người.

Viết ra như vậy là đã hiểu tâm lý người Việt hiện nay rất rõ.  Cho nên cách tiếp cận vấn đề của anh tuy vẫn nghiêm túc nhưng anh chỉ chạm rất khẽ, như sợ không khéo thì mọi sự sẽ vỡ tan.

Đi xa hơn nữa, anh Sính phân tích thêm là “phải biết cách yêu nước”,  và lối suy nghĩ “chiến đến cùngkhông hẳn là có lợi cho đất nước.  Chúng ta ai cũng đều biết cụ Phan Bội Châu (PBC) được cả toàn dân kính mến, và hầu như ai cũng nhớ lời cụ nói:

Cũng xương cũng thịt cũng da

Cũng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long

Thế mà chịu trong vòng trói buộc

Bao nhiêu năm nhơ nhuốc lầm than

Than ôi Bách Việt giang san

Thông minh vốn sẵn, khôn ngoan có thừa

… Hòn máu uất chất quanh đáy ruột

Anh em ơi mau tuốt gươm ra

Có trời có đất có ta

Đồng tâm như thế mới là đồng tâm …

(Hải Ngoại Huyết Thư)

Nhưng bầu máu nóng của cụ PBC, và các đồng chí của cụ, dưới con mắt của cụ Phan Chu Trinh (PCT) thì khác.  Anh Sính tìm ra lời của cụ PCT:

Ông ấy (PBC) có lòng thương nước nhưng không biết cái đạo thương nước (Hữu ái quốc chi tâm, nhi bất tri sở dĩ ái quốc chi đạo)…  Ông ấy … không rõ thời thế … ngoan cố khăng khăng không chịu thay đổi … Chủ nghĩa phục thù cực đoan của ông thật ngoan cố và sai lầm cùng cực, đã không hợp lý luận, không hợp thời thế mà lại còn đẩy đồng bào vào tử địa…

Những trước tác của ông ấy không căn cứ vào lý luận, không khảo sát thời thế, khi thì chửi tràn, khi thì khóc than thống thiết …  Nhưng vì trình độ và tính cách (thì) thích hợp với quốc dân, nên dân mới bị lừa theo…

Ông ấy là người đại biểu cho những tập quán có từ ngàn xưa trong lịch sử của dân tộc nước Nam. [Ai] không biết chân tướng của người nước Nam, [cứ] xem ông ấy thì biết được. Người dân nước Nam rất giàu tính bài ngoại, ông ấy bài ngoại đến chỗ cực đoan. Người nước Nam rất thích ỷ lại vào người nước ngoài, thì ông ấy ỷ lại đến chỗ cực đoan. Người dân nước Nam rất thiếu tính tự lập thì ông ấy lại càng thiếu cùng cực. Tính cách và trình độ của ông ấy nhất nhất đều tương hợp với tính cách và trình độ của quốc dân, bởi vậy ông nhân (vào) ưu điểm và khuyết điểm của quốc dân mà lợi dụng.

Tôi tự biết những lý do mà chủ nghĩa của ông ấy đưa ra thì rất yếu, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của dân nước Nam thì rất mạnh. Chủ nghĩa của tôi, lý do đưa ra thì rất mạnh, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của người nước Nam trong tình thế hiện tại thì rất yếu.

Đối với những nhận xét trên, cụ PBC phản tỉnh:

Lịch sử tôi là lịch sử của trăm điều thất bại … Bôn ba trôi nổi gần ba mươi năm, vì liên lụy với tôi mà kẻ chết người tù, tai ương tràn cả nước, độc hại lan khắp đồng bào. Mỗi khi tỉnh giấc nửa đêm lòng tự bảo lòng rồi gạt lệ nhìn trời … trông râu mày mà hổ thẹn.

Than ôi, ông (PCT) có thứ cho tôi chăng? Lúc ông (từ Nhật Bản) về nước [1906], tôi tiễn chân ông đến Hương Cảng, ông cầm tay tôi dặn mấy lời sau hết:  “Từ thế kỷ 19 về sau, các nước tranh nhau ngày càng dữ dội, cái tính mạng một nước, gửi trong tay một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ”.

