TS. Nguyễn Xuân Niệm – SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NẤM Metarhizium anisopliae TRONG QUẢN LÝ MỘT SỐ SÂU HẠI CÂY TRỒNG TẠI KIÊN GIANG

Metarhizium_anisopliaeNấm Metarhizium anisopliae (nấm xanh hay nấm lục cương) là loài nấm phân bố và có phổ ký chủ rất rộng. Năm 1879, Metchnikoff đã phân lập loài nấm này từ bọ cánh cứng Anisopliae austriaca và đề nghị sử dụng loài nấm này để phòng trừ các loại côn trùng hại. Hollingsworth, Meleisea và Iosefa (1988) cho biết tại một nông trường, M. anisopliae đã gây bệnh cho khoảng 65% ấu trùng và 27% thành trùng. Hiện nay, nấm M. anisopliae đang được sử dụng rộng rãi để phòng trừ côn trùng hại trên nhiều loại cây trồng [Nguyễn Lân Dũng (1981) trích nguồn: Nguyễn Xuân Niệm (2010)].

– Sự xâm nhiễm và phát triển của nấm M. anisopliae trong cơ thể ký chủ

Bào tử đính của nấm M. anisopliae thường nảy mầm trong điều kiện môi trường có nguồn carbon và nitơ phong phú, nhưng thường có khác biệt trong sự nảy mầm giữa các loài nấm khác nhau, điều này có thể liên quan tới loài côn trùng ký chủ. Chất dinh dưỡng là môi trường quan trọng để nấm có thể nhận ra ký chủ thích hợp khi bám vào lớp kitin côn trùng.

Sau khi bào tử đính hình thành, đĩa bám tạo ra một sợi mầm xâm nhập vào lớp kitin ngoài (epicuticle). Khi tiến tới lớp kitin non (procuticle), đỉnh của đĩa bám phình ra để hình thành các phiến xâm nhiễm song song với các phiến kitin mà không ăn sâu vào trong. Các phiến xâm nhiễm phát triển ra các sợi bên, các sợi bên lại tạo ra các thể sợi nấm xâm nhiễm. Các thể sợi nấm xâm nhiễm này tạo ra các sợi nấm xâm nhiễm thẳng đứng đâm xuyên qua lớp kitin non để xâm nhập vào bên dưới lớp da và xoang cơ thể. Thời gian sợi nấm xâm nhiễm tiến tới xoang máu khác nhau tuỳ theo loại côn trùng ký chủ. Ví dụ, sợi nấm Metarhizium tiến vào xoang máu của ấu trùng họ Elateridae khoảng 6 ngày sau khi chủng. Trong khi đó, sợi nấm Metarhizium tiến vào xoang máu của loài mối (Nasutitermis sp.) mất 48 giờ sau khi chủng; Và 72 giờ sau thì các thể sợi nấm Metarhizium bắt đầu xâm nhập vào các thể mỡ và gây ra triệu chứng chết cho loài mối này. 96 giờ sau khi chủng, các thể sợi nấm phát triển dày đặc bên trong xoang cơ thể mối và bắt đầu phát triển ra bên ngoài cơ thể. Các bào tử áo (Chlamydospore) có thể hình thành trong xoang cơ thể mối [Nguyễn Lân Dũng (1981) trích nguồn: Nguyễn Xuân Niệm (2010)].

– Các enzyme phân huỷ kitin của nấm M. anisopliae

Nấm M. anisopliae xâm nhập vào lớp kitin của côn trùng được là do sự phối hợp giữa các enzyme phân huỷ kitin và áp lực vật lý. Lúc đầu, các enzyme phân huỷ làm tiêu lớp sáp trên lớp vỏ kitin của côn trùng và tạo ra các lỗ thủng chung quanh vòi xâm nhiễm. Nhóm enzyme phân huỷ kitin gồm có subtilisin-like proteinase, metalloproteases, trypsin, aminopeptidase, dipeptidyl peptidase và chitinnase. Các enzyme này xuất hiện theo trình tự như sau: các enzyme phân huỷ protein và các esterase được tạo ra đầu tiên vì các protein bao bọc các sợi kitin phải được phân huỷ trước khi men chitinase hoạt động. Enzyme phân giải protein là một endoprotease và được gọi là Pr1. Pr1 là một protein, chủ yếu được tổng hợp trong quá trình hình thành đĩa bám trên bề mặt rắn hay trên lớp kitin của côn trùng. Ngoài Pr1, còn có một số endoprotease khác hiện diện trong nước lọc môi trường nuôi cấy nấm M. anisopliae bao gồm Pr1b, Pr2, Pr3, Pr4, và metalloproteinase [Boucias và Pendland (1998) trích nguồn: Nguyễn Xuân Niệm (2010)].

– Các độc tố của nấm M. anisopliae

Nấm Metarhizium thường tạo ra độc tố: (i)  Destruxin (A-E) Tác động trên kênh Ca++ trong màng bắp thịt (A, B); ức chế miễn dịch và gây bệnh tế bào (C, E); (ii) Cytochalasins Ức chế sự kéo dài của các sợi actin (protein cấu thành sợi lông); Swainsonine là Indolizidine alkaloid.

