BS NGUYỄN ANH HUY – VỀ TÁC GIẢ BỨC THƯ GỞI NHẬT BẢN NĂM 1601

(Trao đổi với Nhà nghiên cứu Sử học Nguyễn Quang Trung Tiến)

image003 Mới đây, ngày 22/11/2013, Đại học Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo Quốc tế “Lịch sử và triển vọng mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nhìn từ miền Trung Việt Nam”(1); và có thể nói tại hội thảo này đã quy tụ các nhà nghiên cứu đại diện cho giới Sử học cả 2 nước.

Vốn thích thú tìm hiểu sự tích các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tôi thường bị hấp dẫn bởi các bài viết về giai đoạn 1558-1802; và bây giờ được đọc bài “Những tồn nghi quanh nỗ lực bang giao giữa Nguyễn Hoàng với Nhật Bản cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII”(2) của Nhà nghiên cứu Sử học Nguyễn Quang Trung Tiến (NQTT, Trường Đại học Khoa học Huế).

         Tác giả bài viết đã tìm cách giải thích “Những tồn nghi…”, nhưng độc giả càng đọc thì thấy “Những tồn nghi” lại càng tăng thêm ! Để nắm rõ vấn đề, tôi đã tìm đọc thêm các cứ liệu trích dẫn của tác giả… Và để độc giả dễ hiểu hơn, tôi xin tóm tắt vấn đề như sau: 

        image003

Hình 1: Bức thư do Thụy Quốc công gởi Nhật Bản năm 1601

         Trong Hội thảo khoa học “Quảng Trị – Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1858 – 1613)” tổ chức tại Quảng Trị ngày 25/9/2013, có Nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang (VVQ) với một tham luận là “Một số nhận định về tác giả An Nam quốc thư của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong”(3). Đại ý bài viết của tác giả VVQ như sau:

Có một bức thư do chúa Nguyễn gởi cho Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang) ở Nhật Bản năm 1601 (Hình 1); tác giả bức thư là “瑞 國 公 (Thụy Quốc công)”. Các nhà nghiên cứu trước đây đều cho rằng bức thư này do “端 國 公 (Đoan Quốc công)” viết vì thời đó hai xứ Thuận Quảng (Thuận Hóa và Quảng Nam) do Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng (cha của Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên) giữ và mới đủ tư cách viết thư ngoại giao với Nhật Bản; còn vì sao chữ “端 (Đoan)” lại viết thành “瑞 (Thụy)” là do hai chữ Hán này gần giống nhau nên có thể do người viết bị nhầm. Tuy nhiên, tác giả VVQ đã dựa vào ấn triện đóng trên bức thư là “鎮 守 將 軍 之 印 (Trấn thủ Tướng quân chi ấn)” của Thụy Quốc công (Hình 2) khác với ấn của Đoan Quốc công là “總 鎮 將 軍 之 印 (Tổng trấn Tướng quân chi ấn)” (Hình 3), để phân biệt đồng thời kết luận bức thư này do Nguyễn Phúc Nguyên viết chứ không phải do Nguyễn Hoàng viết. Và dựa vào năm ghi trên bức thư là 1601, tác giả VVQ cho rằng việc Nguyễn Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam là từ năm 1601 chứ không phải là năm 1602 như Lê Quý Đôn đã ghi trong Phủ Biên Tạp Lục. Đây là 2 điểm mới được công bố, rất có giá trị khoa học để bổ túc lại cho sử liệu.

Thế nhưng, Nhà nghiên cứu NQTT đã bênh vực quan điểm cũ, cho rằng bức thư này là do Nguyễn Hoàng viết, để rồi khẳng định: “Lê Quý Đôn và sử thần triều Nguyễn không hề chép nhầm năm nhậm chức Trấn thủ Quảng Nam của Thụy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên”. Sự giải thích của tác giả NQTT dựa vào 3 luận điểm sau:

– Luận điểm 1: tước hiệu của Nguyễn Phúc Nguyên là “瑞 郡 公 (Thụy QUẬN công)” chứ không phải “瑞 國 公 (Thụy QUỐC công)”. Đây chính là tiên đề cho 2 luận điểm sau.

– Luận điểm 2: vì tước hiệu của Nguyễn Phúc Nguyên là “郡 公 (Quận công)”, mà chữ “郡 (quận)” hoàn toàn khác với chữ “國 (quốc)”, không thể viết nhầm lẫn nhau được. Nên khả năng còn lại là viết nhầm chữ “端 (Đoan)” thành “瑞 (Thụy)” ! Đây chỉ là hệ quả của Luận điểm 1, và là cách giải thích cũ đã có từ trước !

Tuy nhiên, chúng ta được biết ngày xưa không ai bằng tên húy là “Nguyễn Hoàng” mà gọi bằng tước hiệu “Đoan Quốc công” thay cho tên, cho nên tước hiệu đó cũng chính là một cái tên. Như vậy, khách quan mà nói, chỉ trừ người không biết chữ !, độc giả có thể chấp nhận được luận điểm rằng nếu bức thư do Nguyễn Hoàng viết, thì ông đã tự viết nhầm tên hiệu của mình được không ?

 image004            Hình 2: Trấn thủ Tướng quân chi ấn    

image005Hình 3: Tổng trấn Tướng quân chi ấn

         – Luận điểm 3: Nhà nghiên cứu NQTT giải thích: Sự khác nhau về dấu ấn triện trên thư tùy thuộc vào bức thư được viết tại Thuận Hóa (dùng Tổng trấn Tướng quân chi ấn) hay Quảng Nam (dùng Trấn thủ Tướng quân chi ấn). Và dù đóng ấn nào, chúa Nguyễn Hoàng đều vẫn giữ trọn ngôi vị “chúa” của mình, vì chúa kiêm quản cả hai vùng Thuận Hóa và Quảng Nam!”.

