BS NGUYỄN ANH HUY – VỀ NHỮNG ĐỒNG TIỀN THIÊN CẢM CỦA LÝ THÁI TÔNG

Hai chữ "Càn vương" viết quá rõ ràng không kỵ húy nên là tiền sau này đúc !, không phải là tiền thời Lý.
Hai chữ “Càn vương” viết quá rõ ràng không kỵ húy nên là tiền sau này đúc !, không phải là tiền thời Lý.

Sau khi tôi xin xem hình ảnh đồng tiền “天 感 元 寶 (Thiên Cảm nguyên bảo)” mặt lưng có hai chữ “Càn vương”, một ngày sau, ông Đào Phi Long, một nhà sưu tập tiền cổ nổi tiếng ở Hà Nội, chủ nhân của đồng tiền trên, hỏi tôi: “- Anh Huy đã phân loại các đồng tiền Thiên Cảm nguyên bảo – Càn vương chưa ?, mà sao dạo này thấy xuất hiện nhiều quá !”. Thật ra, tôi xin xem đồng tiền của anh ta, cũng vì lý do như vậy !

Và trước đó, còn có nhiều người nhờ tôi xem một số đồng khác nữa ! Đây là một đồng tiền được cho là của Lý Thái Tông, thuộc loại quý hiếm; các đại gia muốn biểu hiện đẳng cấp của bộ sưu tập nên đã bỏ hàng cây vàng để mua, từ đó sinh ra nạn tiền giả !

Vị vua này lên ngôi năm 1028 và lấy các niên hiệu sau:

– Thiên Thành (1028-1033),

– Thông Thụy (1034-1038),

– Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041),

– Minh Đạo (1042-1043),

– Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1048),

– Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054).

Liên quan đến tên hiệu Thiên Cảm và Càn Vương, ta được biết thêm: “Ất Hợi, Thông Thụy năm thứ 2 [1035]… Mùa thu, tháng 7, lập người thiếp yêu (không rõ tên) làm Thiên Cảm hoàng hậu, phong hoàng tử Nhật Trung làm Phụng Càn Vương, các hoàng tử khác đều phong hầu”(1). Và rồi đến: “Giáp Thân, Minh Đạo năm thứ 3 [1044]… Mùa đông, tháng 11… Bề tôi xin đổi niên hiệu là Thiên Cảm Thánh Vũ… Vua y theo…”(2).

Chúng ta chưa rõ sự thật tại sao niên hiệu của vua lại có chữ trùng hợp với hiệu của hoàng hậu sủng ái là “Thiên Cảm”, và còn một chuyện khác nữa lại xuất hiện trên lưng một đồng tiền mà tôi chỉ mới nói lướt qua vài dòng(3), nay nhân trong giới sưu tập rộ lên những băn khoăn, nên tôi muốn bàn sâu thêm…

*

         Vị vua này có hai niên hiệu liền nhau là Minh Đạo và Thiên Cảm, và phần lớn các nhà nghiên cứu đều chấp nhận vua đều có đúc tiền theo hai niên hiệu này, mà đồng tiền Minh Đạo thì chính sử gia Phan Huy Chú cho biết: “Lý Thái Tông, năm Minh Đạo thứ nhất (1042) đúc tiền Minh Đạo. Năm thứ hai (1043) lại đúc tiền Minh Đạo ban cho các quan văn võ”(4); ai cũng công nhận điều này cả, nên ta bắt đầu lấy đồng tiền Minh Đạo làm chuẩn để phân tích !

Tiền "Minh Đạo nguyên bảo" của Lý Thái Tông.
Tiền “Minh Đạo nguyên bảo” của Lý Thái Tông.