Ông nói thế, lúc bấy giờ tôi chưa có câu gì đáp lại, nay đã hơn 20 năm rồi, lời ông càng lâu, càng nghiệm. Tôi mới biết cái óc suy nghĩ cùng cái mắt xem xét của tôi thiệt không bằng ông! Phỏng ngày nay ông còn sống thì cầm cờ hướng đạo cho chúng ta, hẳn phải nhờ tay ông mới được.

Đọc những điều này, chúng ta suy nghĩ:  Hơn 70 năm qua, khuynh hướng lịch sử của Việt Nam là cả một chuỗi kèn thúc quân, dưới ngọn cờ “vì độc lập”.  Vì độc lập mà phải hy sinh tất cả, thực sự có cần đến thế không sau khi cả nước đã nghe biết những bộc bạch của hai nhà tiền bối họ Phan?  Nếu độc lập để có 1 cái gì đó thì nhất định nó phải vĩ đại và cần thiết hơn sự hy sinh xương máu.  Nếu mục đích của cả dân tộc là làm sao để có được no ấm giàu mạnh, hạnh phúc, văn minh tiến bộ; thì cả ba nhà học giả bậc nhất là Phan Chu Trinh, Fukuzawa và Lương Khải Siêu đã đều nói một lời như nhau.   Đó là “chấn dân khí, khai dân trí”,  “nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập” và  “nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được độc lập”.

Anh Sính đưa ra điều này trong khi cái “hào khí ngất trời cao” của “Đại Thắng Mùa Xuân” vẫn còn đang ngất ngưởng, cái tâm lý “yêu nước như thế nào thì ai hơn Việt Nam”  còn cao ngút trời mây; nhất là khi lòng yêu nước đã được cố ý tuyệt đối hoá, được xem là ưu tiên nhất và chỉ có 1 con đường duy nhất – Thế thì có ai trong giới trách nhiệm sẽ chịu khó nghe anh?  (Nhưng qua điều này, chúng ta hiểu được có lẽ anh đã chọn lựa “Dù sao thì cũng phải nói!”).

Về ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, anh Sính cũng đứng sau lưng cụ Phan Chu Trinh để dùng lời của cụ:

Nước ta thụ phong với Trung Quốc qua các đời chẳng qua vì đó là đường lối ngoại giao. Vì thế ta coi việc thụ phong như một màn kịch (hý),  chứ không lấy đó làm điều vinh dự…

Nào ngờ, đời sau lại hiểu sai dụng ý hay ho của người đời trước nên mới coi việc ỷ lại vào bên ngoài là quốc sách, rồi không chịu chỉnh đốn binh bị và nội chính, xem chuyện trao tặng ngọc lụa quan trọng hơn việc xây đắp thành lũy nhằm giữ nước.

… Tính ỷ lại vào Trung Quốc tất phải xảy ra vào cuối mỗi triều đại: vua bỏ bê việc nước, triều thần gian nịnh, không lo chỉnh đốn binh bị, chỉ xem bên kia là cha – mà quên bộ mặt hung ác của họ…   Trung Quốc cũng nhân đó để âm mưu việc nham hiểm: Đời Minh viện cớ giúp khôi phục nhà Trần để mong biến nước ta thành quận huyện… Đời Thanh thì giả vờ phù Lê mà đưa quân sang chiếm … tới bản triều vì không thấy cái họa của bánh xe đổ phía trước nên mới uỷ thác cho Bắc triều mà không tự lập.

Nói mạnh như thế nhưng anh cũng đã xuất bản được những nghiên cứu này của anh ở trong nước.  Có phải vì anh đã biết chạm nhè nhẹ cho kêu thành tiếng mà không vỡ, hay vì anh nói ra hợp lý quá, làm ngay đến cả trong hàng ngũ  bảo thủ nhất cũng có người thấy “sáng mắt sáng lòng”?

Dù lý do là thế nào đi nữa, đưa ra được mấy điều ở trên cho đông đảo người Việt được biết, anh Sính đã  làm được một việc rất có ý nghĩa.  Chúng ta hy vọng những người trẻ trong nước – nhất là giới sinh viên học sinh – có cơ hội đọc được những bài viết này của anh.

