Trần Viết Điền – ĐẠI CỒ VIỆT VỚI NHỮNG MÙA XUÂN QUỐC THỂ BỪNG SÁNG

Cho con biển rộng sông dài/Cho con lưỡi kiếm đã mài ngàn năm” (Trần Quang Long )

Tượng Lê Đại Hành ở Hoa Lư   (ng.G)
Tượng Lê Đại Hành ở Hoa Lư (ng.G)

Đinh Tiên Hoàng  tạo dựng Đại Cồ Việt trên một đất nước hoang tàn, đổ nát, chia rẽ tột cùng vào  thời  loạn “Thập nhị sứ quân”.Võ công của nhà vua thì rất tuyệt vời, thu giang san về một mối nhưng việc  tề gia của vua còn hạn chế; chỉ vì yêu con nhỏ Hạng Lang mà bỏ con trưởng Đinh Liễn, mất cảnh giác với  những âm mưu bè phái của vài  bà hoàng hậu trong nội cung đã dẫn đến bi kịch : anh giết em, tôi giết vua, các đại thần giết hại lẫn nhau; dẫn đến nội bộ Đại Cồ Việt  mất đoàn kết trầm trọng. Phong kiến phương Bắc, phong kiến phương Nam như hổ rình hươu, như beo rình nai, chờ sơ hở của Đại Cồ Việt để xâm lược, cướp phá, thậm chí muốn xóa Đại Cồ Việt để nhập vào đồ bản của họ. May thay, Đại Cồ Việt còn quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người trẻ có thực tài, tạo sự nghiệp do “vượt lên chính mình”, biết  quyền biến khi  đất nước đang lâm nguy thực sự, được lòng dân, sớm lên ngôi hoàng đế để gánh vác  việc giữ nước, lái con thuyền đất nước khỏi  lao vào vùng xoáy “Bắc thuộc”. Hoàng đế Đại Cồ Việt không ngự nhiều  trên ngai rồng để sai khiến quần thần, ngài luôn trên mình ngựa đánh bắc dẹp nam, bình tây, trị đông, không câu nệ, không cố chấp, tập họp quanh ngài những nhân tài thực sự, làm việc hết mình, nhằm  giữ vững nền độc lập của đất nước,  mới thoát khỏi  gông cùm Bắc thuộc nghiệt ngã trên dưới ngàn năm. Không những giữ vững sơn hà xã tắc,  Đại Hành  hoàng đế  còn từng bước làm cho Đại Cồ Việt có  những mùa xuân bừng sáng  quốc thể, làm gương cho hậu thế ngàn năm sau.

Đền thờ vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư (ng.G)
Đền thờ vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư (ng.G)

Lê Đại Hành  không bao giờ nguôi những lời dụ của  Tống Thái Tông, mang  tính kiêu ngạo của nước lớn, coi khinh nước Việt.  Vì thế Lê Đại Hành luôn  ôm  một nổi niềm; rằng làm sao trên mọi mặt quân sự, nội trị, ngoại giao đều chứng tỏ đất nước Đại Cồ Việt có quốc thể, có văn hiến và giàu mạnh vật chất lẫn tinh thần. Thật vậy, dụ của Tống Thái Tông gửi qua Đại Cồ Việt năm Mậu Dần[980], do tay “diều hâu ngạo mạn” Vương Võ Xứng  chấp bút, đầy những nội dung khinh miệt Đại Cồ Việt và đe dọa gắt gao:

“ …Trung quốc đối với các nước mọi rợ, cũng như thân thể đối với tay chân; khi vận động co vào, duỗi ra, tùy lòng người ta , cho nên quả tim là ngôi của Đế Vương…

…vì khanh không chịu nội phụ, gây ra một sự không hay, khiến cho ta buộc lòng chinh phạt, tiêu diệt tiểu quốc, khi ấy thì dầu ân hận cũng không kịp nữa…khanh có tới mà chịu làm tôi không?…Dân của khanh ngẫng cổ mà bay, thì ta có xe và ngựa, dân của khanh dùng mũi mà uống thì ta có rượu thịt, để bỏ tục mọi rợ của khanh; dân khanh cắt tóc thì ta có áo mũ, dân khanh nói líu lo như chim, thì ta có thi thư, để dạy dỗ phong tục cho khanh…”