Luận điểm này cũng là một hệ quả suy luận từ Luận điểm 1. Và cũng khách quan mà nói, độc giả có thể chấp nhận luận điểm rằng một vị quan chức to mà đi đóng dấu bằng chức vị nhỏ hơn vào văn bản ngoại giao của mình được không ?

Ngày xưa, người ở đâu thì đem ấn theo ở đấy, vì quả ấn là sự hiện diện bản thân mình ! Ví dụ như vua Hàm Nghi khi xuất bôn chống Pháp, “trong khi vội vã, chỉ soạn được cái ấn ngự tiền văn lý mật sát và ấn kiềm 2 quả…”(4). Một chứng cứ khác nữa là năm 1597, Đoan Quốc Công lúc đó đang ở Thăng Long, đã gởi công văn cho Lương Văn Chánh ở Phú Yên, trong thư dùng dấu “Tổng trấn Tướng quân chi ấn” (Hình 4), cho thấy đi đâu ngài đem ấn theo đấy !, chứ không thể có chuyện Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam mà dùng khuôn dấu của người con như Nhà nghiên cứu NQTT giải thích được !

        image006 Hình 4: Công văn của Nguyễn Hoàng viết từ Thăng Long năm 1597 gởi Lương Văn Chánh ở Phú Yên, đóng dấu “Tổng trấn Tướng quân chi ấn”.

         Vả lại, nếu năm 1602 Nguyễn Hoàng mới phân quyền cho con giữ Quảng Nam như NQTT đã khẳng định, như vậy, năm 1601 chưa có việc trấn thủ Quảng Nam thì làm sao lại có cái ấn “Trấn thủ Tướng quân chi ấn” được ? Ai đúc ấn ?, và đúc để làm gì ? Lẽ nào Nguyễn Hoàng đã có ấn “Tổng trấn” kiêm quản cả hai xứ Thuận Quảng rồi, lại đúc thêm cho chính bản thân mình một cái ấn “Trấn thủ” với chức vụ nhỏ hơn ở Quảng Nam ?

Để chứng minh cho Luận điểm 1, Nhà nghiên cứu NQTT viết: Vì thế, không hề đơn giản khi Lê Quý Đôn chép: “Năm Hoằng Định thứ 3 (1602), sai Thụy Quận công Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam”.13 Thậm chí, năm 1613 khi Nguyễn Phúc Nguyên lên kế nghiệp chúa, lúc đầu cũng chỉ được “các quan tôn làm Thống lãnh thủy bộ chư dinh, kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái bảo Thụy Quận công”. Vua Lê ở Đông Kinh sai sứ vào viếng, cũng chỉ “gia hàm Thái bảo, tước Quận công”14. Quan chế ấy của họ Nguyễn được duy trì thành nếp qua nhiều đời chúa, kéo đến trước đời chúa thứ 5 là Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691)15, nên Lê Quý Đôn mới có nhận xét rằng: “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần, tuy các đời vẫn khiến thần dân gọi là chúa, nhưng khi mới nối nghiệp chỉ xưng là Thái bảo Quận công. Mấy năm sau thần hạ mới suy tôn làm Thái phó Quốc công”16.

Các chú thích 13, 14, 15, 16, tác giả NQTT đều có ghi nguồn dẫn rõ ràng.

Vốn tò mò, tôi mở xem đúng sách mà tác giả NQTT đã trích dẫn số 13 thì được biết, nguyên văn, sách Lê Quý Đôn viết như sau: “Năm Hoằng Định thứ 3 (1602), Nhâm Dần, sai Thụy Quận công Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam. Năm thứ 14, Quý Sửu, tháng 6, ngày mồng 3, Đoan Quốc công chết, trước sau làm trấn thủ 56 năm, thọ 89 tuổi, tặng Cẩn Nghĩa công, thụy là Cung Ý. Con là THỤY QUỐC CÔNG Phúc Nguyên thay giữ việc quân, được sai nối kiêm trấn thủ Thuận Quảng, gia hàm Thái bảo. Bấy giờ tuổi đã 51, Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi, tự xưng là Thống lĩnh thủy bộ chư dinh kiêm chưởng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự…”(5).

Đáng ra, tác giả NQTT phải nên trích dẫn đầy đủ ý của Lê Quý Đôn như tôi vừa trích dẫn và tìm cách biện luận loại trừ vì sao Lê Quý Đôn viết có cả 2 tước hiệu của Nguyễn Phúc Nguyên vừa “Quận công” vừa “Quốc công” như thế !; lẽ nào 3 chữ “Thụy Quốc công” chỉ cách có 2 dòng mà lại không đọc, không thấy ?!

Để hỗ trợ cho Luận điểm 1, Nhà nghiên cứu NQTT đã bình luận: “dựa vào nội dung trong bức thư gửi Tokugawa Ieyasu năm 1601, người viết thư nói rằng “nay ta mới nhận chức Đô thống Nguyên soái”, năm ngoái (1600) “ta ở Đông Kinh” (Thăng Long), “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này”9… Khẩu khí và câu chuyện đó không phải của Nguyễn Phúc Nguyên, mà có thể khẳng định đó là chuyện của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng sau 7 năm bị cầm chân ở đất Bắc (1593 – 1600), đã bỏ Thăng Long trốn chúa Trịnh về đất Thuận Quảng để tìm chỗ dung thân, ngõ hầu xây dựng sự nghiệp riêng” .