Cũng mong mỏi sao cho công trình mà anh đã đi tiên phong sẽ được người Việt thừa kế , vì có như thế xã hội mới tiến triển (khi biết mình cần đi về hướng nào).  Tuy nhiên đây là một điều khó, vì trong số ít ỏi người Việt rành tiếng Nhật dễ gì có người quan tâm đến việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng.

Khó hơn cả là điều kiện chính trị hiện nay.  Vì khi triển khai thêm về sự kế thừa của tinh thần Phan Chu Trinh thì các nhà nghiên cứu bắt buộc phải vượt qua được một khu rừng hoang dày đặc mà bây giờ đã thành cấm địa.   Cấm vì lý do chính trị, và rừng dày đặc đầy bí ẩn vì dấu vết đã bị xoá bỏ.   Đó là nói về đi tìm tòi những chủ trương của các cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh:  Cụ Phạm Quỳnh cũng chủ trương “Ỷ Pháp Cầu Tiến Bộ” như cụ Phan Chu Trinh, mà cụ Phạm thì đã bị ám sát từ năm 1945.  Cụ Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương học Âu,  đem cái hay của Tây Phương  phổ biến cho người Việt để thúc đẩy tiến bộ.

Đã trên 100 năm trôi qua mà những điều cụ Phan Chu Trinh đề xướng vẫn còn đúng, vẫn chưa làm được, và dù lòng yêu nước của cụ không ai có thể nào chối bỏ, chủ trương của cụ vẫn còn bị cố ý chê bai là “ngây thơ”, “không tưởng”.  Cụ PCT còn bị thế, huống chi là ai khác nhỏ hơn cụ Phan.  Đó là chưa nói có kẻ sợ sự đào sâu về chủ trương của cụ Phan Chu Trinh – và những người đi theo cụ Phan về sau – biết đâu lại làm một thần tượng nào đó càng thêm bị lu mờ?

Năm 2011, anh Sính và 13 nhà nghiên cứu khác ở ngoài Việt Nam có viết bản “Ý Kiến Chúng Tôi: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước” (gọi tắt là “Bản Ý Kiến”) gửi đến Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản VN (ĐCSVN).   Những điểm chính của “Bản Ý Kiến” có thể được tóm tắt như sau.

“Đề nghị ĐCSVN xem xét thực hiện” 8 điểm (trích):

  1. Không tự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. 
    1. Độc lập với Trung Quốc.
    2. Tôn trọng tự do báo chí và ngôn luận, các quyền lập hội, biểu tình, và bình đẳng trước pháp luật.
      1. Đoàn kết dân tộc.
      2. Minh bạch hóa việc bổ nhiệm các chức vụ cao, tuyển công chức theo khả năng, có chế độ tiền lương hợp lý.
      3. Cải cách chế độ sở hữu ruộng đất.  Bỏ chế độ hộ khẩu.
        1. Chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức.
        2. Đặt giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Tránh chính trị hóa học đường.

Bản Ý Kiến” đưa ra hai nguyên nhân cơ bản của nguy cơ hiện nay là (trích):  (1) Thiếu dân chủ và (2) Lãnh đạo chưa có người giỏi, [biết] chịu trách nhiệm cao.  Quan chức thiếu năng lực và đạo đức.

Trong mục “Cải cách vì giàu mạnh và tự chủ”, bên cạnh sáu điểm khác, có hai điểm chính (trích):

  1. Cải cách thể chế:

ĐCSVN … không bị trói buộc bởi những giáo điều… đã bị thực tế lịch sử loại bỏ.

  1. Chiến lược:
  1. Đối với Trung Quốc:

a)     Không khúm núm thần phục Trung Quốc.

b)     Trung Quốc uy hiếp Việt Nam không lập quan hệ đặc biệt với Mỹ.   Việt Nam có gì khác với các nước ASEAN khác [đâu] khiến Trung Quốc uy hiếp được?

c)     Thân với Trung Quốc (như với Nhật, ASEAN)  –  nhưng không xây dựng an ninh trên tư tưởng “Trung Quốc là bạn đặc biệt”.

