BS NGUYỄN ANH HUY – NGHI ÁN VỀ TIỀN KIẾN PHÚC

image002Sau khi vua Tự Đức mất vào ngày 19/7/1883, trong vòng 4 tháng, đã có 3 vị vua lần lượt nối ngôi là:
– Dục Đức: thừa kế được 3 ngày, bị phế.
– Hiệp Hòa: lên ngôi ngày 30/7/1883, làm vua được khoảng 4 tháng thì bị phế, mất ngày 30/10 (âm lịch) năm Quý Mùi, tức ngày 29/11/1883.
– Kiến Phúc: lên ngôi ngày 03/11 (âm lịch) năm Quý Mùi 1883, mất ngày 10/6 (âm lịch) năm Giáp Thân, tức ngày 31/7/1884, miếu hiệu là “Giản tông Nghị hoàng đế” tương ứng với “Nghị đỉnh”, thờ trong Thế miếu.  
Chính vậy, thời đó có câu:

Nhất giang lưỡng quốc, ngôn nan thuyết,

Tứ nguyệt tam vương, triệu bất tường !

Không phải chỉ vấn đề chính trị thời ấy như vậy, mà ngay cả đối với các nhà nghiên cứu tiền tệ như tôi, cho đến nay, việc giám định những đồng tiền thời này vẫn “ngôn nan thuyết” vì chúng cũng có những “triệu bất tường”: tiền “ (Kiến Phúc thông bảo)”, có hai loại, bằng đồng và bằng kẽm.

Trước đây, trong sách của mình, do bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của cha tôi (nhà sưu tập tiền cổ Nguyễn Văn Cường), nên khi viết về tiền này, tôi chỉ nói một lời cộc lốc là “- Qua quá trình tìm hiểu thực tế, tôi được biết các loại tiền Kiến Phúc, hình ảnh trong các sách đều là tiền giả !(1). Tuy nhiên, việc sưu tập và nghiên cứu tiền cổ trên thế giới ngày càng phát triển, một lời nói không thể đáp ứng được mọi sự thắc mắc, nên nay, tôi muốn triển khai thêm:

1. Về đồng tiền bằng đồng, ở Việt Nam, tôi đã thấy và chỉ thấy 2 đồng giống nhau ở Hà Nội, mà hầu hết các nhà sưu tập, nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay đều nhất trí là tiền giả:

– Một đồng trước đây được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam mà tôi đã xem rất nhiều lần và đã cho rằng là tiền giả vì không mang đặc điểm gì về tiền thời Nguyễn cả !, không biết bây giờ có còn trưng bày không ?! Tuy nhiên, khi làm sách Tiền Kim Loại Việt Nam, các tác giả đã nói: “- vua Kiến Phúc ra lệnh cho Hà Nội đúc tiền đồng và tiền kẽm Kiến Phúc thông bảo… Thực tế, cho đến nay, chúng tôi cũng chưa có điều kiện tiếp xúc với một đồng tiền Kiến Phúc thông bảo nào”(2)! Lời nói đầy mâu thuẫn này, cho thấy các tác giả sách cũng đã phủ định luôn đồng tiền được trưng bày tại bảo tàng do họ quản lý !, tức đó là tiền giả.

– Một đồng của nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm ở phố Ngọc Hà mà tôi đã từng vọc trên tay nhiều lần; sau này trở thành sưu tập của ông Nguyễn Đình Sử, được in trong sách Kho Báu Tiền Cổ Đại Việt(3), cũng là tiền giả ! Các tài liệu nước ngoài như Ting Fu Bao (1940), Bernard J Perma (1963), Francois Thierry (2002), Alan Barker (2004)… đều là những đồng tiền bằng đồng tương tự với chữ “(bảo)” có “3 chân”, so với tiền triều Nguyễn các loại nhỏ thì chữ này chỉ có “2 chân”…

2. Còn lại tiền bằng kẽm, hiện tại các nhà sưu tập ở Việt Nam đều không có, ngược lại, đều ở các sưu tập nước ngoài:

– Francois Thierry, năm 2009, đã công bố những đồng tiền kẽm này, trích từ sưu tập của Jules Silvestre (1841-1918)(4).