Các độc tố của M. anisopliae vào trong ruột giữa và gây ra một số bệnh ở tế bào ruột giữa của côn trùng. Các bệnh này thường tạo ra những thay đổi trong ty thể và lưới nội chất, làm thoái hóa nhân tế bào và làm tổn thương ống Malpigi, hemocyte nhưng không gây ra các tổn thương mô ở vị trí hệ thần kinh. Các triệu chứng của sự nhiễm độc trên ấu trùng liên quan tới tổng số bào tử mà ấu trùng ăn phải. Destruxin E có tác động như một chất ức chế miễn dịch, ngăn cản phản ứng phòng vệ tế bào và thể dịch của một số côn trùng, và chất độc này hiệu quả hơn destruxin A và B. Ngoài ra, Destruxin E do nấm Metarhizium tạo ra có tác dụng như một chất kháng sinh, kháng lại các loại virus đa diện nhân khi được chủng vào ấu trùng Galleria mellonella bị nhiễm virus ở mức độ chưa gây độc. Độc chất này dường như gây cản trở tại các vị trí tổng hợp của virus mà không cản trở trên chính virus. Nấm lục cương cũng tạo ra các enzyme phân hủy protein độc và các chất ức chế phản ứng kháng men protease trong hemolymth côn trùng. Ngoài ra, nấm Metarhizium còn tạo ra chất cytochalasin có tác dụng ngăn cản sự kéo dài sợi actin (protein cấu thành sợi lông) [Boucias và Pendland (1998) trích nguồn: Nguyễn Xuân Niệm (2010)].

Vì vậy, nấm Metarhizium anisopliae có tiềm năng ký sinh nhiều loài côn trùng gây hại cho cây trồng ở tỉnh Kiên Giang, nơi có đa dạng cây trồng khá cao, trong đó chủ yếu là lúa, khóm, khoai lang, cây mắm (rừng ngập mặn),… Nghiên cứu và ứng dụng nấm này trong phòng trừ sâu hại là điều rất cần thiết, nhằm hạn chế thấp nhất sử dụng thuốc hóa học, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất và người tiêu dùng.

2. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN

Các thí nghiệm trong phòng và nhà lưới được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên; Hiệu lực của thuốc được tính bằng công thức của Abbott (1925). Các thí nghiệm ngoài đồng được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên; Hiệu lực của thuốc được tính bằng công thức của Henderson – Tilton (1955). Số nghiệm thức tùy thuộc vào từng thí nghiệm cụ thể. Tất cả thí nghiệm đều thực hiện với 3 lần lập lại. Phương pháp bố trí ruộng trình diễn ngoài đồng xem cụ thể từng báo cáo ở phần Kết quả và thảo luận.

Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae sử dụng, thí nghiệm trên lúa do TS.Nguyễn Thị Lộc (Viện Lúa ĐBSCL) sản xuất; trên khóm do PGS.TS. Trần Văn Hai (Trường Đại học Cần Thơ) sản xuất; trên khoai lang và trên cây mắm do GS.TS. Phạm Thị Thùy (Viện BVTV) sản xuất và hỗ trợ cung cấp.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu và chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ tại tỉnh Kiên Giang

Kiên Giang là một trong những tỉnh có diện tích gieo trồng lúa khá lớn, khoảng 634.434 ha (Sở Nông nghiệp & PTNT, 2010). Trong vài năm gần đây do đại dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá lúa, nhiều nông dân nóng vội trong sử dụng thuốc hóa học, không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng và sử dụng nhiều loại thuốc có phổ tác dụng rộng diệt chết thiên địch làm mất cân bằng sinh thái, gây ra hiện tượng bộc phát rầy nâu trong giai đoạn sau. Lượng thuốc hóa học được sử dụng khá nhiều để phòng trừ rầy nâu trên lúa đã gây ảnh hưởng trầm trọng tới hệ sinh thái, môi trường và sức khỏe con người. Đặc biệt, việc phun thuốc hoá học ở giai đoạn lúa trỗ đã làm lúa bị lép nhiều và giảm năng suất. Để khắc phục vấn đề này, một đề tài cấp tỉnh thực hiện nghiên cứu và chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ tại tỉnh Kiên Giang, kết quả cụ thể như sau:

          Đề tài đã tiến hành xây dựng 5 ha mô hình thực nghiệm với 10 hộ nông dân tham gia ở xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vào vụ lúa Đông Xuân 2011 – 2012.