daicoviet

Vua Bê Mỹ Thuế của Champa, đang ngự trên  ngai vàng của một vương triều cực thịnh ở kinh đô Indrapura (Đồng dương, Thăng Bình, Quảng Nam), rất mộ Phật nhưng chưa diệt được tham sân si! Thật vậy,  năm Kỷ Mão[979] vua Bê Mỹ Thuê, vì lòng tham, sớm nghe lời thuyết của phò mã Việt Ngô Nhật Khánh, kẻ phản bội Đại Cồ Việt, đã tiến hành xâm lược Đại Cồ Viêt khi nước Việt đang lâm cảnh vua Đinh bị ám sát, các đại thần đưa  binh đánh nhau. Ngô Nhật Khánh, cùng huyết thống Ngô vương Quyền, từng là một trong 12 vị sứ quân, được vua Đinh tha tội chết, sớm trở thành  phò mã vua Đinh, anh cùng mẹ khác cha với hoàng thái tử bị giết Hạng Lang, theo  đạo thủy binh Champa gồm  1000 thuyền chiến, do vua Bê Mỹ Thuê trực tiếp chỉ huy, ào ạt  xâm lược Đại Cồ Việt, vào hai cửa biển Đại Ác, Tiểu Khang để tấn công  kinh đô Hoa Lư. Trời đất không dung những kẻ bất nghĩa bất nhân, chỉ qua một đêm, gió bão nổi lên, thuyền giặc bị đắm, phò mã  phản bội Ngô Nhật Khánh phải đền tội, còn vua Champa Bê Mỹ Thuê may thoát chết và hồi kinh trong lòng vẫn còn hậm hực.

Đền thờ Triệu Vũ Vương ở cửa biển Đại Ác(Đại Nha)
Đền thờ Triệu Vũ Vương ở cửa biển Đại Ác(Đại Nha)
  Đền thần ở cửa biển Tiểu Khang (Thần Phù)
Đền thần ở cửa biển Tiểu Khang (Thần Phù)

Tống Thái Tông quá coi thường Đại Cồ Việt nên thua đau:
Hầu Nhân Bảo, em rễ tể tướng Triệu Phổ, bị Tham tri chính sự Đa Lư Tốn lập mưu đưa y coi Ung Châu, Hầu Nhân Bảo  mặc cảm bị lưu đày,  mong muốn làm quan triều… Nhân cơ hội Đại Cồ Việt có nội loạn, Hầu Nhân Bảo  tâng công với Tống Thái Tông, dâng sớ tâu “ hiện  nay chủ súy Giao Châu đã bị hại, trong nước đang loạn, có thể đem một đạo quân nhỏ thừa thời đánh chiếm” và mong về kinh đô để dâng kế. Tống Thái Tông cả mừng liền sai ngựa trạm triệu Bảo  về. Lư Đa Tốn, nắm bắt “lòng dạ” của vua Tống, bàn với nhà vua không cần  triệu Bảo về, sợ bị lộ, nên cử ngay Hầu Nhân Bảo làm Chuyển vận sứ  theo đường tắt qua [Giao Châu] nhận chức, phát quân Kinh Châu, Hồ Nam 30.000 đánh Đại Cồ Việt. Hầu Nhân Bảo, Trần Khâm Tộ, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn, Triệu Phụng Hưng, Quách Quân Biện…,   cầm quân chia hai đường thủy bộ để xâm lược Đại Cồ Việt. Đạo quân bộ  theo ngả Lạng Sơn còn đạo quân thủy thì tiến vào sông Bạch Đằng. Mùa xuân tháng Ba (4-981), quân của Hầu Nhân Bảo đến Ngân Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng.Lê Đại Hành  tự làm tướng,  phát binh  chống quân Tống xâm lược, sai người cắm cọc ngăn sông. Tại sông Bạch Đằng, thủy quân Tống bị quân Đại Cồ Việt chận đánh, Tôn Toàn Hưng còn nỗi ám ảnh của bóng ma Hoằng Tháo, dừng quân hơn 70 ngày, chần chừ không dám tiến. Hầu Nhân Bảo thì háo thắng hơn, tự đem quân tiến theo sông Thương. Khi quân Hầu Nhân Bảo kéo đến Chi Lăng, Lê Đại Hành  giả vờ xin hàng để đánh lừa Hầu Nhân Bảo rồi phục binh đổ ra đánh dữ dội. Số quân địch hơn phân nửa bị tiêu diệt. Lê Đại Hành chém  được Hầu Nhân Bảo giữa sông, bắt sống Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân.Bọn  Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực, Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn cũng vội vàng rút chạy về nước.Lại có quan Hứa Trọng Tuyên, chức Thái Tử Trung Doãn, coi Bắc Hải quân khu và giữ chức Chinh nam Mã bộ quân Chuyển vận sứ, khi biết các đạo quân Tống bị bại ở  Đại Cồ Việt, liền dâng sớ lên Tống Thái Tông xin bãi binh, chưa được vua Tống chấp thuận, Tuyên đã tổ chức cho quân Tống bãi binh trước, phạm tội khi quân nhưng vua Tống lại khen thưởng Hứa Trọng Tuyên. Vua Tống thua đau, phải nuốt hận mà bãi binh, lại chửa thẹn khi viết thư khen ngợi Điển Tịch, viên quan từng dâng sớ can ngăn vua Tống đừng đánh Đại Cồ Việt, nhân thể đổ lỗi cho bọn Hầu Nhân Bảo, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn,Tôn Toàn Hưng…và tất nhiên những tên bại tướng bị chém, trừ Lưu Trừng sợ phát bệnh mà chết. Võ công của vua Lê Đại Hành quả danh bất hư truyền, tạo một bài học lớn lao  cho con cháu đời sau, trong sự nghiệp chống trả xâm lược phương Bắc, phá tận gốc hang ổ  của những kẻ hiếu chiến phương Nam.