Nhà sưu tập Đào Phi Long có cho tôi hình ảnh đồng tiền “Thiên Cảm nguyên bảo – Càn vương”. Chữ “Càn” trên đồng tiền này đã mòn mờ không rõ, nhưng chuyện này không quan trọng lắm, vì trên mình nó còn mang những chứng cứ khác mà tôi rất thích:

– Nhiều người cho rằng gỉ trên đồng tiền của ông Đào là gỉ thật đã mấy trăm năm !, tôi cũng công nhận đều này đúng theo kinh nghiệm của người sưu tập, nhưng về mặt chứng lý thì chưa thể chứng minh được điều gì rõ ràng; vì mức độ gỉ không hề phụ thuộc vào thời gian lưu hành mà phụ thuộc vào môi trường chôn cất, do đó chỉ có giá trị tham khảo chứ không có giá trị quyết định cho sự giám định. Điều mà tôi muốn nói là đồng Thiên Cảm của ông ấy có vài đặc điểm của tiền Minh Đạo chuẩn thời Lý…

– Chữ “nguyên” của đồng tiền ông Đào hoàn toàn giống chữ “nguyên” trong tiền Minh Đạo.

– Vành đồng tiền Minh Đạo thời Lý hẹp, mà vành đồng tiền Thiên Cảm của ông Đào cũng hẹp chứ không rộng như những đồng Thiên Cảm khác mà tôi sẽ trình bày thêm ở phần sau.

Và chúng ta nên lưu ý rằng cả hai đồng tiền Minh Đạo và Thiên Cảm đều do một vị vua đúc trong một thời gian liên tục nhau rất ngắn, nên có thể do cùng lò, cùng một người thợ làm, cùng một đặc điểm và cùng một chữ viết… Mà nếu có sự sai lệch thì độ sai lệch không thể lớn quá !

Tiền “Thiên Cảm nguyên bảo” mặt lưng có chữ “Càn / Yết (?) vương. Sưu tập của Đào Phi Long (Hà Nội).
Tiền "Thiên Cảm nguyên bảo" mặt lưng có chữ "Càn / Yết (?) vương. Sưu tập của Đào Phi Long (Hà Nội).
Tiền “Thiên Cảm nguyên bảo” mặt lưng có chữ “Càn / Yết (?) vương. Sưu tập của Đào Phi Long (Hà Nội).

Như vậy, đồng tiền của ông Đào, tôi không giám định là tiền thật hay tiền giả, nhưng về mặt lý luận thì có thể chấp nhận được !

*

         Nhà sưu tập tiền cổ Bùi Tiến Đạt ở Huế, cũng say mê nghiên cứu tiền tệ, đã góp ý với tôi rằng cần đối chiếu thêm với đồng tiền Thiên Cảm lưng không có chữ để phân tích so sánh thêm các đặc điểm !

Tôi rất cảm ơn ý kiến của ông ấy, nhưng thật lòng mà nói, từ khi thấy đồng tiền của ông Đào Phi Long và những đồng tiền mới xuất hiện, tôi không còn biết đâu là thật giả ! Ngay cả một số hình ảnh trong sách của tôi, tương lai cũng sẽ được bình luận thêm, vì còn nhiều dư luận, mà trong bài viết giới thiệu quyển sách của tôi, ông Bùi Tiến Đạt cũng cho biết: có một vài hiện vật tác giả đưa ra hiện đang còn tồn nghi từ phía các nhà sưu tầm, cần được tìm hiểu sâu hơn” !

Tìm hiểu lại, ta được biết, theo Hong Zun (洪遵 / Hồng Tuân: 1120-1174), một nhà tiền tệ học thời Đại Tống, trong “泉志 (Tuyền chí)”, cho biết đã thấy 2 loại tiền “Thiên Cảm nguyên bảo” to và nhỏ, nghi do nước ngoài đúc, không rõ nơi đúc(5). Tuy nhiên hình vẽ(6) kèm theo cho thấy vành đồng tiền cả 2 loại đều hẹp, và theo mô tả cũng như hình ảnh, tuyệt nhiên không hề nói đến mặt lưng có chữ “Càn vương” ! Tôi cho rằng, tuy chỉ là các hình vẽ, chúng không có giá trị quyết định khoa học, nhưng cũng có giá trị tham khảo để biện luận các khả năng có thể xảy ra; chứ không phải như một số nhà nghiên cứu, với quan điểm “phủ định sạch trơn”, cho rằng chỉ là hình vẽ nên không có giá trị tham khảo ! Còn Hong Zun cho rằng không rõ nơi đúc, nghi do nước ngoài đúc tức không phải do nước Đại Tống thời đó đúc, mà “nước ngoài” thì có thể hiểu là các nước lân cận, trong đó có Đại Việt.