3.1.1. Biến động mật số rầy nâu và thiên địch trên ruộng mô hình và đối chứng

Kết quả được ghi nhận trên Hình 3.1 cho thấy mật số rầy nâu di trú xuất hiện sớm vào 23 NSS với mật số 329,8 và 297,7 con/m

2 tương ứng với ruộng mô hình và đối chứng. Nông dân đã phun thuốc Chess 50WG hoặc Oshin 20WP để phòng trừ rầy nâu trên ruộng đối chứng trong khi nấm xanh Ometar (nấm ký sinh Metarhizium anisopliae) đã được phun trên ruộng mô hình để quản lý rầy nâu (do có nguồn nấm xanh nông dân tự sản xuất trong đợt tập huấn đầu tiên). Mật số rầy nâu đã giảm ở ruộng mô hình và đối chứng (khoảng 30 con/m2) sau khi phun thuốc 14 ngày (37 NSS). Tuy nhiên, mật số rầy nâu tăng nhanh trở lại vào 52 NSS đạt 824,3 con/m2 ở ruộng mô hình và 977,7 con/m2 ở ruộng đối chứng. Tại thời điểm này ruộng đối chứng của nông dân được phun thuốc Chess 50WG hoặc Oshin 20WP và ruộng mô hình cũng được phun chế phẩm Ometar lần 2 đã khống chế được mật số rầy nâu đến cuối vụ.

image001

Ruộng 16NSS 23NSS 30NSS 37NSS 45NSS 52NSS 59NSS 66NSS 73NSS 80NSS

ĐC

0,0

297,7

45,7

30,7

89,2

977,7

183,2

30,0

26,5

32,3

MH

0,0

329,8

98,3

30,2

24,7

824,3

250,7

74,5

26,2

14,0

P

ns

**

ns

**

*

*

**

ns

**

ĐC: đối chứng                                   MH: mô hình                          NSS: ngày sau sạ

ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê        * khác biệt ở mức 5% ** khác biệt ở mức 1%

(Nguyễn Thị Lộc và ctv, 2013)

Hình 3.1. Biến động mật số rầy nâu trên ruộng mô hình và đối chứng (Thạnh Đông A, Tân Hiệp, Kiên Giang; ĐX 2011 – 2012, Jasmine 85)

 image002

Ruộng 16NSS 23NSS 30NSS 37NSS 45NSS 52NSS 59NSS 66NSS 73NSS 80NSS

ĐC

0,0

11,2

4,7

7,8

5,2

14,0

5,0

10,3

5,2

6,3

MH

0,0

10,8

14,0

14,8

11,3

20,8

28,5

31,5

23,3

18,7

P

ns

**

*

*

*

**

**

**

**

ĐC: đối chứng                                   MH: mô hình                          NSS: ngày sau sạ

ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê        * khác biệt ở mức 5% ** khác biệt ở mức 1%

Hình 3.2. Biến động mật số BXMX trên ruộng mô hình và đối chứng (Thạnh Đông A, Tân Hiệp, Kiên Giang; ĐX 2011 – 2012, Jasmine 85)

Kết quả trên Hình 3.2 cho thấy Bọ xít mù xanh (BXMX) bị ảnh hưởng bởi việc phun thuốc hoá học Chess 50WG, Oshin 20WP, Chief 520WP và Ammate 150SC. Mật số BXMX ở ruộng đối chứng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với mật số BXMX ở ruộng mô hình kể từ 30 NSS cho tới cuối vụ. Trong khi đó, mật số BXMX ở ruộng mô hình không bị ảnh hưởng bởi việc phun chế phẩm Ometar nên vẫn tiếp tục gia tăng mật số trong ruộng lúa lên 14,8 con/m2 sau khi phun thuốc 14 ngày (37 NSS). Tuy nhiên, mật số BXMX ở ruộng mô hình thay đổi theo xu hướng giảm khi thuốc Chief 520WP được phun để trừ sâu cuốn lá ở 37 NSS. Mật số BXMX tăng dần trong ruộng mô hình vào giai đoạn lúa 52 – 66 NSS (do hiệu lực của thuốc Chief 520WP giảm và nguồn thức ăn từ rầy nâu tăng) đạt mật số cao nhất ở 66 NSS (31,5 con/m2).

Tương tự với BXMX, nhện bắt mồi ăn thịt cũng bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng thuốc hoá học Chess 50WG, Oshin 20WP, Chief 520WP và Ammate 150SC nên mật số nhện bắt mồi ăn thịt của ruộng đối chứng luôn thấp hơn so với mật số nhện của ruộng mô hình từ 30 NSS, đặc biệt là thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê vào 30 – 45 NSS và 59 – 66 NSS (những thời điểm sau khi phun thuốc hoá học) (hình 3.3). Đối với ruộng mô hình, mât số nhện bắt mồi ăn thịt tiếp tục tăng nhanh đạt 24,8 con/m2 ở 37 NSS mặc dù có phun chế phẩm Ometar ở 23 NSS. Tuy nhiên, mật số nhện bắt mồi ăn thịt cũng giảm khi phun thuốc Chief 520WP trừ sâu cuốn lá nhưng mật số nhện gia tăng nhanh trở lại và ổn định ở mật số cao cho đến cuối vụ khi thuốc hết hiệu lực và mật số rầy nâu trên ruộng gia tăng (mặc dù có phun nấm xanh Ometar trừ rầy nâu ở 52 NSS). Kết quả trên cho thấy phun chế phẩm Ometar không ảnh hưởng đến mật số nhện bắt mồi ăn thịt trong ruộng lúa.