  1. Đối với Mỹ:

a)      Chỉ có Hoa Kỳ mới có thể là đối tác chiến lược của Việt Nam.  Nếu thấy quyền lợi của họ và ta là một… thì hai nước sẽ sát cánh với nhau.

b)     Dân chủ hóa là điều kiện để mở chiến lược ngoại giao. [Ví dụ] nền dân chủ ở Đài Loan [gắn thêm với yếu tố quyền lợi] là yếu tố chiến lược. Nước Nhật phải viết lại hiến pháp để trở thành đồng minh bền vững của Mỹ.

c)      Đồng minh với Mỹ có mất độc lập chăng?  Liên minh với Mỹ nhưng Đức không mất độc lập ngoại giao với Liên Xô, Nhật không mất độc lập ngoại giao với Trung Quốc. Hàn Quốc liên minh với Mỹ, họ có mất độc lập ngoại giao với ai đâu?

Tại sao họ không mất? Thứ nhất, vì họ biết vận dụng nội lực.  Sức mạnh bên trong là yếu tố không thể không có để độc lập với thế giới.   Thứ hai, họ biết vận dụng thời cuộc quốc tế để không trở thành chư hầu của một cực.

  1. Tư tưởng chính trị:

a)      Tư tưởng chính trị là tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng trên quan tâm duy nhất là độc lập. Vì độc lập, phải lấy đoàn kết dân tộc làm tư tưởng, mục tiêu, chứ không phải một lý thuyết nào xa lạ. Dứt khoát cắt rốn tư tưởng với Trung Quốc.

b)     Mô hình [dân chủ] … sẽ không chối bỏ nguyên tắc căn bản là “đảng lãnh đạo”. Vấn đề là dân chủ thật sự trong đảng, và minh bạch thế nào là “lãnh đạo” theo ý kiến của dân.

c)      Chọn dân tộc và chọn thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, thì mới thoát được cái ách của Trung Quốc.

Đây là lần đầu tiên một vấn đề bao quát được gom lại một cách có hệ thống, nhưng hầu hết tất cả các điểm được nêu ra không có gì mới.  Vì từ bao nhiêu năm nay dư luận Việt Nam – đặc biệt là các nhà dân chủ trong nước –  vẫn đưa ra các nhận định và đòi hỏi tương tự, ví dụ như:

–         Các lãnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, đạo đức đều suy thoái trầm trọng.

–         Phải có dân chủ, bình đẳng, có tự do ngôn luận, lập hội, đi lại…

–         Chớ làm khổ dân với chế độ hộ khẩu, với tham nhũng, bất công, cưỡng chế đất đai …

–         Phải biết đoàn kết dân tộc, phải học cách chơi với Mỹ, đừng nhu nhược với Trung Quốc.

Quan trọng hơn cả, người dân còn nói công khai:  Chế độ Cộng Sản đã lỗi thời, “đã bị lịch sử loại bỏ”.

Có một điểm mà tôi không tự trả lời được là  trong khi đưa “Bản Ý Kiến” không hiểu tại sao anh Sính quên yếu tố quần chúng trong khi anh là người nghiên cứu về dân trí, dân khí?  Xưa nay Đông Tây đều thế cả, không chính trị gia hay đoàn thể chính trị nào làm việc đàng hoàng nếu không có áp lực của quần chúng.  Biết như thế, sao anh lại lặng lẽ “trình” ý kiến tới Bộ Chính Trị ĐCSVN mà thôi?  Chỉ đến sau khi chạm phải một sự im lặng cố hữu anh mới miễn cưỡng gửi cho Quốc Hội, rồi cũng gặp im lặng, anh mới đưa tới tai mắt dân đen.  “Quan nhất thời, dân vạn đại”, chẳng lẽ anh quên?  Lời cụ Phan Chu Trinh (“tính mạng một nước, gửi trong tay đông đảo quốc dân”), và cụ Phan Bội Châu nói sao, hẳn anh vẫn nhớ:

Còn chuyện quốc gia đại sự thì vua tôi chỉ nhỏ to bàn bạc với nhau trong cung cấm.  Người dân ở ngoài chỉ được nghe phong phanh đồn đãi, rồi thở than buồn bã với nhau thôi (Phan Bội Châu: Việt Nam Vong Quốc Sử).