Nói rằng “câu chuyện đó không phải của Nguyễn Phúc Nguyên” vì lý do trong thư viết là “năm ngoái (1600) “ta ở Đông Kinh” (Thăng Long), “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này””, thì độc giả nên đọc thêm đoạn sử sau:

“Kính Tông, năm Thuận Đức thứ 1 (1600)… Đoan Quốc công thấy mình công danh ngày càng lớn mà không từng được thưởng thêm… không yên tâm, mưu xử bọn thủy tướng quân… làm phản… rồi tự xin đi đánh, đến nơi giả cách thua, bèn do đường biển về thẳng Thuận Hóa. Thành Tổ (Trịnh Tùng) nghĩ tình chí thân, gởi thư vỗ về yên ủy, lấy nghĩa lớn mà trách bảo. Đoan Quốc công xin ở đấy để trấn thủ, được y cho. Đoan Quốc công trấn thủ hai xứ đến đấy đã 40 năm rồi… đến bấy giờ lại về trấn cũ. Có mười con, đem bọn THỤY QUẬN CÔNG Phúc Nguyên là con thứ sáu ĐI THEO, và sai 3 người con… ở cạnh đường mà tạ tội, xin ở lại làm con tin. Tháng 10 năm ấy, lại dâng con gái làm chính phu nhân của vương thế tử Thanh Quận công”(6).

Như vậy, khi ra Thăng Long tham gia đánh nhà Mạc, Nguyễn Hoàng đã đưa nhiều người con đi theo, và khi trốn về Nam, đã dắt Nguyễn Phúc Nguyên cùng về, còn những người con khác thì cho ở lại Thăng Long làm con tin. Rõ ràng Nguyễn Phúc Nguyên cũng có ra Đông Kinh tham chiến, và có thể đã được vua Lê phong tước “Thụy Quận công”, rồi sau đó cùng cha trốn về Thuận Hóa. Như vậy cái câu trong thư viết là “năm ngoái (1600) “ta ở Đông Kinh” (Thăng Long), “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này””, do Nguyễn Phúc Nguyên viết cũng không sai !

Còn phân tích về “khẩu khí” thì không cùng, nhưng nếu nói Nguyễn Phúc Nguyên không có khẩu khí đó thì e phải nên tìm hiểu sâu hơn về nhân vật lịch sử này… Như chuyện Nguyễn Phúc Nguyên “-Ta không nhận sắc” phong của chúa Trịnh, viết thư cho Nhật Bản mà tự xưng là “An Nam quốc quốc vương”, gọi đất của chúa Trịnh là “nơi thù địch với tôi”… đều thể hiện khẩu khí của vị tướng 40 tuổi còn tính tình còn cương mãnh…

Và nếu nói bức thư đó là khẩu khí của Nguyễn Hoàng thì phải xét lại: khi ông đã trốn về được Thuận Hóa, như rồng ra biển, nếu trở mặt đánh nhau, chưa chắc chúa Trịnh đã làm gì được ! Thế nhưng ông đã cử những người con ruột đón chúa Trịnh ở cạnh đường để tạ tội bỏ trốn và ở lại Đàng Ngoài làm con tin với chúa Trịnh, đồng thời gả con gái mình cho thế tử họ Trịnh… Một người 76 tuổi, đã bị giam lỏng ở miệng cọp 8 năm mới trốn được và phải dùng những biện pháp nhu hòa như vậy, lẽ nào viết thư ngoại giao lại có khẩu khí như thế sao ?!

Nhà nghiên cứu NQTT viện cớ “trong thời gian chúa Nguyễn Hoàng còn tại vị, chỉ có Thụy Quận công (瑞郡公) bên cạnh Đoan Quốc công (端國公), chứ không thể có chuyện Thụy Quốc công (瑞國公) xen lẫn Đoan Quốc công (端國公) trong các văn bản thư từ, không thể cùng một lúc có đến hai vị “chúa”!”. Ở đây không phải là chuyện một nước có hai mặt trời, mà ở chỗ là hai cha con Nguyễn Hoàng – Nguyễn Phúc Nguyên tâm ý tương thông, con có thể thay cha quyết mọi việc mà không cần hỏi ý cha ! Còn người cha, luôn tìm cách xây dựng nền tảng cho đứa con cưng bằng cách không gây hấn với chúa Trịnh, mà chỉ mềm mỏng ngoại giao, kéo dài thời gian hòa hoãn để củng cố lực lượng… cho đến khi lâm chung mới trăng trối hoài bão chống Trịnh của mình…

Riêng vì sao vua Lê chỉ phong làm “Thụy Quận công” như tôi giả thiết, mà có lúc lại viết là “Thụy Quốc công”, thì chính tác giả NQTT đã dẫn ra rồi ở chú thích số 16, mà không đọc kỹ: “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần, tuy các đời vẫn khiến thần dân gọi là chúa, nhưng khi mới nối nghiệp chỉ xưng là Thái bảo Quận công. Mấy năm sau THẦN HẠ mới SUY TÔN làm Thái phó QUỐC CÔNG”(7). Nghĩa là tuy vua Lê chỉ phong “Quận công”, nhưng khi vào Quảng Nam thì quân dân ở đây tôn xưng luôn thành “Quốc công” và từ đó mới hình thành nên danh xưng “Quảng Nam quốc (nước Quảng Nam)” !

Và để chứng minh thêm cho sự giải thích này, tôi xin trích từ mục “Phàm lệ” của Lê Đản viết trong Nam Hà tiệp lục như sau: “Tkhi [Đoan Quốc công] vào Thuận Hóa trở về sau các chúa được tập phong công tước, hoặc xưng Quận công hoặc xưng QUỐC CÔNG. Triều đình [nhà Lê] gọi là Quận công, bề tôi và dân chúng trong cõi Nam Hà đều gọi là QUỐC CÔNG(8)

Như vậy, vấn đề danh xưng “Thụy Quốc công” đã rõ, nghĩa là bức thư ấy do Nguyễn Phúc Nguyên viết, chứ không phải do Nguyễn Hoàng viết !