Điều đáng lưu ý ở là tiền Thiên Cảm lưng không có chữ theo mô tả ở đây lại có viền hẹp, có vẻ giống như kiểu mặt trước đồng tiền của ông Đào Phi Long, trong khi chúng ta vẫn thường thấy các đồng tiền hiệu này thường viền rất rộng như kiểu tiền thế kỷ XVIII.

Vậy thì phải căn cứ vào đâu để biết rằng có đồng tiền Thiên Cảm lưng không có chữ nào là tiền thật của Lý Thái Tông ? Do vậy, nhân đây, tôi xin rút hình ảnh đồng tiền Thiên Cảm lưng không có chữ trong các sách của tôi đã xuất bản, xem như tôi đã giám định sai, tính từ thời điểm này xem như không có hình đồng tiền đó, và chờ tìm hiểu thêm…

Vấn đề này, tôi rất mong các nhà sưu tập – nghiên cứu tiền cổ tiếp tục cho thêm ý kiến, tôi rất cảm ơn !

*

Và cũng chính vì sự ghi chép của Hong Zun không hề có tiền có chữ “Càn vương”, nên các chuyên gia tiền cổ của bảo tàng Việt Nam đã bình luận rằng: “tiền Thiên Cảm Nguyên Bảo… loại mỏng nhỏ và loại tiền mặt lưng có chữ “Càn Vương” hiện còn nhiều điểm tồn nghi vì thiếu những yếu tố đặc trưng của loại tiền thời Lý”(7). Tôi cũng đồng ý với nhận xét này.

Tuy nhiên, trong bản thảo của Đinh Phúc Bảo in năm 1940, đã thấy có hình tiền Thiên Cảm nguyên bảo – Càn vương(8) có viền rộng.

Có thể thời đó Hong Zun chưa thấy loại tiền này vì quá hiếm, nhưng cũng có thể Lý Thái Tông không hề có đúc tiền này, mà do người thời sau này “sáng tác” ra !

Nói đến những đồng tiền Thiên Cảm – Càn vương thường thấy hiện nay, viền đồng tiền thường rộng, nét chữ mảnh như đặc điểm của tiền thế kỷ XVIII. Nhiều tay buôn cứ “đường mật” với tôi rằng chính tay họ đập ra từ các om tiền thời Lý, nhưng nhìn qua, đủ biết tiền giả mới đúc; và nếu người nào có kiến thức về thư pháp, sẽ cảm nhận ra ngay đây là nét viết của người đời nay, chứ không thể là nét chữ của người xưa ! Điều này chỉ là cảm tính, nhưng thuộc về kỹ năng giám định riêng của nhà sưu tập; đó là chưa kể nói đến việc cách viết chữ “Càn”…

Như đã từng nói lướt qua trong sách của tôi rằng hai chữ Hán trên lưng đồng tiền là “軋 王 (Yết Vương)” chứ không phải là “乾 王 (Càn vương)”, nhưng vẫn phải đọc là “Càn vương” là vì…

Năm 2009, nhân vụ tranh luận về quốc hiệu “Đại Cồ Việt”(9), tình cờ tôi được quen vị chuyên gia đầu ngành Ngôn ngữ học Việt Nam là GS Nguyễn Tài Cẩn sống ở Nga. Sau nhiều lần thảo luận Hán Nôm, bài nào mới viết, giáo sư cũng gởi cho tôi xem trước khi đăng, trong đó tôi đặc biệt lưu ý hai bài có liên quan đến kỵ húy chữ “Càn” trong tước hiệu của Phụng Càn vương Lý Nhật Trung. Hai bài viết theo thứ tự là:

– Bài 1: “Chữ Nôm đã hiện diện trong thời kỳ dời Quốc đô ra Thăng Long”(10).

– Bài 2: Việc kiêng húy tước hiệu của Phụng Càn Vương đầu đời Lý”(11).