Những “đề nghị cải cách” mà anh muốn nói, mỗi ngày “Bôxit-Vietnam” vẫn nói lớn giữa làng; nên chắc anh phải có một lý do nào đó.  Nhưng anh đi rồi, làm sao hỏi được anh?

Thắc mắc thứ hai là tại sao anh Sính đưa ra trường hợp của ba nước Nhật Bản, Đức và Đài Loan và bảo rằng vì họ có dân chủ (và thêm quyền lợi kinh tế) nên quan hệ ngoại giao với nước Mỹ được tốt đẹp.  Chỉ với chừng này, không lẽ  anh nghĩ rằng đã đủ tính thuyết phục?

Vì với nước Mỹ, điều họ quan tâm lớn nhất là sao cho “làm ăn” có lợi (“America’s business is business”).  Từ 1942 (chứ không phải sau 1945) Washington đã lập ra kế hoạch phục hưng nước Nhật và nước Đức để làm “xưởng kỹ nghệ” cho nền kinh tế Mỹ (American “workshop” for Asia/Europe).  Trường hợp của Nhật, kế hoạch này là phục hồi lại các Zaibatsu (tập đoàn kinh tế tư bản lớn) để vận hành nền kinh tế.   Đến 1950 Washington lại lập kế hoạch dùng vùng Đông Nam Á để thay thế cho Manchuria và miền phía bắc của Korea (vốn là thị trường  cung cấp nguyên liệu cho nước Nhật mà họ sẽ không còn có nữa sau 1945).   Còn hiến pháp dân chủ hiện nay của Nhật thì chẳng phải họ “tự viết lại” để … có thể thân thiện với Mỹ.  Họ bị bắt phải viết lại đó thôi, chỉ vì Washington nghĩ rằng một nền dân chủ thì sẽ giữ cho nước Nhật không trở lại thể chế quân phiệt để dễ dàng theo con đường chiến tranh như thời 1940-1944.

Trường hợp Tây Đức thì cũng thế.  Kế hoạch Marshall nhắm tái thiết Tây Âu cũng nhắm vào việc để cho vốn đầu tư của Mỹ đi vào hầu hết các lãnh vực kinh tế và tài chính quan trọng.  Còn hai nước Korea và Đài Loan bây giờ thịnh vượng thì do hoàn cảnh kinh tế là một chuyện, nhưng cốt lõi của vấn đề là cả hai đều rất quan trọng đối với chiến lược của Washington ở Viễn Đông (Sự phát triển cũng còn do Tokyo đổ tiền vào hai vùng này, vì cả hai là “khiên chắn” cho Tokyo trước con “rồng lửa” Trung Quốc).

[Nếu bảo Việt Nam quan trọng đối với chiến lược toàn cầu của nước Mỹ lúc nào thì khoảng vào 1954-1969 (thời Chiến Tranh Lạnh) Washington cũng đã xem Việt Nam Cộng Hoà là vùng “tối quan trọng” như Nam Hàn bây giờ.  Nhưng chiến tranh liên miên làm họ rút lui – bằng cách thương lượng nhường một số quyền lợi (của VN) cho Bắc Kinh.  Cũng vì chiến tranh mà có kế hoạch kinh tế lớn không thể thực hiện được, ví dụ dự án biến phi trường Tân Sơn Nhất thành phi trường quốc tế hạng nhất – vì Sài Gòn nằm ngay trên các con đường bay từ Tây sang Đông, từ Nam lên Phi Luật Tân, Nhật Bản, Đài Loan, Korea…  Chiến tranh làm kế hoạch này phải chạy qua Thái Lan:  phi trường Bangkok ngày nay có tầm thế giới là khởi nguyên từ đó].