 Ải Chi Lăng, ở giữa có khúc sông thương chảy qua, nơi Hầu Nhân Bảo bị Lê Đại Hành chém giữa sông
Ải Chi Lăng, ở giữa có khúc sông thương chảy qua, nơi Hầu Nhân Bảo bị Lê Đại Hành chém giữa sông

Vì tham ác nên Bê Mỹ Thuê bại vong:

Năm Nhâm Ngọ[982],  vua Lê Đại Hành thay vì  đem quân sang Champa rửa hận lại cử các sứ quân Từ Mục, Ngô Tử Canh sang kinh thành Indrapura để giao hiếu, vì “hòa bình và ổn định khu vực”. Bê Mỹ Thuế, đầu têu của cộng đồng hung hãn, không muốn hòa hiếu, lại sinh sự khi bắt sứ Đại Cồ Việt tống ngục. Vua nước Đại Cồ Việt, không thể nhún  nhường được nữa, sai đóng thuyền chiến, sửa binh khí và nhà vua  tự làm tướng, đưa quân đánh thẳng vào kinh thành Indrapura của Champa. Vua Bê Mỹ Thuê bị chém tại trận. Bê Mỹ Thuê từng muốn sang bằng kinh đô Hoa Lư ba năm trước nhưng oái ăm thay kinh đô nước mình lại bị san bằng, tông miếu bị phá hủy và “tự nguyện”  làm giàu cho nước mình muốn hại.

               

Dấu tích kinh đô Indrrapura ở Thăng Bình Quảng Nam
Dấu tích kinh đô Indrrapura ở Thăng Bình Quảng Nam

 

Đại Cồ Việt từng bước củng cố và phát triển:

Để cho các lân bang, nhất là nước Tống,  khỏi coi khinh Đại Cồ Việt,  vua Lê Đại Hành phải lo dân giàu, ngài lo đào kênh, thuận giao thông và tiện thủy lợi, đi lại giao thương trong nước và  tăng sản lượng lương thực. Khi  ăn no thì lo mặc ấm. Kinh thành Hoa Lư là bộ mặt của một nước, vì vậy nhà vua cho xây dựng những cung điện lộng lẫy, cột dát vàng, mái lợp  bạc. Lê Đại Hành cho  dựng  nhiều tháp cao đẹp, trên những ngọn núi quanh kinh đô Hoa Lư, có cắm cờ Đại Cồ Việt, không phải vì xa xỉ mà minh chứng Đại Cồ Việt không phải man di. Chưa kể nhà vua cho dựng những ngôi chùa bề thế, để chứng tỏ Đại Cồ Việt là nước có văn hóa lâu đời.  Những đoàn sứ giả lân bang, có học nhưng đọc những trang sách xuyên tạc nước Việt, đến kinh đô Hoa Lư phải lóa mắt vì sự lộng lẫy của những cung điện ánh kim. Nhân ngày sinh nhật vua Lê Đại Hành vào  rằm tháng 7 năm Ất Dậu[985], nhà vua cho làm núi giả bằng tre ở giữa sông gọi là Nam Sơn, bày lễ vui đua thuyền, có tấu nhạc,… nhân có sứ nhà Tống sang thăm, để cho sứ Tống biết nước Việt có văn hiến, xứ Giao Châu không “mọi rợ”. Năm sau, Bính Tuất[986] sứ Tống là Lý Nhược Chuyết, Lý Giác sang Đại Cồ Việt, nhà vua nhận chế rất kính, lễ thết đãi rất hậu, đặc biệt hàng ngày cho đem những báu vật quí lạ,  bày chật cả sân, để tỏ sự giàu có. Biết Lý Giác là người có văn học, giáo sư đại học [Quốc tử giám bác sĩ], sắp sang Hoa Lư năm Đinh Hợi[987], nhà vua bố trí sư Pháp Thuận giả người coi sông ra đón, thù tiếp thơ văn, làm Lý Giác kinh ngạc, hóa ra Đại Cồ Việt cũng lắm nhân tài, biết thi thư. Lý Giác cảm xúc làm thơ, ca ngợi vua Việt tài ngang với vua Tống. Lại khi tiễn Lý Giác ra về, vua sai Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, cháu nội của Ngô Quyền, làm chế khúc để tiễn Lý Giác, hóa ra Đại Cồ Việt vẫn lắm người văn học,  thi thư có thừa, tầm cỡ thầy dạy các hoàng tử của  Tống Thái Tông! Lý Giác trong thâm tâm chưa quên lời dụ của vua Tống, “dân khanh nói líu lo như chim, thì ta có thi thư, để dạy dỗ phong tục cho khanh…”, đến Đại Cồ Việt mới biết vua quan nước  mình quá ngạo mạn.