Viết đến đây, tôi lấy làm thắc mắc: bức thư nói trên là một TÀI LIỆU GỐC do chính tay người đương thời viết, thế mà Nhà nghiên cứu NQTT đã chối bỏ, nhưng không hiểu vì sao (?) ngược lại, lại đi tin vào một lời kể của Lê Quý Đôn cách sau đó gần 200 năm !

Bài viết của Nhà nghiên cứu NQTT còn rất nhiều chổ giải thích sai, mâu thuẫn nội tại, nhưng thiết nghĩ không thuộc nội dung cuộc trao đổi này… ví dụ như đã giải thích rằng “Phúc Nghĩa hầu”, người viết bức thư gởi Nhật Bản năm 1591, có thể chính là Nguyễn Phúc Nghĩa, một tên riêng của Nguyễn Phúc Nguyên ! Giải thích như thế thì sẽ lòi ra hai chổ:

1, Không ai đem tên húy ra mà gọi làm tước hiệu cả !, nhất là đối với vua chúa, đó là một sự kiêng cữ, và tạo thành sự “kỵ húy” ! Ví dụ như chợ “Đông Ba” ở Huế nguyên có tên là “Đông Hoa”, nhưng vì kỵ húy tên bà Hồ Thị Hoa mẹ vua Thiệu Trị nên phải đổi thành “Đông Ba”.

2, Việc phong tước đã có quy định rõ: “tước Quốc công, tước Quận công lấy phủ, huyện làm hiệu, chỉ dùng 1 chữ…, tước hầu, tước bá lấy xã làm hiệu, dùng cả 2 chữ…”(9). Như vậy, “Phúc Nghĩa hầu” là một người tước hầu ở Xã PHÚC NGHĨA !, chứ không phải là một tên riêng của Nguyễn Phúc Nguyên !

Chỉ là một bác sĩ y khoa, vì mong tìm hiểu lịch sử nước nhà để xây dựng lòng tự hào Dân tộc Việt mình, nhưng khi đọc bài này, tôi lấy làm buồn vì Ban Tổ chức Hội thảo Quốc tế toàn là “Giáo sư” với “Tiến sĩ”… lẽ nào khi đọc để biên tập bài này đều không thấy những điểm như tôi vừa trao đổi ?

Và nếu giới Sử học quốc tế đọc được bài này, thì họ sẽ đánh giá giới Sử học Việt Nam như thế nào ?!

Huế, Noel 2013.

NAH

         Chú thích:

(1) Xem thêm: http://www.udn.vn/posts/view/1062/58/, hoặc: http://japan-danang.org/index.php/vi/tin-tuc-da-nang-nhat-ban/397-hoi-thao-lich-su-va-trien-vong-quan-he-viet-nam-nhat-ban-nhin-tu-mien-trung-viet-nam

(2) Nguyễn Quang Trung Tiến. “Những tồn nghi quanh nỗ lực bang giao giữa Nguyễn Hoàng với Nhật Bản cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII”. Kỷ yếu Hội thảo “Lịch sử và triển vọng mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nhìn từ miền Trung Việt Nam”. Đại học Đà Nẵng. Ngày 22/11/2013.  

(3) Võ Vinh Quang. “Một số nhận định về tác giả An Nam quốc thư của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quảng Trị – Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1858 – 1613)”. Triệu Phong. Ngày 25/9/2013.

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. Tập 9. Nhà xuất bản Giáo dục. 2007. Trang 139.

(5) Lê Quý Đôn. Toàn tập, Tập I: Phủ biên tạp lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 52.

(6) Lê Quý Đôn. Sách đã dẫn. Trang 51.

(7) Lê Quý Đôn. Sách đã dẫn. Trang 67.

(8) Lê Đản (黎亶, Trần Đại Vinh dịch). 南河捷錄 (Nam hà tiệp lục, ký hiệu A.586, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Số 3-4 (92-93). 2012. Trang 09.

(9) Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1992. Tập 1. Trang 530.

 

7 comments

  1. TS. Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng nói:

    Cám ơn BS Nguyễn Anh Huy đã có bài phản biện bài tham luận của tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến tại hội thảo quốc tế Việt – Nhật tổ chức tại Đại học Đà Nẵng vừa qua. Những phản biện thế này sẽ khiến cho không khí học thuật trở nên sôi động và những tồn nghi của lịch sử sẽ được bàn luận công khai hơn, rốt ráo hơn.
    Tuy nhiên, câu kết trong bài viết của BS. Nguyễn Anh Huy “tôi lấy làm buồn vì Ban Tổ chức Hội thảo Quốc tế toàn là “Giáo sư” với “Tiến sĩ”… lẽ nào khi đọc để biên tập bài này đều không thấy những điểm như tôi vừa trao đổi” là hoàn toàn chủ quan và chứng tỏ tác giả không hề biết thông lệ của hội thảo khoa học, nhất là các hội thảo quốc tế. Đó là, ban tổ chức các hội thảo khoa học chỉ được phép sửa chữa lỗi chính tả, lỗi trình bày và thống nhất định dạng các tham luận để trình bày cho hợp logic khi in kỷ yếu hội thảo, mà không có quyền sửa chữa, thay đổi các quan điểm, luận điểm được đưa ra trong tham luận. Các tác giả tham luận sẽ trình bày các quan điểm, luận điểm khoa học của mình tại hội thảo và sẽ nhận được các ý kiến tranh luận phản biện trực tiếp tại hội thảo. Sau đó, họ sẽ xem xét có tiếp thu các ý kiến phản biện hay bảo lưu quan điểm của mình hay không? Sau khi hội thảo kết thúc, Ban tổ chức hội thảo sẽ yêu cầu tác giả các tham luận bổ túc, hiệu chỉnh tham luận cho hoàn chỉnh rồi mới in thành sách hay kỷ yếu chính thức. Vì thế, mà rất nhiều học giả khi gửi bài tham luận cho một hội thảo khoa học nào đó thường chỉ gửi các tóm tắt hoặc đề cương trình bày, kể cả khi gửi các bài viết tương đối hoàn chỉnh thì họ cũng cẩn thận ghi là “bản thảo chưa hoàn chỉnh, không trích dẫn”.
    Vì thế, BS. Nguyễn Anh Huy không nên trách cứ ban tổ chức hội thảo vì “không phát hiện” ra “những điểm sai” của tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến (theo nhận định của BS. Nguyễn Anh Huy), vì đó là công việc của các nhà khoa học tại hội thảo, không phải là công việc của ban tổ chức hội thảo. Ngoài ra, BS. Nguyễn Anh Huy cũng không nên “lo lắng” rằng “nếu giới Sử học quốc tế đọc được bài này, thì họ sẽ đánh giá giới Sử học Việt Nam như thế nào” vì không ai trách móc Ban tổ chức một cách kỳ quặc và chủ quan như BS Nguyễn Anh Huy cả và đánh giá giới Sử học Việt Nam trong chuyện này cả.
    Trân trọng góp ý.
    TS. Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng

    Số lượt thích

    • Trao đổi lại với những người nhiệt huyết
      Hôm nay đi công chuyện, tình cờ sóng đôi cùng Phạm Ngọc Bảo Liêm, mới biết BS. Nguyễn Anh Huy có bài viết về một tham luận của mình ở Đà Nẵng, có Trần Đức Anh Sơn tham gia trao đổi nữa, cùng một vài bạn comment vào fb BS. Huy, như Võ Bình Nguyên, Phonglai Trandinh…
      Mình và Huy đã quen biết nhau khá lâu, nên thấy rất vui vì nhiệt huyết và sự thẳng tính của BS. Huy, khi bạn tham gia vào “những tồn nghi” mà mình đặt ra nhưng cũng “gỡ” chưa hết!
      Cũng giống như bạn Võ Vinh Quang đã đưa ra những chứng lý thú vị khi trình bày tham luận trong hội thảo ở Quảng Trị, khiến mình đọc thấy thích, rồi muốn phản biện những điều chưa thuyết phục mình. Nhưng mình chỉ phản biện thuần túy ý tưởng của VVQ thôi, không quy kết gì về tác giả hết, và mình cũng khẳng định những trao đổi của mình chưa hẳn đã ổn, cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm.
      Đọc bài BS. Huy, mình có cảm nhận ngoài tính phản biện, bạn còn có vẻ muốn điều gì hơn thế nữa, và mình không rõ lắm!
      Dù sao, cũng cảm ơn những ý kiến của bạn, bởi sự trao đổi làm tri thức nẩy nở thêm cho chính mình.
      Tuy nhiên, có vài điều mình muốn comment lại (từng đoạn ngắn thôi, không viết thành bài như bạn được) với một số phủ định hay nghi vấn bạn nêu ra trong bài, vì xét thấy cần thiết cho cả hai và những người quan tâm:
      1/ BS. Huy viết: “Không thể có chuyện Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam mà dùng khuôn dấu của người con như Nhà nghiên cứu NQTT giải thích được !”
      Comment: Bạn hiểu không đúng, hoặc diễn đạt không giống ý trong bài mình rồi. Bài viết của mình không hề nói toàn bộ các bức thư ngoại giao đó (với Nhật Bản) đều do chúa Nguyễn Hoàng viết, mà khi thì chính ông viết, khi thì Nguyễn Phúc nguyên hoặc cận thần viết ở hai xứ khác nhau (ngồi viết ở xứ nào dùng ấn xứ đấy, chứ không phải Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam mà dùng ấn của người con), nhưng tất cả đều mang danh nghĩa của Nguyễn Hoàng! Và vì thế, đó có thể là nguyên nhân dẫn đến sự viết nhầm chữ Đoan (端) thành chữ Thụy (瑞) vì chúng gần giống nhau (còn ấn ở đâu, xin xem dưới mục 2).
      2/ BS. Huy viết: “Vả lại, nếu năm 1602 Nguyễn Hoàng mới phân quyền cho con giữ Quảng Nam như NQTT đã khẳng định, như vậy, năm 1601 chưa có việc trấn thủ Quảng Nam thì làm sao lại có cái ấn “Trấn thủ Tướng quân chi ấn” được ? Ai đúc ấn ?, và đúc để làm gì ? Lẽ nào Nguyễn Hoàng đã có ấn “Tổng trấn” kiêm quản cả hai xứ Thuận Quảng rồi, lại đúc thêm cho chính bản thân mình một cái ấn “Trấn thủ” với chức vụ nhỏ hơn ở Quảng Nam ?”
      Comment: Bạn ơi, dưới thời Lê, hai xứ/thừa tuyên Thuận Hóa và Quảng Nam ngang nhau về hành chính, mỗi nơi có 1 Trấn thủ riêng, có ấn Trấn thủ Tướng quân chi ấn riêng trước rồi. Năm 1558, khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa, thì Trấn Quốc công Bùi Tá Hán làm Trấn thủ Quảng Nam đó mà! Năm 1568, Bùi Tá Hán mất, nhà Lê cho Nguyên Quận công Nguyễn Bá Quýnh thay thế làm Trấn thủ Quảng Nam.