 image003

Ruộng 16NSS 23NSS

30NSS

37NSS

45NSS

52NSS

59NSS 66NSS 73NSS 80NSS

ĐC

10,7

14,3

9,2

12,3

10,3

18,5

11,5

13,2

16,7

14,8

MH

8,7

10,8

21,0

24,8

22,2

25,0

25,5

28,0

25,5

20,2

P

ns

ns

**

**

**

ns

*

*

ns

Ns

ĐC: đối chứng                                   MH: mô hình                          NSS: ngày sau sạ

ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê        * khác biệt ở mức 5% ** khác biệt ở mức 1%

(Nguyễn Thị Lộc và ctv, 2013)

Hình 3.3. Biến động mật số nhện trên ruộng mô hình và đối chứng

(Thạnh Đông A, Tân Hiệp, Kiên Giang; ĐX 2011 – 2012, Jasmine 85)

 

3.1.2. Năng suất và hạch toán hiệu quả kinh tế của ruộng mô hình và đối chứng

Kết quả so sánh năng suất lúa trung bình giữa ruộng mô hình và đối chứng (Bảng 3.1) cho thấy năng suất lúa của ruộng mô hình khá cao (trung bình 7,53 tấn/ha), cao hơn so với ruộng đối chứng của nông dân (trung bình 7,37 tấn/ha). Tuy nhiên, không có sự khác biệt thống kê về năng suất lúa trung bình giữa hai ruộng.

Kết quả so sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình và đối chứng ở xã Thạnh Đông A vụ Đông Xuân 2011 – 2012 (Bảng 3.1) cho thấy ruộng mô hình phun 2 lần chế phẩm nấm xanh Ometar để trừ sâu cuốn lá và rầy nâu hại lúa chỉ tốn 120.000 đồng/ha trong khi ruộng đối chứng sử dụng 2 lần thuốc trừ rầy Chess 50WG hoặc Oshin 20WP tốn chi phí tiền thuốc khá cao 1.050.000 đồng/ha, cộng thêm thuốc trừ sâu lệch 160.000 đồng/ha. Như vậy lợi chi phí do giảm thuốc hóa học 1.090.000 đồng/ha. Thu nhập trung bình của ruộng mô hình cao hơn ruộng đối chứng 1.120.000 đồng/ha do năng suất cao hơn 160 kg/ha. Cộng chung trung bình lợi nhuận của ruộng mô hình cao hơn ruộng đối chứng là 2.210.000 đồng/ha (6,2%).

Bảng 3.1. So sánh hiệu quả kinh tế trung bình giữa mô hình và đối chứng (Thạnh Đông A, Tân Hiệp, Kiên Giang; Đông Xuân 2011 – 2012, Jasmine 85)

Khoản mục

Mô hình

(1)

Đối chứng

(2)

Chênh lệch

Số tiền

Tỷ lệ

(3)=(1)-(2)

(%) = (1)/(2)*100 – 100

I. Tổng chi (đ/ha)

14.584.000

15.674.000

– 1.090.000

– 7,0

1. Chi phí vât tư (đ/ha)

9188000

10278000

– 1.090.000

– 10,6

– Giống

2250000

2250000

0

0,0

– Phân bón

6.000.000

6.000.000

0

0,0

– Chế phẩm nấm xanh Ometar

120.000

120.000

~

– Thuốc trừ rầy hóa học
(Chess 50WG, Oshin 20WP)

1.050.000

– 1.050.000

-100

– Thuốc trừ sâu

244.000

404.000

– 160.000

– 39,6

– Thuốc BVTV khác

574.000

574.000

0

0,0

2. Chí phí lao động (đ/ha)

5.396.000

5.396.000

0

0,0

– Phun thuốc trừ rầy

400.000

400.000

0

0,0

– Phun thuốc BVTV khác

800.000

800.000

0

0,0

– Công lao động khác

4.196.000

4.196.000

0

0,0

II. Tổng thu

52.710.000

51.590.000

1.120.000

2,2

Năng suất (kg/ha)

7.530

7.370

160

2,2

Giá bán (đ/kg)

7.000

7.000

0

0,0

III. Lợi nhuận

38.126.000

35.916.000

2.210.000

6,2

(Nguyễn Thị Lộc và ctv, 2013)

Ghi chú: Hạch toán kinh tế về chỉ tiêu nông học theo giá cả năm 2012. Dấu (-) cho thấy mô hình thấp hơn đối chứng

 

3.2. Kết quả nghiên cứu sử dụng nấm M. anisopliae để phòng trừ rệp sáp trên khóm tại Gò Quao

Kiên Giang là một trong những tỉnh có diện tích khóm khá lớn gần 10.000 ha. Cây khóm là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng đất phèn, đặc biệt là các xã đông đồng bào dân tộc Khmer của huyện Gò Quao, Hòn Đất, Châu Thành,…. Những năm gần đây dịch sâu, bệnh tăng nhiều, dẫn đến năng suất và chất lượng khóm trong tỉnh bị sụt giảm nghiêm trọng làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Trong đó đối tượng rệp sáp Dysmicoccus brevipes Cockerell trực tiếp hút dinh dưỡng cây, gián tiếp môi giới lan truyền bệnh héo khô đầu lá khóm (HKĐL) do Pineapple mealybug wilt associated virus-2 (PMWaV2) gây ra. Do đó đã nghiên cứu các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp trên cây khóm, trong đó có sử dụng nấm M. anisopliae để phòng trừ rệp sáp trên khóm tại Gò Quao, kết quả như sau:

3.2.1. Khảo sát hiệu quả ký sinh của nấm xanh (Metarhizium anisopliae) trên rệp sáp trong hộp nhựa

Kết quả Bảng 3.7 cho thấy ở thời điểm 4 ngày sau phun (NSP) hiệu lực phòng trừ rệp sáp giữa các nghiệm thức dao động từ 0,5-2,9% và không khác biệt ý nghĩa thống kê. Ở thời điểm 7 và 10 NSP, hiệu lực phòng trừ rệp sáp ở tất cả các nghiệm thức đều tăng đáng kể và khác biệt ở mức ý nghĩa 1%. Trong đó nghiệm thức phun nấm xanh 0,1% cho tỷ lệ số con rệp sáp chết khá, lần lượt là 13,3 và 50,0% ở 7 và 10 NSP. Độ hữu hiệu 10 NSP của nấm xanh có khác biệt ý nghĩa 1% so với nghiệm thức đối chứng (phun nước) và nghiệm thức phun nước rửa chén 0,1%. thấp nhất là ở nghiệm thức phun nước 8,3 và 13,3% (làm đối chứng). Phun nước rửa chén có tác dụng làm tan lớp sáp phủ trên bề mặt rệp sáp nhưng không có tác dụng diệt con rệp sáp.

Bảng 3.2 (trích lược). Độ hữu hiệu của nấm xanh và nấm tím trên rệp sáp hại khóm trong hộp nhựa ở thời điểm 4, 7 và 10 NSKP

Nghiệm thức

Độ hữu hiệu (%) ở các thời điểm

4 NSP

7 NSP

10 NSP

Phun nước (đối chứng)

0,5

8,3 b

13,3 c

Phun nước rửa chén 0,1%

1,4

12,5 b

15,0 c

Phun nấm xanh 0,1%

0,9

13,3 b

50,0 b

Phun Regent 800WP (0,1%)

2,9

53,3 a

97,5 a

(Võ Quang Minh và ctv, 2012)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% qua kiểm định Duncan. NSP: Ngày sau phun.

 

3.2.2. Khảo sát hiệu quả ký sinh của nấm xanh (Metarhizium anisopliae) trên rệp sáp ở cây khóm trồng lấy chồi ở ngoài đồng

Dựa vào kết quả thí nghiệm trong hộp nhựa, việc phòng trừ rệp sáp được áp dụng ngoài đồng trên ruộng khóm đã trồng hai năm để khai thác lấy chồi. Hiệu quả của các thuốc để phòng trừ rệp sáp được trình bày ở Bảng 3.3. Kết quả cho thấy số con rệp sáp hiện diện trên bụi khóm sau hai năm trồng rất cao khoảng 100 con/bụi mặc dù đã được xử lý thuốc Regent 800WP trước khi trồng. Tuy nhiên, với mật số này chưa có cây nào thể hiện triệu chứng bệnh HKĐL ngoài đồng ruộng, trong khi đó Sether & Hu (2002) chủng 60 con rệp sáp trên cây mang virus thì cây sẽ thể hiện triệu chứng HKĐL sau đó. Có thể là do cây khóm cấy mô sạch bệnh được trồng trên ruộng này nên khả năng chịu đựng bệnh này cao hơn.

Bảng 3.3 (trích lược). Mật số rệp sáp còn sống và độ hữu hiệu của thuốc sau khi xử lý ở trên cây khóm lấy chồi sau 15 ngày xử lý

Nghiệm thức

Số con rệp sáp sống

Độ hữu hiệu (%)

Phun nước (đối chứng)

114,0 a

0,0

Phun nước rửa chén 0,1%

90,2 b

33,7

Phun nấm xanh 0,1%

77,9 bc

41,4

Phun Regent 800WP (0,1%)

16,6 c

87,6

(Võ Quang Minh và ctv, 2012)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% qua kiểm định Duncan.

Xử lý nấm xanh cho kết quả tương đối, số rệp sáp còn sống là 77,9 con khác biệt ý nghĩa ở mức 1% so với xử lý nước (đối chứng). Hiệu quả khá và ổn định với độ hữu hiệu là 41,4% so với nghiệm thức đối chứng (xử lý nước).