Chùa cổ ở Hoa Lư
Chùa cổ ở Hoa Lư

                    

Trụ đá khắc kinh Phật ở Hoa Lư
Trụ đá khắc kinh Phật ở Hoa Lư

 

Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo thời Lê Đaị Hành đúc
Tiền Thiên Phúc Trấn Bảo thời Lê Đaị Hành đúc

Đại Tống có xe cộ thì Đại Cồ Việt có “chiến thuyền”:

                       Năm Canh Dần [990], sau mười năm củng cố và phát triển Đại Cồ Việt độc lập, có chủ quyền, vua Lê Đại Hành lại làm quốc thể sáng bừng với việc ngoại giao thắng lợi. Khoe đất nước giàu,  đẹp, có văn hiến chưa đủ, phải cho nhà Tống thấy thực lực quân sự của Đại Cồ Việt. Làm sao vua Việt quên được lời dụ khinh mạn của vua Tống: “Dân của khanh ngẫng cổ mà bay, thì ta có xe và ngựa, dân của khanh dùng mũi mà uống thì ta có rượu thịt…”. Giống dân mọi rợ, ngẫng cổ mà bay, nghĩa là tất thảy mọi việc đều dùng cơ bắp như loài thú ư ?  Uống bằng mũi, dù có thực ở một số tộc người thiểu số, nhưng lời dụ   ám chỉ  dân Việt là dân đói nghèo ư? Nhân đoàn sứ giả nhà Tống gồm Tả chính ngôn Tông Cảo và Hữu chính ngôn Vương Thế Tắc mang chế sách phong thêm cho Đại Hành hoàng đế hai chữ “Đặc tiến”, thực chất là thừa nhận “Nam quốc sơn hà nam đế cư”, nghĩa là thừa nhận nền độc lập chủ quyền của Đại Cồ Việt. Đại Hành hoàng đế, cho Đô chỉ huy sứ là Đinh Thừa Chính đưa 9 chiến thuyền dẫn 300 quân  đến quân Thái Bình để đón. Địa điểm quân Thái Bình ngày xưa tức Liêm Châu, Quảng Đông ngày nay. Mỗi chiến thuyền chở trung bình 32 người, đi biển dài ngày từ Hoa Lư đến Quảng Đông, trong mùa gió bão,   chứng tỏ Đại Cồ Việt có  “chiến thuyền” từ thế kỷ 10. Vừa tỏ rõ sự trọng thị trong việc tiếp sứ nhưng vừa cho thấy Đại Cồ Việt không “ngẫng cổ mà bay”, thừa  sức đưa “chiến thuyền” vào cửa biển nước Tống! Trọng thị hơn nữa khi đích thân vua Lê Đại Hành ra cửa thành đón sứ, muốn người Tống diện kíến một tống tư lệnh quân đội, trực tiếp chỉ huy những binh đoàn, nhất là thủy quân, cùng những chiến cụ …đang làm cuộc duyệt binh hoành tráng, khí thế ngất trời. Theo nghi lễ “chư hầu”, vua Lê phải lạy chiếu thư của vua Tống  nhưng vua Lê đã chối từ không lạy, lý do “đau chân”. Trong thành Hoa Lư, không có dân chúng chào đoàn sứ giả, chỉ có 3000 cấm binh, trên trán có xâm chữ “Thiên tử quân”, lo mọi việc thết đãi đoàn sứ giả nhưng thực chất là dò xét  mọi động tĩnh của người Tống. Nhà vua chỉ tiếp đoàn ở một điện nhỏ và chỉ cho lên thăm một đài quan sát, vì sợ họ nắm “bí mật mọi ngõ ngách “ của kinh thành Hoa Lư. Bằng chứng Tông Cảo khi trở lại nước Tống, dâng sớ báo cáo vua Tống, cho rằng Đại Cồ Việt tạo tác cung điện thô tháp bằng gỗ, chẳng qua y chỉ được ở nơi bản doanh quân sự mà thôi. Báo cáo của y có đoạn: “Trong thành không thấy cư dân, chỉ có trại lính, chỗ phủ thự của Hoàn cũng thấp thỏi hẹp hòi, trên cửa nhà đề hai chữ “Minh Đức”. Hoàn thọ chiếu không lạy, lấy cớ rằng năm gần đây ra mặt trận đánh giặc bị thương nơi chân vì té ngựa. Qua hôm sau, dọn bàn đãi tiệc tưng bừng, quân lính chầu hầu có 3000 người đều khắc chữ “Thiên tử quân” lên trán…Chỗ Hoàn ở có một tháp bằng gỗ, hình thức vụng về quê kịch, có một hôm, mời tôi cùng lên, nhìn tôi mà hỏi: “Ở triều đình Trung Quốc, có tháp như thế này không?”.  Qua báo cáo của Tông Cảo đủ thấy lần tiếp sứ này, vua Lê Đại Hành không cần khoe của, nhưng cần biểu dương sức mạnh quân sự của Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành  không lạy chiếu thư nghĩa là không sợ nước Tống, lại nhắc khéo chiến công lẫy lừng “phá Tống bình Chiêm” qua việc đau chân do té ngựa. Hoàng đế nước Nam  là “Thiên tử” có 3000 quân bảo vệ, hoàng đế nước Việt là tổng chỉ huy quân đội. Dựng đài cao để  quan sát quân địch chứ không phải làm nơi vọng cảnh….Thết tiệc tưng bừng với nhiều món ngon đặc sản nước Nam, bọn sứ giả lóa mắt bỏ thói coi thường nước Việt là mọi rợ. Vua nước Nam thừa biết nước Tống có những đài cao, nhưng  giả vờ ngây ngô hỏi,  ở Tống có đài như thế này không,  nhằm  gửi đến “nước Tống” thông điệp; rằng Đại Cồ Việt luôn cảnh giác và nếu cần Đại Cồ Việt cũng có thể đưa quân vào nước Tống, liệu mà tử tế với nhau!