– Ảnh kèm theo bài viết này (Hình 1), do nhà sưu tập Mai Ngọc Phát ở Hà Nội gởi cho tôi, và cho biết hiện trong một sưu tập ở Trung Quốc.

 image001

Hình 1: Tiền kẽm “Kiến Phúc thông bảo”, bộ “kỳ” trong chữ “Phúc” viết theo lối lệ thư. 

Chứng lý duy nhất để công nhận tiền kẽm này là tiền thật, là, tất cả các đồng tiền kẽm này đều giống nhau, có đặc điểm tiền triều Nguyễn, ngoại trừ…

Chữ (Phúc)” viết theo lối lệ thư, tức bộ “kỳ”, phần nửa bên trái của chữ này viết khác hẳn với dạng thông thường ta hay thấy…

Chính vì vậy mà giữa các nhà sưu tập, nghiên cứu, chưa có tiếng nói chung: khi tôi đặt câu hỏi “-Theo anh, trong lịch sử, triều đình có đúc tiền Kiến Phúc không ?”, thì tôi nhận được 3 câu trả lời mà đúng là 3 trường hợp trong biện luận toán học ! Người thì cho là “-Không có !, em đang tìm chứng lý để chứng minh !”, người thì khẳng định “- Có anh ạ !”, và có người thận trọng hơn là “- Có thể có tiền kẽm !”

Để làm sáng tỏ vấn đề này, tôi xin đưa ra các chứng lý để chứng minh những đồng tiền kẽm này không phải do triều đình Huế đúc:

1. Chính sử triều Nguyễn không ghi chép có đúc tiền Kiến Phúc:

– Đọc lại Đại Nam Thực Lục, giai đoạn từ lúc vua Kiến Phúc lên ngôi cho đến lúc băng hà, không có một dòng nào nói đến việc thời này có đúc tiền !, nhưng sử dụng tiền thì có: “(Thực lục về Giản Tông Nghị Hoàng đế) Quyển III (Kiến Phúc năm thứ nhất, Giáp Thân 1884): “Đầu mùa xuân, kính dâng cung Gia Thọ tiền kẽm 10.000 quan, Hoàng Thái hậu 8000 quan, Hoàng thái phi 7000 quan…”(5).

Nếu số tiền 25.000 quan này là tiền kẽm Kiến Phúc, với “mỗi quan là 600 đồng” tức có đến 15.000.000 đồng tiền Kiến Phúc; một số lượng quá lớn như thế, lẽ nào chỉ mới hơn trăm năm mà ở Huế, ở Việt Nam, không ai thấy cả ?! Cha tôi bắt đầu sưu tập tiền từ năm 1945, các đồng tiền phong kiến vẫn còn sử dụng mãi đến sau năm 1950, nhưng chưa hề thấy tiền Kiến Phúc !, cả mẹ tôi là người buôn bán từ trước năm 1945, cũng nói vậy !

Vậy, chúng là tiền kẽm của 4 vị vua trước còn lại trong kho để dùng.

– Khi đưa ra chứng lý này, chúng ta cần lưu ý thêm là, việc đúc tiền các vua trước vua Kiến Phúc là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và cả việc đúc tiền của các vị vua sau vua Kiến Phúc, chẳng hạn như vua Hàm Nghi (chỉ PHỤ CHÉP, chứ không chép “chính thống”), Đại Nam Thực Lục chép rất chi tiết. Vậy tại sao việc đúc tiền thời Kiến Phúc, một vị vua chính thống, lại được không ghi ?!

2. Cách viết chữ “Phúc” thời Nguyễn theo lối lệ thư quá hiếm hoi:

Các văn bản trên các chất liệu khác nhau thời Nguyễn mà tôi sưu tập được, có bộ “kỳ” đều viết theo lối chân phương:

2.1. Hình 2: văn bản thời Kiến Phúc, chữ “phúc” viết theo lối chân phương.

 image002 

Hình 2: Văn bản thời “Kiến Phúc”, bộ “kỳ” viết theo lối chân phương.