      Đến 1570, nhà Lê rút Nguyễn Bá Quýnh về, và Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng được phong làm Thống suất Tổng trấn Tướng quân kiêm quản hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam (chiếc ấn Tổng trấn Tướng quân chi ấn của Nguyễn Hoàng ra đời từ đây, và dĩ nhiên chiếc ấn Trấn thủ Tướng quân chi ấn xứ Quảng Nam cũng được bàn giao về tay ông). Năm 1571, Nguyễn Hoàng phái Dũng Quận công làm Lưu thủ xứ Quảng Nam, và có lẽ (có lẽ thôi nhé!) từ đó cho đến năm 1602 trước khi Nguyễn Phúc Nguyên được bổ làm Trấn thủ, chiếc ấn Trấn thủ Tướng quân chi ấn xứ Quảng Nam do các đời quan Lưu thủ ở đó quản lý (Chắc rằng xử lý việc giao thương với nước ngoài ở Hội An và cửa biển Đà Nẵng, cũng như việc cai quản từ Quảng Nam trở vào, đòi hỏi phải có ấn Trấn thủ Tướng quân).
      3/ BS. Huy viết: “Sách Lê Quý Đôn viết như sau: “Năm Hoằng Định thứ 3 (1602), Nhâm Dần, sai Thụy Quận công Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam. Năm thứ 14, Quý Sửu, tháng 6, ngày mồng 3, Đoan Quốc công chết, trước sau làm trấn thủ 56 năm, thọ 89 tuổi, tặng Cẩn Nghĩa công, thụy là Cung Ý. Con là THỤY QUỐC CÔNG Phúc Nguyên thay giữ việc quân, được sai nối kiêm trấn thủ Thuận Quảng, gia hàm Thái bảo. Bấy giờ tuổi đã 51, Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi, tự xưng là Thống lĩnh thủy bộ chư dinh kiêm chưởng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự… Đáng ra, tác giả NQTT phải nên trích dẫn đầy đủ ý của Lê Quý Đôn như tôi vừa trích dẫn và tìm cách biện luận loại trừ vì sao Lê Quý Đôn viết có cả 2 tước hiệu của Nguyễn Phúc Nguyên vừa “Quận công” vừa “Quốc công” như thế !; lẽ nào 3 chữ “Thụy Quốc công” chỉ cách có 2 dòng mà lại không đọc, không thấy ?!”
      Comment: Bạn ơi, mắt mình chưa phải mang kính, đoạn đó mình đọc đi đọc lại nhiều lần lắm rồi mà! Mình không dẫn hết cả đoạn này, vì mình đoán (đoán thôi nhé, nhưng có kiểm tra những đoạn văn khác để hiểu Lê Quý Đôn muốn nói gì) Lê Quý Đôn dùng tước Thụy Quận công để chỉ Phúc Nguyên khi còn là công tử (con trai của chúa Nguyễn), dùng tước Thụy Quốc công để chỉ Phúc Nguyên sau khi đã kế nghiệp chúa. Lê Quý Đôn không lẫn lộn, chỉ ngại người đọc không hiểu đúng ý ông thôi! Trong bài viết, vì mình đang nói về đoạn Phúc Nguyên chưa làm chúa, chỉ mang tước Thụy Quận công, nên không đưa đoạn ông đã làm chúa với tước Thụy Quốc công vào đó mà! (còn vì sao Phúc Nguyên lúc chưa kế nghiệp chúa không mang tước Thụy Quốc công, xin xem ở mục 6)
      4/ BS. Huy viết: “Như vậy, khi ra Thăng Long tham gia đánh nhà Mạc, Nguyễn Hoàng đã đưa nhiều người con đi theo, và khi trốn về Nam, đã dắt Nguyễn Phúc Nguyên cùng về, còn những người con khác thì cho ở lại Thăng Long làm con tin. Rõ ràng Nguyễn Phúc Nguyên cũng có ra Đông Kinh tham chiến, và có thể đã được vua Lê phong tước “Thụy Quận công”, rồi sau đó cùng cha trốn về Thuận Hóa. Như vậy cái câu trong thư viết là “năm ngoái (1600) “ta ở Đông Kinh” (Thăng Long), “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này”, do Nguyễn Phúc Nguyên viết cũng không sai !”
      Comment: Bạn ơi, lập luận của đoạn này có vẻ bất ổn sao ấy! Nếu câu “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này” không phải khẩu khí của Nguyễn Hoàng, mà là của Nguyễn Phúc Nguyên, thì một điều phi thực tế là Nguyễn Hoàng mới là người “vâng lệnh Thiên triều” (vua Lê cử) đến vùng này (Thuận – Quảng), còn Nguyễn Phúc Nguyên chỉ là người vâng lệnh Nguyễn Hoàng vào Trấn thủ Quảng Nam thôi mà!
      5/ BS. Huy viết: “Riêng vì sao vua Lê chỉ phong làm “Thụy Quận công” như tôi giả thiết, mà có lúc lại viết là “Thụy Quốc công”, thì chính tác giả NQTT đã dẫn ra rồi ở chú thích số 16, mà không đọc kỹ: “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần, tuy các đời vẫn khiến thần dân gọi là chúa, nhưng khi mới nối nghiệp chỉ xưng là Thái bảo Quận công. Mấy năm sau THẦN HẠ mới SUY TÔN làm Thái phó QUỐC CÔNG”(7). Nghĩa là tuy vua Lê chỉ phong “Quận công”, nhưng khi vào Quảng Nam thì quân dân ở đây tôn xưng luôn thành “Quốc công” và từ đó mới hình thành nên danh xưng “Quảng Nam quốc (nước Quảng Nam)” !”