Tranh vẽ trận chiến trên sông Bạch Đằng
Tranh vẽ trận chiến trên sông Bạch Đằng

Đại Tống thừa nhận Lê Đại Hành là hoàng đế miền Giao Châu

Sau nhiều năm tiến hành cuộc chiến tranh khi thắng khi bại với Đại Liêu , vua  Tống Thái Tông rất ngại việc chinh chiến. Đến khi Tống Chân Tông[997-1022] kế vị thì vị hoàng đế này rất “nhu nhược” trong việc đối ngoại, thường cầu hòa, ví dụ sẵn sàng ký hòa ước với Đại Liêu để “mua” hòa bình, đi “kèo dưới” khi chấp nhận hằng năm phải “cống” cho Đại Liêu 100.000 lạng bạc, 20.000 thếp vải. Đối với Đại Cồ Việt, nhà Tống từng soạn những   “văn kiện ngoại giao”, vô tình  khẳng định Đại Cồ Việt là một nước có chủ quyền và miền biển Giao Châu, tức Đông Hải, do Nam Bình vương Lê Hoàn quản lý.Vua quan nhà Tống, viết chiếu khi giận Đại Cồ Việt, năm 980, vô tình xác nhận Đại Cồ Việt là một nước có chủ quyền: “Thanh Giáo và oai linh của nước nhà vang khắp cả mọi nơi, gần đây đất Diên Chỉ, chưa sáp nhập vào địa đồ Trung Quốc, chúng ở một phương, gần nơi Ngũ Lĩnh. Từ cuối đời Đường rối loạn, chia xẻ đất đai, rồi chúng làm ra một nước tiếm ngụy, ở xa Thanh Giáo thành ra phong tục như đứa mù đứa điếc. Kịp khi Phiên Ngung đã bình định, mới ban cho Chính Sóc mà tuân hành, tuy đã phục tùng chịu làm phiên thuộc, như cứ tu luyện binh lính, có ý quật cường…” Thanh Giáo của Đại Tống ư? Năm 979 Tống Thái Tông dọa Lê Hoàn bằng giọng phách lối, che giấu cuộc tấn công Nam kinh [của Đại Liêu  nhưng bị đại bại bởi quân Đại Liêu, “ bậc chí tôn” Triệu Quang Nghĩa suýt bị quân Liêu bắt trói. “ Khanh là ngôi sao mờ, không ai biết đến, còn ta là ngôi sao tử vi đế tọa, các sao đều phải chầu bậc chí tôn…Vậy thì khanh phải ra khỏi hòn đảo man di để xem lễ nhạc ở nhà Minh Đường, Bích Ung; bỏ lối ăn mặc đồ cỏ, lá cây…”. Khi ra sức tiến hành cuộc xâm lược, bị Lê Đại Hành đánh bại,  chủ tướng yêu quí của Thái Tông là Hầu Nhân Bảo bị chết chém giữa sông, vua Tông thẹn mà bãi binh, gửi thư phân trần với Điền Tịch: “ Nước Giao Chỉ gần mấy năm nay, xảy ra việc tiếm ngôi cướp nước, tiếp tục không ngừng,…nhà Đinh Triền bị giặc hãm hại, rối loạn không khi nào yên, nhân dân nước ấy, không biết nương tựa vào ai,…ta làm nhân chủ nỡ nào không cứu vãn, nên mới cho đạo quân ở biên quận qua an ủi dân ấy, mà không tham đất đai của họ, nay cho bãi quân rút về”. Thanh Giáo sặc mùi trá mị. Khi Lê Đại Hành nhún mình cho sứ qua cống thì ban  chiếu “ca ngợi” tên giặc họ Lê, năm trước chính vua Tống   cho hằng vạn quân qua để giết chết.  