Trước đây, GS.TS Ngô Đức Thọ(12) ở Viện Hán Nôm Việt Nam và GS.TS Lê Mạnh Thát(13) ở Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam đã cho rằng thời Trần, chữ “Càn” là chữ kỵ húy nên đã viết thành chữ “Yết”; nên tước hiệu của “Phụng Càn vương” trong một số tài liệu cổ đã được viết thành “Phụng Yết vương”.

Nhưng trong hai bài kể trên, dựa vào sự nghiên cứu lịch sử phát triển ngữ âm và lịch sử phát triển chữ Nôm…, GS Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh đầu thời Lý, chữ “Càn” là chữ kỵ húy nên đã viết thành chữ “Yết”. Điều này làm tôi đặc biệt quan tâm vì ở lưng đồng tiền của Lý Thái Tông cũng có ghi tước hiệu của Phụng Càn vương !

Như chúng ta đã biết một số đồng tiền từ thế kỷ VII đến nửa đầu thế kỷ XII của khối đồng văn có chữ “Càn” như đồng “乾元重寶 (Càn Nguyên trọng bảo)”, “乾封泉寶 (Càn Phong tuyền bảo)”, “乾德元寶  (Càn Đức nguyên bảo)”, “乾德元寶  (Càn Đức nguyên bảo)”, “乾亨通寶 (Càn Hanh thông bảo)”, 乾亨重寶 (Càn Hanh trọng bảo)”, “乾統元寶  (Càn Thống nguyên bảo)”, “乾統通寶  (Càn Thống thông bảo)”… thì trong chữ “Càn”, bộ “khất” không viết là “乞 (khất)” mà viết theo kiểu chỉ một nét móc câu như phần bên phải của chữ “軋 (Yết)”. Và bắt đầu nửa sau thế kỷ XII, trên các đồng tiền mới thấy chữ “Càn” có bộ “khất” không viết là “乞 (khất)” ! Cho nên Tiến sĩ Allan Barker đã thiếu suy xét khi giám định đồng tiền “Càn Phù nguyên bảo” có bộ “khất” viết là “乞 (khất)” vào thời Lý Thái Tông(14) !

Nếu ghép nửa bên trái chữ “乾 (Càn)” và nửa bên phải của chữ “軋 (Yết)” thì sẽ tạo ra chữ “Càn” viết theo lối cổ mà ta hay thấy trên các đồng tiền như đã nói trên.

Vậy thì chữ “Yết” viết thay từ chữ Càn theo lối cổ ấy, theo GS Nguyễn Tài Cẩn thật ra là một chữ “Càn” ở dạng đã cố ý kị húy của đầu đời Lý” ! Như vậy, có thể hiểu thời Lý, tước hiệu của Lý Nhật Trung là Phụng Càn vương đã được viết là Phụng Yết vương !

         GS Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Định niên đại của chữ  húy CÀN như vậy, theo ý chúng tôi, cũng là gợi lên hướng xác định niên đại của toàn bộ bộ kinh. Có chữ CÀN kị húy tức là có việc dịch kinh, việc in kinh. Chữ CÀN đã gắn với khoảng đầu thế kỉ 11 thì toàn bộ bản kinh cũng vậy. Đây phải  là một bản kinh cổ, cơ bản dịch đầu đời Lý, mang phong cách từ ngữ và văn tự của đầu đời Lý, kể cả phong cách kị húy… 

         Nói sư đời Lý  cũng dễ hiểu. Họ Lý xuất thân từ cửa Phật. Họ đã cử người  đi thỉnh kinh Tam Tạng (1020), đã xây chùa (1024), tổ chức việc chép kinh (1027), đúc quả chuông vạn cân (1033), đã dựng kho Trùng Hưng để chứa kinh (1034) thì chắc chắn họ cũng rất quan tâm đến cả việc dịch kinh.

    Có thể giả thuyết, năm 1035, khi hoàng tử Lý Nhật Trung được phong tước PHỤNG CÀN VƯƠNG, ông đã được giao cho tổ chức việc dịch kinh, in kinh, nên các nhà sư kính nể, đã đưa chữ CÀN của ông vào kị húy trong bản kinh”(15).