3.3. Kết quả nghiên cứu sử dụng nấm M. anisopliae để phòng trừ bọ hà trên khoai lang tại Hòn Đất

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và PTNT Kiên Giang, tổng diện tích sản xuất khoai lang của tỉnh năm 2010 là 1.453 ha tập trung ở các huyện Giồng Riềng, Hòn Đất và rải rác ở các huyện khác trong tỉnh. Người trồng khoai lang tỉnh Kiên Giang sợ nhất là bọ hà (sùng hại củ khoai – kẻ thù truyền kiếp của người trồng khoai lang) tên khoa học: Cilas formicarius Fabricius, do vậy đã bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu quả phòng trừ bọ hà trên khoai lang bằng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như nấm và hạn chế sử dụng thuốc hóa học nhằm ngăn ngừa dư lượng trong sản phẩm, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

3.3.1. Mật số bọ hà qua các lần điều tra ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà trên khoai lang vụ ĐX 2009-2010

Ở thí nghiệm này, có sử dụng bẫy pheromone nên đã đếm được mật số bọ hà. Qua các lần điều tra cho thấy mật số bọ hà ở các nghiệm thức có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% qua phép thử Duncan so với nghiệm thức đối chứng (Bảng 3.4). Điều này cho thấy việc sử dụng nấm xanh M. anisopliae để quản lý bọ hà đem lại hiệu quả so với đối chứng. Tuy nhiên mật số bọ hà vẫn còn cao là do ruộng khoai của trang trại đã chuyên canh qua 8 vụ trồng, mật số bọ hà tích lũy qua nhiều vụ, xác bả thực vật (củ khoai, dây khoai bị nhiễm bọ hà phân bố rải rác trên ruộng, ven bờ kênh, mương nước,…) đây là nguồn lưu tồn để lây lan ra ruộng thí nghiệm cũng như ruộng canh tác của nông dân.

Bảng 3.4 (trích lược). Mật số bọ hà (con/dây) ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà trên khoai lang bằng biện pháp tổng hợp vụ ĐX 2009-2010

Nghiệm thức

Phun lần 1

Phun lần 2

TKP

7

NSP

14 NSP

21 NSP

28 NSP

TKP

7

NSP

14 NSP

Xử lý đất bằng nấm M.a+ phun nấm M.a

4,67 ab

4,33 ab

0,67 b

2,33 b

1,33 a

1,00 b

1,33 a

0,67 b

Không xử lý đất  + phun nấm M.a

5,00 a

4,67 a

0,67 b

1,33 b

1,33 a

1,67 b

1,67 a

0,67 b

Canh tác theo nông dân

4,00 ab

3,00 b

1,00 b

2,00 b

1,67 a

1,67 b

1,67 b

1,00 b

Đối chứng không xử lý

3,67 b

4,33 ab

3,33 a

4,33 a

2,67 a

3,00 a

4,33 b

3,33 a

(Võ Thị Hồng Thủy và ctv, 2011)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua kiểm định Duncan.

3.3.2. Tỉ lệ khoai bị sùng (%), năng suất thực tế (tấn/ha) và năng suất thương phẩm      (tấn/ha) ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà bằng biện pháp tổng hợp vụ ĐX 2009-2010

Vụ ĐX 2009-2010, hầu hết các nghiệm thức đều có tỉ lệ khoai sùng rất cao là do mật số bọ hà tích lũy qua nhiều vụ nên tỉ lệ khoai bị sùng chiếm từ 46,44 đến 77,90% (Bảng 3.5). Mặc dầu có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% qua phép thử Duncan giữa các nghiệm thức có xử lý và nghiệm thức canh tác theo nông dân nhưng hầu như năng suất thương phẩm ở các nghiệm thức đều không chênh lệch nhau nhiều và không khác biệt qua phép thử Duncan. Điều này cho thấy việc xử lý đất bằng nấm Ma và phun nấm M.a để quản lý bọ hà hại khoai lang đem lại hiệu quả .

Qua Bảng 3.5 cho thấy, không có sự khác biệt nhau về năng suất thực tế giữa các nghiệm thức qua phân tích thống kê. Điều này cho thấy việc quản lý bọ hà hại khoai lang phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện canh tác, đặc biệt nguồn bọ hà lưu tồn qua nhiều vụ canh tác liên tục là rất cao sẽ gây ảnh hưởng làm giảm năng suất khoai lang ở những vụ sau.

Bảng 3.5 (trích lược). Tỉ lệ khoai bị sung (%), năng suất thực tế (tấn/ha) và năng suất thương phẩm  (tấn/ha) ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà bằng biện pháp                                        tổng hợp vụ ĐX 2009-2010

Nghiệm thức

Tỷ lệ khoai sùng (%)

Năng suất thực tế (tấn/ha)

Năng suất thương phẩm (tấn/ha)

XL đất bằng  nấm M.a + phun nấm M.a

51.06 b

21,63 ns

16,59 ab

Không XL đất  bằng nấm M.a + phun nấm M.a

51.33 b

22,67 ns

16,15 ab

Canh tác theo nông dân

77.90 a

22,07 ns

12,74 ab

Đối chứng không xử lý

72.61 a

20,74 ns

9,41    b

(Võ Thị Hồng Thủy và ctv, 2011)

 Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua kiểm định Duncan. ns: không khác biệt,

3.3.3. Tỉ lệ khoai bị sùng(%), năng suất thực tế (tấn/ha) và năng suất thương phẩm    (tấn/ha ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà bằng biện pháp tổng hợp vụ ĐX 2010-2011

Vụ này ĐX 2010-2011, năng thương phẩm ở các nghiệm thức có xử lý đều cao khác biệt so với đối chứng không xử lý qua phân tích thống kê, trong đó năng suất thương phẩm ở nghiệm thức 3 (xử lý hom giống bằng thuốc hóa học + xử lý đất bằng nấm Ma + phun nấm Ma cho năng suất thương phẩm cao nhất 19,11 tấn/ha (Bảng 3.6). Điều này cho thấy ngoài việc sử dụng nấm xanh kết hợp xử lý đất và phun cần phải kết hợp luân canh (1 vụ lúa, 1 vụ khoai) thì sẽ đem hiệu quả cao trong phòng trị bọ hà khoai lang dẫn đến mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.