Lời chế phong Lê Hoàn tháng 10 năm 986: “Nay quyền trí Giao Châu Tam Sư Lưu Hậu Lê Hoàn tư chất nghĩa dũng, bẫm tính trung thuần, được lòng quốc dân, kính cẩn giũ lễ phiên thần. Trước đây, Đinh Triền(con Đinh Bộ Lĩnh) đang còn thơ ấu và khờ dại, không biết trị dân, nên Lê Hoàn lấy tư cách thân tín cật ruột, giữ các đạo quân, hiệu lệnh từ trong tay, có ân có oai; họ Đinh tự giải quyền Tam Sứ để tuân theo ý nguyện của mọi người…”. Dân Đại Cồ Việt có ý nguyện Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế để giữ vững nền độc lập của đất nước Viêt, thế nhưng “thanh giáo” của Đại Tống là cho hàng vạn quân qua “an ủi”, khi mới vào đất nước lân bang, đã giết cả 1000 người dân Việt trên sông Bạch Đằng. Thanh Giáo của Đại Tống là thứ thanh giáo của những kẻ cướp giả nhân giả nghĩa vậy!

Đại Cồ Việt hùng cứ phương Nam, quản lý  Đông Hải:

Đại Tống những năm cuối đời Tống Thái Tông và đầu đời Tống Chân Tông rất sợ chinh chiến. Lê Đại Hành coi khinh, “cậy có núi biển hiểm trở, hơi buông thả cho dân biên giới lấn cướp vào cõi nhà Tống”, nhưng nhà Tống cũng đành làm ngơ! Mùa xuân năm Ất Mùi[995], chuyển vận sứ lộ Quảng Tây là Trương Quan, Binh mã giáp áp trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu đều tâu : 100“chiến thuyền” của Đại Cồ Việt đánh trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu, cướp bóc cư dân và lương thực trong kho rồi đi. Trăm “chiến thuyền”, vài ngàn thủy binh, hành quân trên vùng biển Đông, như chỗ không người, chẳng có một “chiến thuyền” nào của Đại Tống cản trở, điều này chứng tỏ vào thế kỷ 10, Đại Tống không có quyền gì ở Biển Đông vậy. Thực ra lúc bấy giờ có bọn giặc biển người Trung Quốc, cướp phá miền duyên hải của Đại Tống, nhà Tống không mạnh về hải quân, đành bó tay, ngó Biển Đông với “thuyền chiến”, thuyền đánh cá của Đại Cồ Việt đi lại như mắc cữi trên Biển Đông, ao nhà của người Việt xứ Giao Châu. Lê Đại Hành, bắt bọn cướp biển khoảng 27 tên, giao trả cho chuyển vận sứ nhà Tống, hàm ý khẳng định chủ quyền Đại Cồ Việt ở biển Đông. Chuyển vận sứ Quảng Tây Trương Quan, hầu như mù tịt tình hình Biển Đông của Đại Cồ Việt, tâng công bằng cách dối vua Tống, cho rằng Tam Sứ Lê Hoàn bị họ Đinh đánh đuổi, đem dư chúng ra ở miền hải đảo, cướp bóc để tự cấp, nay đã chết. Vua Tống xử tội Trương Quan, ông Trương sợ ốm chết, còn Vệ Chiêu Mỹ bị tội chém ở trấn Như Hồng. Biểu mừng Lê Đại Hành đã ra hải đảo ở Biển Đông ở và chết ở đó, tuy dối nhưng chứng tỏ các quan Đại Tống như Trương Quan, Vệ Chiêu Mỹ phải thừa nhận một thực tế là Biển Đông gồm biển và các hải đảo không ai đủ sức quản lý ngoài  vua Lê Đại Hành của nước Đại Cồ Việt.  Sự kiện ngoại giao năm thứ hai đời Tống Chân Tông, là một bằng chứng lịch sử quan trọng, minh chứng  Đại Cồ Việt là một nước có chủ quyền, quản lý Biển Đông với hải quân hùng mạnh, Đại Tống phải nễ vì.