Với cùng một cách suy nghĩ, một nhà nghiên cứu có bút hiệu là Tiencovietnam đã bình luận rất thú vị:

Nhật Trung được phong “Càn Vương” năm 1035, nhưng tại sao mãi đến năm 1044 mới được xuất hiện trên đồng “Thiên Cảm – Càn Vương”? Tại sao không xuất hiện đồng Minh Đạo – Càn Vương (1042-1044), là loại tiền được tìm thấy khá nhiều và được coi là thời Lý… Phải chăng, do quá “yêu vợ” nên vua đặt tên Hoàng hậu của mình là “Thiên Cảm”, sau đó 9 năm lại lấy Thiên Cảm (tên vợ) làm niên hiệu, một việc vô tiền khoáng hậu?

         Theo tôi, có lẽ cả 2 loại Thiên Cảm và Thiên Cảm – Càn Vương đều được đúc vào thời kỳ năm 1035… Vì năm đó đều diễn ra 2 sự kiện lớn được sử ghi lại. Hơn nữa, 2 đồng này rất giống nhau, tức là có thể sẽ được đúc đồng thời. Còn đến năm 1044 khi mang niên hiệu Thiên Cảm, thì chưa chắc đã đúc tiền Thiên Cảm, hoặc nếu có thì chỉ đúc Thiên Cảm lưng trơn mà thôi…

         Như vậy, kết luận của tôi về đồng tiền Thiên Cảm và Thiên Cảm – Càn Vương như sau: Cả 2 đều được đúc vào năm 1035 , vào niên hiệu Thông Thụy của vua Lý Thái Tông. Đồng tiền Thiên Cảm – Càn Vương là đồng tiền kỷ niệm sự kiện với 2 nhân vật chính là Thiên Cảm hoàng hậu (Mẹ) và Lý Nhật Trung – Phụng Càn Vương (Con)”(16).

Tuy nhiên, có một vấn đề phơi bày ra là…

Nếu đồng tiền Thiên Cảm – Càn Vương đúc năm 1035 như Tiencovietnam “kết luận” cũng trùng với giả thuyết của GS Cẩn là việc kỵ húy chữ “Càn” bắt đầu từ năm 1035, thì lại mâu thuẫn với việc Lý Thái Tông lấy niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo vào năm 1039 đến năm 1041! Đã kỵ húy rồi thì làm sao mà dùng để đặt niên hiệu được nữa !, vì niên hiệu này được dùng để ban bố khắp dân gian sử dụng để tính lịch đại, tức ai cũng có quyền viết chữ đó cả !

Vậy thì việc kỵ húy đó phải xảy ra từ sau năm 1042, tức là chúng ta có thể xác lập khi vua lấy niên hiệu dùng tên “Thiên Cảm” của nàng hoàng hậu sủng ái từ năm 1044, và khi đó vị thế của người con là Phụng Càn vương được tăng thêm lên, mới bắt đầu xảy ra sự kỵ húy !

*

Như vậy, có thể từ năm 1044 đã bắt đầu xảy ra kỵ húy chữ “乾 (càn)” và được thay bằng chữ “軋 (yết)”. Một khi chữ viết dạng kỵ húy, tức do triều đình quy định !, vậy thì đồng tiền cũng do triều đình đúc, tất nhiên chữ “Càn” trên đồng tiền cũng dạng kỵ húy viết thành “Yết vương” chứ không thể là “Càn vương” được !

Và vì thế, nếu các đồng tiền Thiên Cảm mặt lưng mà viết đúng chữ “Càn vương”, tức viết sai so với nguyên gốc thời Lý, chắc chắn là tiền đời sau đúc lại, có thể là tiền phỏng đúc, mà cũng có thể là tiền giả mới đúc, chứ không phải tiền thời Lý Thái Tông !

Hai chữ "Càn vương" viết quá rõ ràng không kỵ húy nên là tiền sau này đúc !, không phải là tiền thời Lý.
Hai chữ “Càn vương” viết quá rõ ràng không kỵ húy nên là tiền sau này đúc !, không phải là tiền thời Lý.