      Comment: Bạn ơi, mình đọc kỹ rồi mới dẫn ra, chứ không phải dẫn ra rồi mà không đọc kỹ, có lẽ do người đọc đọc không kỹ mà thôi! Câu này Lê Quý Đôn viết rất rõ nghĩa: tuy bắt dân gọi là chúa, nhưng mỗi vị chúa khi mới nối nghiệp cha thì chỉ xưng là Thái bảo Quận công, mấy năm sau bề tôi/thần dân mới suy tôn làm Thái phó Quốc công. Rõ ràng cụ Lê đã nói cho chúng ta biết rằng kể cả khi được lên làm chúa thay cha, chúa cũng chỉ mới xưng Quận công, mấy năm sau bề tôi mới suy tôn lên Quốc công. Cho nên, bạn diễn đạt câu này thành “tuy vua Lê chỉ phong “Quận công”, nhưng khi vào Quảng Nam thì quân dân ở đây tôn xưng luôn thành “Quốc công” là khác ý cụ Lê mất rồi!
      5/ BS. Huy viết: “Viết đến đây, tôi lấy làm thắc mắc: bức thư nói trên là một TÀI LIỆU GỐC do chính tay người đương thời viết, thế mà Nhà nghiên cứu NQTT đã chối bỏ, nhưng không hiểu vì sao (?) ngược lại, lại đi tin vào một lời kể của Lê Quý Đôn cách sau đó gần 200 năm !”
      “Và để chứng minh thêm cho sự giải thích này, tôi xin trích từ mục “Phàm lệ” của Lê Đản viết trong Nam Hà tiệp lục như sau: “Từ khi [Đoan Quốc công] vào Thuận Hóa trở về sau các chúa được tập phong công tước, hoặc xưng Quận công hoặc xưng QUỐC CÔNG. Triều đình [nhà Lê] gọi là Quận công, bề tôi và dân chúng trong cõi Nam Hà đều gọi là QUỐC CÔNG”.
      Comment: Bạn à, câu hỏi bạn đặt ra thật thú vị: Tại sao lại đi tin vào một lời kể của Lê Quý Đôn cách sau đó gần 200 năm (1776)? Mình thấy bạn rất có tính hoạt kê dí dỏm, khi bạn dẫn Nam Hà tiệp lục của Lê Đản ra đời sau tác phẩm của Lê Quý Đôn 35 năm nữa (1811), tức gần 200 năm + 35 năm, để khuyên người đọc đừng tin vào lời kể của Lê Quý Đôn “cách sau đó gần 200 năm”!
      Còn vì sao “TÀI LIỆU GỐC do chính tay người đương thời viết, thế mà Nhà nghiên cứu NQTT đã chối bỏ?”: Xin thưa bạn rằng mình không hề chối bỏ, mà tựa bài viết đã nói rất rõ mục tiêu của mình với hai chữ “tồn nghi” thôi mà! Vì sao mình tồn nghi “tài liệu gốc”? À, là do nó chứa đựng chi tiết không khớp với hiểu biết của mình về mặt chính trị-xã hội và tư liệu lịch sử đó thôi.
      Hãy xem qua thống kê của mình về tước hiệu của 5 vị chúa Nguyễn đầu tiên (tất nhiên trừ Nguyễn Hoàng) trước khi lên kế nghiệp chúa, được chắt lọc từ tư liệu của Lê Quý Đôn và nhiều nguồn khác, bạn sẽ suy nghĩ lại là ghi chép của Lê Quý Đôn đáng tin hay không:
      -Đời thứ 1: Nguyễn Hoàng, tước Đoan Quốc công
      -Đời thứ 2: Nguyễn Phúc Nguyên, tước Thụy Quận công
      -Đời thứ 3: Nguyễn Phúc Lan, tước Nhân Lộc hầu
      -Đời thứ 4: Nguyễn Phúc Tần, tước Dũng Lễ hầu
      -Đời thứ 5: Nguyễn Phúc Thái, tước Hoằng Ân hầu
      Qua thống kê này, chắc ai cũng thấy rõ 4 con cháu của Nguyễn Hoàng trước khi lên ngôi chúa không hề mang tước Quốc công (dành riêng cho chúa), mà cao nhất là Quận công (Nguyễn Phúc Nguyên), còn lại cũng chỉ mới tước hầu. Vậy có nên hoài nghi hay không khi nói công tử Nguyễn Phúc Nguyên mang tước Thụy Quốc công (khi chưa lên ngôi chúa)?
      Không rõ bạn thế nào, nhưng với hiểu biết của mình, mình xem đó là một tồn nghi!
      TB: Thật ra, trao đổi học thuật cũng chỉ là câu chuyện đời thường, nếu mình biết nâng niu tình cảm giữa mình và mọi người! Chúc các bạn luôn yên bình!