Ảnh chụp một trang Đại Việt sử ký toàn thư, Chép sự kiện ngoại giao năm 996,997
Ảnh chụp một trang Đại Việt sử ký toàn thư, Chép sự kiện ngoại giao năm 996,997

 

Thay lời kết:

Nước mắm Đông Hải “nhỏ” làm nên sự kiện ngoại giao “to” giữa Đại Cồ Việt và Đại Tống năm Đinh Dậu[997]:

                          Từ khi Ngô Vương Quyền mở nền độc lập cho Đại Việt từ năm Kỷ Hợi[939], lấy lại quốc thống Vạn Xuân thời Lý Nam đế, Triệu Vũ vương, Lý Phật tử  [541-602], đến  năm  Đinh Dậu[997], có nhiều đoàn sứ giả Trung Quốc sang sứ nước Việt và cũng có nhiều đoàn sứ giả Việt sang Trung Quốc để ngoại giao. Đồ tuế cống rất có giá trị như voi trắng, hươu trắng, sừng tê, lụa đẹp, trái cây quí, đồ vật khảm ngọc,vàng, bạc,…được biếu các hoàng đế Đường, Tống. Một sự kiện như đùa mà có thật; rằng các quan sứ cùng đoàn tùy tùng thường được nước Việt thết đãi linh đình, với những món đặc sản của miền Giao Châu. Sử không chép nhưng có thể đoán định những đặc sản trân quí, thuộc vào loại bát trân như nem công, chả phụng [chả chim trỉ], đợn voi, môi đười ươi, yến sào, da tê ngưu, tay gấu, gân nai, yến sào…là những thứ có nhiều ở núi, biển miền Giao Châu, tức xứ sở của nước Việt. Tuy nhiên, một món phụ gia không thể thiếu ấy là các món nước chấm được làm từ nước mắm Biển Đông.  Rõ ràng nước mắm Biển Đông là “thành tựu văn hóa” của cư dân duyên hải Biển Đông, tức cư dân Việt. Rõ ràng nước mắm được chế biến từ cá cơm, cá nục,…những loài cá sinh sống với mật độ cao ở Biển Đông, ngư dân Việt hằng ngày ra khơi, thậm chí thủy binh Việt khi rỗi cũng có thể trên những “thuyền chiến”, loại thuyền đi biển với hải trình ngàn dậm, không sợ phong ba bão táp, có thể vào cảng biển trấn Như Hồng thuộc Đại Tống, để “đánh bắt xa bờ” quanh các hải đảo Hoàng Sa-Trường Sa! Điều khôi hài là các vị trong đoàn sứ giả Trung Quốc, quen với món nước mắm Biển Đông, mới mượn cớ vòi thêm món nước mắm, chiều ý các quan sứ vua Việt cũng sẵn lòng huy động dân đóng góp. Khi về nước, chẳng lẽ các quan lại dâng lên vua Tống món ngon nhưng “nặng mùi”, các vị bèn giấu để người thân dùng. Chuyện đến tai vua Tống Chân Tông, rất  giận vì các quan sứ “qua mặt thiên tử”, nhưng không bắt tội bầy tôi vì sợ chê việc làm nhỏ mọn; thế là bỏ lệ cử sứ thần qua kinh đô Đại Cồ Việt, chỉ đến biên giới phia Bắc, cho ngựa trạm báo cho phía Đại Cồ Việt cử quan lên biên giới nhận chiếu dụ. Thực ra, Đại Tống chỉ mượn cớ nhỏ (chuyện nước mắm) để làm việc lớn là “vỗ yên” (thực ra là lấy lòng) Đại Cồ Việt, theo yêu cầu của Nam đế Lê Đại Hành từ năm Canh Dần[990] trong lần đoàn sứ giả Tông Cảo sang Đại Cồ Việt. Tông cảo chứng kiến thực lực quân sự hùng mạnh, với vị vua anh hùng Lê Đại Hành không lạy chiếu thư của Tống Thái Tông và vị Nam đế tuyên bố: “ Sau này có quốc thư thì nên cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa”. Vua Tống chấp nhận yêu cầu ấy của Đại Cồ Việt từ năm Canh Dần [990].