Cũng nên xem sơ qua một chút về quan hệ Mỹ Nhật.  Nước Nhật bắt đầu ý thức phải lo tự mình giữ độc lập và cấp tốc hiện đại hoá là do họ hiểu được hiểm hoạ thực dân từ khi nhìn Trung Quốc bị xâu xé sau trận Chiến Tranh Nha Phiến.  Ý thức này càng cấp bách thêm khi liên quân của Choshu và Satsuma bị hải quân Anh đánh thua to.  Vì họ lo canh tân nên  tới năm 1900 nước Nhật đã gần như ngang hàng các cường quốc Âu Mỹ (chứ không phải “chỉ trong 15-20 năm sau 1945” như nhiều người Việt nghĩ).  Đến thời điểm 1930-1945, Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ-Anh, và rất ít nước Âu châu khác.  Thời Thế Chiến II, họ đã có thể tự chế ra hàng không mẫu hạm để tranh hùng với thế giới.

Ấy thế mà trong kế hoạch toàn cầu cho “hậu 1945”, ban đầu Washington đã chọn Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) để làm đồng minh chiến lược (và “workshop for Asia”) chứ không chọn Nhật Bản.   Chỉ đến khi thấy chính phủ Tưởng tham nhũng và kém năng lực quá, họ mới đổi qua nước Nhật.  Điều này cho thấy đồng minh là do họ chọn, căn cứ trên quyền lợi của họ.  Còn những gì nằm ngoài vấn đề quyền lợi, ví dụ nước nào sẽ ra sao, họ không quan tâm.

Cho nên chính Nhật Bản ngày nay cũng không an tâm lắm về những cam kết “đồng minh” của Washington, vì trong thập niên 1980s chính Washington đã tuyên bố nếu Tây Âu có nguy cơ thì họ sẽ rút hết quân đang đóng ở Nhật để chuyển về bên đó.  Ngày nay, Trung Quốc là một thị trường lớn để giới doanh nghiệp Mỹ làm ăn, cho nên phải hợp tác với Trung Quốc ra sao để có lợi nhiều nhất mới là điều mà Washington quan tâm nhất.  Chủ trương cố hữu của các nước lớn Âu Mỹ bao giờ cũng là hợp tác để có lợi (If you cannot beat them, join them).  Trong ký ức gần của mọi người, họ đã nhượng bộ trong vấn đề Hoàng Sa nên hải quân Việt Nam Cộng Hoà mới thua.  Năm 1972 khi giao dịch với Trung Quốc, họ bảo với Chu Ân Lai là sau khi quân Mỹ rút lui (1973), Washington cần  một khoảng thời gian thích hợp (a decent interval) khoảng 2 năm (để khỏi bị công luận kết tội phủi bỏ VNCH) nên năm 1975 “Đại Thắng Mùa Xuân” mới diễn ra suông sẻ.  Bây giờ họ có xem Việt Nam là một nước “thuộc vùng ảnh hưởng của Bắc Kinh” hay không, và thấy giúp ta thoát khỏi Bắc Kinh “thì có thực tế không”, vv…  là những điều cần suy gẫm (người thường không rõ được, vì phải chờ ít nhất 30 năm nữa mới may ra có tài liệu để tìm hiểu).

Trong khoảng 30 năm sau 1950, ai cũng thấy nước Nhật sao “thần kỳ quá” vì đi đâu cũng thấy toàn hàng hoá Nhật.  Nhưng từ 20 năm nay nơi nơi lại thấy toàn hàng hoá Trung Quốc, tuy đa số có phẩm chất kém mà Trung Quốc lại có thể đem bán khắp thế giới.  Chẳng lẽ Trung Quốc không ai giúp, tự sức mình mà làm được như vậy?

Được biết là khi quyết định phục hưng nền kinh tế và kỹ nghệ của Nhật,  trong một buổi họp ở Washington có người hỏi:  “Nhật Bản có tiềm lực và kỹ thuật cao, lại đã từng là kẻ địch.  Nay làm cho họ thịnh vượng, có đáng lo không?”.  Người khác (có lẽ là ngoại trưởng Dulles) trả lời: “Vấn đề không phải là chuyện làm được hàng hoá mà muốn xuất cảng hàng hoá thì phải có thị trường.  Không có chúng ta, Nhật Bản không thể đi vào thị trường nào được cả”.