Bảng 3.6 (trích lược). Tỉ lệ khoai bị sùng(%), năng suất thực tế (tấn/ha) và năng suất thương phẩm  (tấn/ha) ở thí nghiệm phòng trừ bọ hà bằng                                                             biện pháp tổng hợp vụ ĐX 2010-2011

Nghiệm thức

Tỷ lệ khoai sùng (%)

Năng suất thực tế (tấn/ha)

Năng suất thương phẩm (tấn/ha)

Xử lý đất bằng  nấm Ma + phun nấm Ma

18,62 bc

19,11 b

15,56 bc

Không  xử lý  đất + phun nấm Ma

16,02 bc

19,67 b

16,55 b

Canh tác theo nông dân

23,26 ab

17,33 c

13,33 c

Đối chứng không xử lý

26,95 a

18,89 b

13,78 c

(Võ Thị Hồng Thủy và ctv, 2011)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua kiểm định Duncan.

3.4. Kết quả khảo nghiệm phòng trừ sâu ăn lá cây mắm (Hyblaea puera Cramer) rừng phòng hộ ven biển An Biên- An Minh bằng các chế phẩm sinh học M. anisopliae

Kiên Giang có chiều dài bờ biển khoảng 200 km chạy dài từ Hà Tiên đến Tiểu Dừa (Cà Mau), theo thống kê Sở Nông nghiệp & PTNT Kiên Giang năm 2009, thì diện tích rừng ngập mặn khoảng 5.464 ha, trong đó 1/5 diện tích là cây mắm, diện tích khoảng 1.000 ha, bao gồm 3 loài cây: mắm trắng hay mắm lưỡi đồng Avicennia alba, mắm đen Avicennia officinalis, mắm ổi hay mắm biển Avicennia marina. Thời gian qua, loài sâu ăn lá cây mắm (Hyblaea puera Cramer) phá hại cây mắm khá nặng, dẫn đến yêu cầu phòng trừ loài sâu này được đặt ra.

Qua Bảng 3.7 cho thấy chế phẩm nấm M.a 2×107WP (50 g/8 lít) có hiệu quả diệt trừ sâu chậm, từ 5 ngày sau khi phun trở đi, tỷ lệ sâu còn sống cao, mặc dầu mật độ sâu sống có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% qua phép thử Duncan so với nghiệm thức đối chứng. Vì vậy, chúng tôi không chọn chế phẩm nấm M.a 2×107WP (50 g/8 lít) để phun trừ sâu ăn lá cây mắm ở ngoài đồng.

Bảng 3.7. Mật độ sâu (con/hộp) ở các nghiệm thức xử lý thuốc trong phòng thí nghiệm

Nghiệm thức

Mật độ sâu sống (con/cây)

TKP

1 NSP

2 NSP

3 NSP

4 NSP

5 NSP

6 NSP

7 NSP

Cộng hợp 16 BTN

(20 g/8 lít)

20,0

 11,6 ab   7,2 b  1,8 bc

0,0 b

0,0 c

0,0 c

0,0 c

Biocin 16 WP

 

(20 g/8 lít)

20,0

 13,8 ab   1,0 c  0,4 c

0,0 b

0,0 c

0,0 c

0,0 c

Bemetent  2×107 WP

 

(50 g/8 lít)

20,0

 20,0 a 20,0 a 20,0 a

19,0 a

17,0 b

15,8 b

15,2 b

M.a  2×107 WP

 

(50 g/8 lít)

20,0

 20,0 a 20,0 a 20,0 a

19,0 a

17,2 b

15,4 b

15,2 b

B.b  2×107 WP

 

(50 g/8 lít)

20,0

 20,0 a 20,0 a 20,0 a

20,0 a

18,0 b

16,2 b

15,6 b

Abatimec 1.8 EC

 

(12 cc//8 lít)

20,0

  9,4  b   6,0 b  2,2 b

0,0 b

0,0 c

0,0 c

0,0 c

Đối chứng

 

(phun nước)

20,0

 20,0 a 20,0 a 20,0 a

20,0 a

20,0 a

19,4 a

19,2 a

 

(Phan Đức Sơn và ctv, 2010)

Ghi chú: Các chữ cái khác nhau theo sau giá trị trung bình thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua kiểm định Duncan. (TKP: Trước khi phun; NSP:  Ngày sau phun)

4. KẾT LUÃN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

– Nấm Metarhizium anisopliae có hiệu quả diệt trừ côn trùng gây hại (rầy nâu Nilaparvata lugens Stal.; rệp sáp trên khóm Dysmicoccus brevipes Cockerell; bọ hà khoai lang Cilas formicarius Fabricius; sâu ăn lá cây mắm Hyblaea puera Cramer, khá cao trên 50% sau 5 ngày khi xử lý nhưng không ảnh hưởng đến thiên địch.