Chắc chắn các lò làm tiền giả chưa biết chuyện kỵ húy này nên đã làm những đồng tiền giả bị sai !, và đã càng cố đúc giả làm rõ chữ “Càn vương” cho đẹp để bán cho càng thêm mắc tiền !

 

Một số hình tiền "Thiên Cảm nguyên bảo" lưu hành trên internet, lưng có hai chữ "Càn vương" (chứ không phải "Yết vương"), nên là tiền thời sau đúc chứ không phải tiền thời Lý.
Một số hình tiền “Thiên Cảm nguyên bảo” lưu hành trên internet, lưng có hai chữ “Càn vương” (chứ không phải “Yết vương”), nên là tiền thời sau đúc chứ không phải tiền thời Lý.

Tuy nhiên, tôi đã tâm sự với ông Bùi Tiến Đạt: “- Đồng tiền của anh Đào Phi Long, chữ Càn bị chập chập nát nát, không rõ là chữ gì, rứa mà khỏe !, chứ nếu họ càng làm rõ chữ CÀN đẹp bao nhiêu, thì lại càng lòi ra cái giả tạo bấy nhiêu !” !!!

Nói tóm lại, Lý Thái Tông quả là có đúc 2 loại tiền “Thiên Cảm nguyên bảo” như sự ghi nhận của Hong Zun, nhưng hiện vật thật như thế nào ?, có đặc điểm gì ?, mặt lưng có chữ không ?,… riêng tôi, chưa có nhận định nào cụ thể !, vẫn còn chờ tiếp tục đào sâu…

 

Huế, tiết Đại Tuyết năm 2013.

Nguyễn Anh Huy

 

         Chú thích:

(1) Ngô Sĩ Liên (Ngô Đức Thọ dịch). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1993, Tập 1. Trang 257.

(2) Ngô Sĩ Liên. Sách đã dẫn. Trang 267.

(3) Nguyễn Anh Huy. Lịch Sử Tiền Tệ Việt Nam: Sơ Truy & Lược Khảo. Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. 2013. Trang 85-91.

(4) Phan Huy Chú (Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam dịch). Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1993. Tập 2. Trang 239.

(5) Xem: 丁 福 保 .古 錢 大 辭 典  (Đinh Phúc Bảo. Cổ tiền đại từ điển). Trung Hoa thư cục. 1982. Quyển hạ. Trang 130.

(6) 丁 福 保 .古 錢 大 辭 典 . Quyển thượng. Trang 206.

(7) Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam. Tiền Kim Loại Việt Nam. Hà Nôi. 2005. Trang 17-18.

(8) 丁 福 保 .古 錢 學 綱 要 (Đinh Phúc Bảo. Cổ tiền học cương yếu). Thượng Hải. 1940. Trang 134.

(9) Nguyễn Anh Huy. “Quốc hiệu Việt Nam thời Đinh Tiên Hoàng: “Cồ Việt” chứ không phải “Đại Cồ Việt”. Tạp chí Huế Xưa và Nay. Số 92 (tháng 3-4/2009).

(10) Nguyễn Tài Cẩn. “Chữ Nôm đã hiện diện trong thời kỳ dời Quốc đô ra Thăng Long”. Văn hóa Nghệ An. Ngày 18 thàng 6 năm 2010.

(11) Nguyễn Tài Cẩn. “Việc kiêng húy tước hiệu của Phụng Càn Vương đầu đời Lý”. Diễn đàn Hồn Việt.

(12) Ngô Đức Thọ. Chữ Húy Việt Nam Qua Các Triều Đại. Nhà xuất bản Văn Hóa. Hà Nội. 1997. Trang 49-50.

(13) Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 2006. Tập 3. Trang 332.

(14) Allan Barker. The historical cash coins of  Vietnam. Singapore. 2004.

(15) Nguyễn Tài Cẩn. Bài 1.

(16) Tiencovietnam. “Tản mạn về Thuận Thiên Đại Bảo và Thiên Cảm Càn Vương”. Diễn đàn Viet-numis.com. Ngày 08/01/2012.

 

 

 

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s