      Số lượt thích

      • Tôi, Nguyễn Anh Huy, xin cảm ơn ý kiến phản hồi của Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Trung Tiến. Tôi không có ý kiến gì thêm. Các bức thư của chúa Nguyễn gởi cho Nhật Bản còn rất nhiều chứng cứ khác, chúng ta có thể tìm hiểu sâu thêm thì sẽ rõ vấn đề.
        Trân trọng,
        Nguyễn Anh Huy

        Số lượt thích

      • Kính gởi Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Trung Tiến,
        Như comment của tôi đã viết hồi nãy, “-Tôi không có ý kiến gì thêm”, vì tôi (Xin phép anh cho tôi xưng bằng “anh” và “tôi” cho dễ) không muốn tổn thương hòa khí.
        Tuy nhiên, tôi nhớ ra rằng và cần báo anh rõ và cũng để XIN LỖI ANH rằng tôi đã có gởi bài này cho tạp chí Xưa-Nay (không có phần mà TS Trần Đức Anh Sơn đã góp ý). Dù sao, CHUYỆN ĐÃ LỠ !, tôi không hề sợ chuyện đúng sai !, nếu tôi sai mà anh chứng minh đúng, thì tôi không có tính cố chấp mà sẽ thẳng thắn tự nhận mình sai theo tinh thần khoa học, để người trong cuộc trao đổi sẽ thoải mái hơn.
        Vậy, như trên đã nói, tôi đã gởi cho tờ XN rồi, và tôi xin chịu trách nhiệm khoa học về các ý kiến của tôi, do vậy, nếu cần thiết thì anh và tôi cũng có thể tiếp tục trao đổi trên tờ XN cho rõ vấn đề, thì tôi cũng sẽ chấp nhận NHẬN SAI *trên báo) nếu được chứng minh sai.
        Riêng tôi, cái câu “vâng lệnh Thiên triều đến vùng này” thì tôi có giả thuyết rằng trong thời gian ở Thăng Long, Nguyễn Phúc Nguyên được vua Lê phong tước Thụy Quận Công và cho trấn thủ Quảng Nam ! Tình huống này tuy sử 200 năm sau không có ghi, nhưng CŨNG CÓ THỂ CÓ lắm chứ !, không biết anh có lường được tình huống này không ? Riêng tôi, thì tôi có nghĩ đến tình huống này…
        Còn chuyện anh dẫn:
        -Đời thứ 1: Nguyễn Hoàng, tước Đoan Quốc công
        -Đời thứ 2: Nguyễn Phúc Nguyên, tước Thụy Quận công
        -Đời thứ 3: Nguyễn Phúc Lan, tước Nhân Lộc hầu
        -Đời thứ 4: Nguyễn Phúc Tần, tước Dũng Lễ hầu
        -Đời thứ 5: Nguyễn Phúc Thái, tước Hoằng Ân hầu
        Thì rất dễ giải thích: Nguyễn Phúc Nguyên đã trả “-Ta không nhận sắc !”, và trở mặt đánh nhau, nên vua Lê (mà ở đây là chúa Trịnh) không sắc phong nữa. Và các người con, cháu tiếp theo chỉ mang tước “hầu”, ĐÓ LÀ MẶC ĐỊNH !
        Vài hàng trao đổi với anh.
        Kính,
        Nguyễn Anh Huy

        Số lượt thích

  2. TS. Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng nói:

    Cám ơn BS. Nguyễn Anh Huy đã có ý kiến phản hồi và tiếp nhận góp ý của tôi. Tôi chỉ góp ý để mong các bên hiểu thêm, tránh những phê bình không đáng có. Mong năm mới 2014 có thêm nhiều vấn đề hay để phản biện, góp ý. Trân trọng.
    TDAS

    Số lượt thích

    • Mến gửi Trần Đức Anh Sơn, Nguyễn Anh Huy và các bạn yêu học thuật
      Mình rất vui vì thái độ tôn trọng học thuật của các bạn trên diễn đàn này, nên sẽ không tiếp tục trao đổi theo cách “nói qua nói về” kiểu tư biện đầy cảm tính, vì sẽ không giải quyết được “những tồn nghi” đã đặt ra.
      Lịch sử có tầng văn hóa của nó. Đó là lý do các nhà Khảo cổ học luôn quan tâm nghiên cứu tầng văn hóa khi tác nghiệp, để có những đối sánh các mối quan hệ văn hóa trước lúc nêu lên quan điểm hay đánh giá của mình về vấn đề được nghiên cứu.
      Vì thế, mình tin nhà bác học Lê Quý Đôn ghi chép đúng (Nguyễn Phúc Nguyên không mang tước Thụy Quốc công trước thời điểm lên ngôi chúa năm 1613), và bày tỏ sự hồ nghi một số văn bản ngoại giao với Nhật Bản thời Nguyễn Hoàng còn sống đã nhầm chữ Đoan (端) thành chữ Thụy (瑞) do chúng viết gần giống nhau.
      Vậy, muốn chứng minh Nguyễn Phúc Nguyên đã mang tước Thụy Quốc công ngay từ thời chưa lên ngôi chúa, và các bức thư ngoại giao với Nhật Bản trước năm 1613 đã “ký tên” đúng, thì chúng ta cần tìm ra những loại văn bản khác cùng “tầng văn hóa” (hành chính, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội…) có ký tên Thụy Quốc công trước năm 1613 để chứng minh!
      Lý do: Nếu Nguyễn Phúc Nguyên đã mang tước Thụy Quốc công trước năm 1613 (và lại có thời gian hơn 10 năm giữ chức Trấn thủ Quảng Nam trước khi kế nghiệp Nguyễn Hoàng), thì 3 chữ THỤY QUỐC CÔNG dĩ nhiên không chỉ có trong mấy văn bản ngoại giao với Nhật Bản mà các học giả đã hồ nghi!
      Quả tình, đến giờ mình vẫn chưa tiếp cận được văn bản nào ký tên Thụy Quốc công trước năm 1613 cả, ngoại trừ các bức thư ngoại giao với Nhật Bản đã đề cập, nên mình vẫn xem đó là một “tồn nghi”, giống như nhiều học giả khác đã hồ nghi. Mình có đem vấn đề này trao đổi với NNC Trần Đại Vinh, nhưng anh Vinh cũng bảo là chưa hề tìm thấy.
      Không rõ các bạn Trần Đức Anh Sơn, Nguyễn Anh Huy, Võ Vinh Quang, Trần Văn Quyến, Trần Đình Hằng hoặc các bạn khác đã tiếp cận được dạng tư liệu như vậy chưa? Nếu đã, xin cho mình thông tin và rất hoan hỷ nếu những tồn nghi được giải mã!
      Tóm lại, học thuật không bao giờ phân chia trận tuyến như đấu tranh xã hội, không có “địch và ta”, mà chỉ là sự tranh luận hay trao đổi giữa nhiều luồng ý kiến khác nhau với mục tiêu chung là để tìm ra kết quả đúng, đảm bảo tính khoa học khách quan và phục vụ lợi ích xã hội.
      Chúng ta hãy cố gắng cùng nhau tìm ra chứng lý trên các loại văn bản khác ký tên Thụy Quốc công ở thời điểm trước năm 1613! Ngày nào còn chưa thấy chúng, sự hồ nghi vẫn còn đó, và càng không thể không trân trọng những ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn về vấn đề này!
      Chúc các bạn yên bình!

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s