Điều thắc mắc thứ ba là tại sao anh Sính đưa ra câu hỏi “Việt Nam có gì khác với các nước ASEAN khác [đâu] khiến Trung Quốc uy hiếp được?”.  Lẽ ra phải nói “khác rất xa” mới đúng, do lẽ các nước ASEAN khác không theo Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) – ví dụ như Thái Lan hay Indonesia,  đứng sau lưng họ là Washington.  Còn nước theo XHCN thì thế nào?

“Khối XHCN” giống như một Thái Dương Hệ, trong đó các hành tinh/vệ tinh chịu sự chi phối của mặt trời đứng làm trung tâm.  Trước khi Liên Xô tan rã, mặt trời này là Moscow; và tất cả các nước XHCN đều phải nghe theo chỉ thị của Moscow; khi có kế hoạch gì thì phải xin chỉ thị và làm xong phải báo cáo.  Stalin không rành vấn đề Á Châu nên giao hết chuyện Việt Nam cho đảng CS Trung Quốc trông nom.  Quan hệ XHCN giữa VN và Trung Quốc bắt đầu từ việc Stalin “khoán” cho Bắc Kinh như vừa nói.  Các nước ASEAN khác không ai có cái “duyên nợ ba sinh” rắc rối đó.

Năm 1989, Liên Xô bỗng dưng ‘sụp’.  Hà Nội lo lắng, bèn chạy qua Trung Quốc ký Hiệp Ước Thành Đô (1990), xác nhận vai trò của “mặt trời” mới.  Cho nên có muốn bỏ lộ tuyến XHCN cũng không dễ, mặc dù nó “đã bị lịch sử loại bỏ”.  Ông Nguyễn Thanh Giang bảo ngay:  “họ biết nếu bỏ là tự sát”.

Vậy để “cải cách thể chế”, phải bắt đầu từ chỗ nào?

Trước khi rời lãnh vực này, tưởng cũng nên ghi nhận sự tích cực của anh Sính:  Anh đã nhất quán trong việc chứng minh điều cần thiết của độc lập và tiến bộ xã hội qua chủ trương “tự lực, dân trí, dân khí ” của cụ Phan Chu Trinh ngày trước và đưa đề nghị ngày nay cần cải cách thể chế chính trị, tôn trọng công bằng, tự do, chú trọng giáo dục, y tế, vv…

Người xưa có nói:  “Bảo cặp núi Thái Sơn nhảy qua Bắc Hải mà nói không làm được thì không làm được thật.  Nhưng lấy cành hoa đưa người khác mà bảo không làm được thì tại không muốn làm”.  Mở mang dân trí và nâng cao dân khí có phải như mang núi qua biển đâu.

Riêng về vấn đề tìm được sự thân thiện với  nước Mỹ qua việc phải có dân chủ và tự do, phải chăng anh muốn nói đến sự ủng hộ của quần chúng nhân dân Mỹ?   Vì trong quần chúng nhân dân Mỹ luôn luôn có những người yêu chuộng tự do, công bằng, chính nghĩa; và họ có thể giúp đỡ ta.  Dĩ nhiên cái gì cũng có giá của nó:  Họ sẽ đòi hỏi thấy được tự do thực sự cho người dân Việt – Không được đàn áp người yêu nước, yêu lẽ phải; không được chiếm nhà chiếm đất của dân, vv…

Vào cuối năm 1979, anh Sính (đang ở Canada) nghe tin tôi về Sài Gòn thăm ông thân sinh của tôi sau trên 30 năm xa cách.  Anh nhờ tôi hỏi thăm tin tức của ba anh, vì bác ấy cũng bị bắt cùng lúc với ông thân sinh tôi (1946).  Anh dặn thêm là trường hợp đã mất thì cho biết ngày nào để gia đình anh cúng giỗ.   Tôi còn nhớ được lời thư anh viết:

Ba mình không làm chính trị, họ không thích ba mình chỉ vì ông là người hoàng phái, lại không ủng hộ họ.  Gia đình mình bảo họ bắt ông chỉ vì mấy câu thơ ông làm:  “Nước yếu mà mình mạnh được sao.  Thi đua chi mãi cái phong trào …”

Khi trở lại Tokyo, tôi đắn đo nhiều khi cầm bút viết cho anh (đại ý):

Ông thân của tiểu đệ kể thế này:  Thưở ấy, trong trại giam (ở Huế) rất đông, nghe bảo là đến mấy trăm người, toàn là tù chính trị.  Khi có tin quân Pháp sắp đổ bộ lên Huế thì người ta không muốn để tù chính trị trở về vì cho là có hại.  Cho nên quyết định là phải di chuyển tất cả, càng xa càng tốt. 