– Sử dụng chế phẩm sinh học nấm Metarhizium anisopliae trong phòng trừ sâu hại, vừa mang lại hiệu quả kinh tế (lãi cao 2.210.000, trong đó giảm chi phí thuốc hóa học 1.090.000 đ/ha lúa), vừa đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái và vệ sinh an toàn thực phẩm.

– Qua khảo sát ghi nhận tại Kiên Giang, chế phẩm sinh học nấm Metarhizium anisopliae có tiềm năng ký sinh diệt nhiều loài côn trùng gây hại khác trên các cây trồng chính (lúa, khóm, khoai lang, cây mắm) khá cao, tuy nhiên hiệu lực diệt sâu chậm, nhưng hiệu quả kéo dài.

4.2. Đề nghị

– Đưa chế phẩm sinh học nấm Metarhizium anisopliae làm một thành phần không thể thiếu trong biện pháp quản lý dịch hại côn trùng.

– Truyền thông hơn nữa về tính năng tác dụng của chế phẩm sinh học nấm Metarhizium anisopliae, đặc biệt là có những trạm, trại bán, phân phối nhiều hơn để nông dân dễ dàng tiếp cận với chế phẩm sinh học này.

TS. Nguyễn Xuân Niệm

(PGĐ. Sở Khoa học & Công nghệ Kiên Giang)

SUMMARY

USING PRE-PRODUCTS OF FUNGUS Metarhizium anisopliae

IN MANAGING SOME HARMFUL INSECTS OF PLANTS IN KIEN GIANG PROVINCE

 

Nguyen Xuan Niem

(Department of Science & Technology in Kien Giang province)

The fungus Metarhizium anisopliae distributing having host range widely on harmful insect species. Kien Giang, a province of the Mekong Delta, has crop diversity in quite height, mainly rice, pineapple, sweet potato, Avicennia plant (belonging to the mangroves forest). The last time, they were attacked by harmful insects (rice brown plant hopper Nilaparvata lugens Stal.; mealybugs on pineapple Dysmicoccus brevipes Cockerell; sweet potato weevil Cilas formicarius Fabricius; leaf-eating insect of Avicennia plant Hyblaea puera Cramer. Study and application of probiotics fungus Metarhizium anisopliae on some pests gain high efficiency over 50% of 5 days after application but no damaging to the predators. Fungus Metarhizium anisopliae has potential parasites killing many harmful insects, both economic efficiency (profit VND 2,210,000 per ha, in which cost reduction of chemicals VND 1,090,000 and ensuring ecological sanitation as well as food hygiene and safety.

Key words: Metarhizium anisopliae; Kien Giang province; rice brown plant hopper Nilaparvata lugens Stal.; mealybugs of pineapple Dysmicoccus brevipes Cockerell; sweet potato weevil Cilas formicarius Fabricius; leaf-eating insect of Avicennia plant Hyblaea puera Cramer.

Tài liệu tham khảo chính

  1. Nguyễn Thị Lộc và ctv. (2013), Chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm nấm xanh Ometar ở quy mô nông hộ và xây dựng mô hình ứng dụng Ometar trừ rầy nâu hại lúa tại tỉnh Kiên Giang. Đề tài cấp tỉnh; Hoàn thành báo cáo 11/2013 nộp tại Sở KH&CN Kiên Giang. 135 trang.
  2. Võ Quang Minh và ctv. (2012), Cải thiện năng suất, chất lượng cây khóm Gò Quao – biện pháp bảo quản chế biến sau thu hoạch. Đề tài cấp tỉnh; Hoàn thành báo cáo 9/2012 nộp tại Sở KH&CN Kiên Giang. 236 trang.
  3. Nguyễn Xuân Niệm (2010), Nghiên cứu Bọ cánh cứng hại dừa (Brontispa longissima Gestro) ở Đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) có sử dụng chế phẩm sinh học từ Metarhizium anisopliae. Luận án Tiến sĩ Bảo vệ thực vật. Trường Đại học Cần Thơ, 2010. 209 trang.
  4. Phan Đức Sơn và ctv. (2010), Nghiên cứu, xác định thành phần loài sâu hại trên lá cây mắm (Avicennia spp.) và xây dựng quy trình diệt sâu hại bằng chế phẩm sinh học tại rừng mắm huyện An Minh và An Biên. Đề tài cấp tỉnh; Hoàn thành báo cáo 3/2010 nộp tại Sở KH&CN Kiên Giang. 102 trang.
  5. Võ Thị Hồng Thủy và ctv. (2011), Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP vào sản xuất khoai lang tại xã Mỹ Hiệp Sơn- huyện Hòn Đất. Đề tài cấp tỉnh; Hoàn thành báo cáo 7/2011 nộp tại Sở KH&CN Kiên Giang. 141 trang.

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s