Nước mắm Biển Đông, thành tựu văn hóa lâu đời của Đại Việt, chủ nhân lâu đời của  Biển Đông
Nước mắm Biển Đông, thành tựu văn hóa lâu đời của Đại Việt, chủ nhân lâu đời của Biển Đông

Cuối đông Quí Tỵ 2013

Trần Viết Điền          

Đạm nhĩ – Chu nhai.

Đạm nhĩ – Chu nhai.

Bách Việt trùng cửu

Sau khi Lộ Bác Đức chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán chia đất Nam Việt thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Uất Lâm, Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô, Đam Nhĩ và Chu Nhai. Hai quận Đam Nhĩ và Chu Nhai được định vị là đều nằm ở đảo Hải Nam ngày nay. Nhưng… đảo Hải Nam cách đây không lâu cũng mới là một huyện đảo của tỉnh Quảng Đông, liệu vào đầu Công nguyên có được bao nhiêu dân mà lập tới 2 quận? (Văn nhân)

Mở đầu bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn:
Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi, đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp. Tường Kha vùng sông hẻo lánh, Doãn Trân giỏi kinh truyện mà danh tiếng xa truyền. Nhờ khôn linh hun đúc mà biết địa mạch rộng dài. Nhân văn tuỳ khí vận mà sinh, ấp ủ lâu tất hào kiệt đột phát, phải đâu thời tục có thể cản ngăn, tự phát tiếng kêu cho người đời kinh hãi! Ta đã thấy điều đó ở Thu Viên tiên sinh.
Thu Viên tiên sinh là Thái Đình Lan, tiến sĩ người Bành Hồ – Đài Loan, đã từng bị nạn thuyền lưu lạc sang Việt Nam thời vua Minh Mạng. Trên đường từ Việt Nam về ông đã viết tác phẩm Hải Nam tạp trứ, một tài liệu ghi chép về tình hình Việt Nam lúc đó còn lưu tới nay.
Trong bài minh trên cho thấy rõ quê của Thái Đình Lan Bành Hồ – Đài Loan được gọi là miền Chu Nhai. Như vậy Chu Nhai là đất Phúc Kiến xưa chứ không phải ở đảo Hải Nam.

Bài thơ Cư Đam Nhĩ (Ở Đam Nhĩ) của Tô Đông Pha thời Tống có câu:
Cửu từ nam hoang ngô bất hận
Tư du kỳ tuyệt quán bình sinh
Dịch nghĩa
Chín chết phương nam ta không hận
Chuyến này kỳ tuyệt nhất bình sinh

Chuyện Tô Đông Pha bị đi lưu trú ở Đam Nhĩ cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong bàiTặng con cháu ba họ: Khổng, Nhan, Mạnh dạy học ở Thái Bình:
Nhân sinh thập lự cửu thường quai
Thạnh thế thùy 
tri hữu khí tài
Pha lão tích tằng Đam Nhĩ khứ
Trường Canh diệc hướng Dạ Lang lai.

Dịch
Nghĩ mười, sai chín người đời
Bỏ quên tài lúc thịnh thời biết không
Lão Pha, Đam Nhĩ đã từng
Trường Canh cũng phải hướng vùng Dạ Lang.

Tuy nhiên khi xem đến tiểu sử của Tô Đông Pha thì lại thấy Tô Đông Pha do mâu thuẫn với Vương An Thạch đã bị chuyển đi lưu trú ở Hàng Châu (Triết Giang). Như vậy Đam Nhĩ có thể không phải ở đảo Hải Nam mà chính là tỉnh Triết Giang ngày nay.

Nếu Đam Nhĩ và Chu Nhai thời Tây Hán là Phúc Kiến và Triết Giang thì đất của Nam Việt Triệu Đà phải là toàn bộ vùng Nam Dương Tử.  Không biết ai đó đã cố ý ép 2 quận lớn ven biển này vào hòn đảo Hải Nam hoang vu, mục đích rõ ràng để dấu đi qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên vùng Hoa Nam.

Mã Viện khi đánh Hai Bà Trưng đuợc phong là Phục Ba tướng quân, tức là danh hiệu của Lộ Bác Đức nhà Tây Hán khi tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà. Chỉ danh hiệu này cũng cho thấy qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không kém gì Triệu Đà xưng đế Nam Việt xưa.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s