Nhưng sức chuyên chở thì nhắm chỉ được cho phân nửa thôi.  Họ bèn chia mọi người ra làm hai nhóm, bảo mỗi cá nhân tự chọn nhóm của mình và đứng dọc theo hai bên của một con đường mòn.

Ông thân của đệ đang đi (để nhập vô 1 trong hai nhóm) thì vấp phải một cái gì đó ngã xuống đất rất mạnh.  Một anh còn trẻ cầm súng gác thấy thế thương tình, đến đỡ lên rồi chỉ tay vô một nhóm và nói nho nhỏ:  “Chú đi qua nhập vào nhóm bên đó!”.

Người trong nhóm này sau đó được chất “cá mòi” lên nhiều xe to chở đi.  Xe chuyển bánh không bao lâu thì nghe phía sau lưng có tiếng súng bắn liên tục, biết là nhóm ở lại đã mắc nạn.

Sau khi lên tới chỗ mới, không còn bao giờ thấy bác trai nữa …  Lâu quá rồi nên cũng không thể nhớ được hôm đó là ngày nào.

Bây giờ anh Sính đã ra đi vĩnh viễn.  Cầu nguyện gì cho anh ư?  Làm sao cầu nguyện được, nào bao giờ tôi tin có thần linh!  Anh đã sống một cuộc đời với tấm lòng tốt, theo nhân quả thì anh sẽ được nhiều tốt đẹp, lọ phải cầu gì cho anh!

Nếu có thế giới bên kia, tôi nghĩ, giờ này chúa Tiên Nguyễn Hoàng đang vui mừng để đón một người hậu duệ như anh.  Có lẽ trước khi về luôn “bên đó”, thế nào anh cũng ghé tạt qua thăm xứ Huế của những ngày ấu thơ một lần nữa.  Giòng sông Hương vẫn xanh, vẫn đẹp, phải không anh?

Và rồi sau đó anh lại sẽ đi, như thưở trước anh đã đi xa Huế.  Nhưng tôi chắc trong lòng anh, cũng như trong lòng tôi, trong lòng những đứa con trai xứ Huế chúng ta, vẫn nhớ mãi câu hò trên giòng sông xanh xứ Huế, vì nó đúc kết lên những tâm tình “rất Huế” trong tâm khảm chúng mình:

Chợ Đông Ba phá ra làm lại

Cầu Tràng Tiền đúc lại xi-mon (xi măng)

Ới người lỡ hội chồng con

Về đây gá nghĩa vuông tròn với ta

 

Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ

Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn

Mình em đứng giữa sông Hương

Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe!

Văn Lang Tôn Thất Phương (01-2014)

  • VIẾT THÊM:  Tinh thần và hoạt động của phong trào yêu nước Phan Bội Châu cần được nhìn trên nhiều khía cạnh. Ở đây anh Vĩnh Sính chỉ đưa ra điểm “biết ta, không biết người” của phong trào mà thôi.  Thực ra phong trào là một tiến trình dọ dẫm:    Đi tìm vũ khí, rồi lập thể chế quân chủ, rồi đổi ra dân quốc …  và không khư khư “theo 1 con đường duy nhất”.  Cụ Phan chủ trương bạo động, nhưng không phải là “chiến đến cùng” bất kể gì cả mà đúng ra là tìm đủ phương tiện, đúng như cụ Đặng Thái Thân (cánh tay mặt của cụ Phan) đã nói:  “hoặc đánh bằng não, hoặc đánh bằng bút, lăm lăm chực đánh bằng kiếm, những mong sao … rạng rỡ họ da vàng”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s