 

2.2. Hình 3: văn bản trên đá thời Nguyễn do quan lại viết, cụ thể là biển tên “福長 (Diên Phúc trưởng công chúa từ môn)”, ta thấy chữ “phúc” viết chân, và ngay cả bộ “kỳ” trong chữ “ (từ)” cũng viết chân phương !

 image003

Hình 3: Bộ “kỳ” trong chữ “phúc” và chữ “từ” khắc trên đá thời Nguyễn viết theo lối chân phương.

 

2.3. Hình 4: chữ “phúc” trên đồng tiền thời Nguyễn, cũng viết chân phương !

 image004 Hình 4: Bộ “kỳ” trong chữ “phúc” trên đồng tiền thời Minh Mạng viết theo lối chân phương.

 

Tôi đã lọc lại tất cả các chữ có bộ “kỳ” trên các đồng tiền thời Nguyễn bằng đồng, bạc, vàng trong các sưu tập của Helmut Richter(6) và Lê Văn Trị (Belgique), các catalogue…, cụ thể như sau:

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, mặt lưng có 4 chữ: “福 履 綏 將 (Phúc lý tuy tương)”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Tự Đức, mặt lưng có 4 chữ: “斂 福 錫 民 (Liễm phúc tích dân)”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Tự Đức, mặt lưng có 8 chữ: “福 如 東 海 壽 比 南 山  (Phúc như đông hải, thọ tỷ nam sơn)”. (Minh Mạng, Tự Đức)

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Tự Đức, mặt lưng có 8 chữ: “萬 壽 攸 酢 萬 福 攸 同  (Vạn thọ du tạc, vạn phúc du đồng)”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Tự Đức, mặt lưng có 4 chữ:  (Phúc lộc lai thành)”. Chú ý, trên đồng tiền này còn có chữ “ (lộc)” cũng có bộ “kỳ”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Minh Mạng, Tự Đức (sưu tập của Lê Văn Trị), mặt lưng có 8 chữ: “得 位 得 名 得 得 壽 (Đắc vị, đắc danh, đắc lộc, đắc thọ)”. Chú ý, trên đồng tiền này còn có chữ “ (lộc)” cũng có bộ “kỳ”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Tự Đức mặt lưng có 8 chữ: (Thụ lộc vu thiên, bảo hữu mệnh chi). Chú ý, trên đồng tiền này còn có chữ “ (lộc)” cũng có bộ “kỳ”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Tự Đức mặt lưng có 8 chữ: (Ư vạn tư niên thụ thiên chi hữu). Chú ý, trên đồng tiền này còn có chữ “ (hữu)” cũng có bộ “kỳ”.

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Tự Đức, sưu tập của Lê Văn Trị, mặt lưng có 4 chữ:  (Bách phúc thị tổng)” (Hình 5).

         – Tiền ban thưởng bằng đồng, thời Thiệu Trị, Tự Đức mặt lưng có 8 chữ: (Tự thiên hữu chi, cát vô bất lợi). Chú ý, trên đồng tiền này còn có chữ “ (hữu)” cũng có bộ “kỳ”.

         – Tiền ban thưởng bằng vàng, bạc thời Thiệu Trị, Tự Đức mặt lưng có 2 chữ: (Ngũ phúc)”.

         Thống kê các bộ “kỳ” trên các đồng tiền vừa kể, ta thấy có ở 16 chữ “ (phúc)”, 5 chữ “ (lộc)” và 3 chữ “ (hữu)”, trong đó các chữ thời gần Kiến Phúc là Tự Đức chiếm đến 13/24; tất cả viết theo lối chân phương và không có đồng tiền nào có bộ “kỳ” viết theo lối lệ thư như ở tiền Kiến Phúc!

         Như vậy, sự nghi ngờ “-Không có tiền Kiến Phúc” vì bộ “kỳ” trong chữ “phúc” viết theo lối lệ thư, cũng rất có cơ sở !

 image005

Hình 5: Bộ “kỳ” trong chữ “phúc” trên đồng tiền thời Tự Đức viết theo lối chân phương.

 

         3. Tràng Tiền ở Hà Nội còn hoạt động không ?

Nghiên cứu địa chí Việt Nam, chúng ta được biết ở Trung phần Việt Nam không có mỏ đồng, còn các mỏ kim loại để đúc tiền như:

Đồng Tụ Long, thiếc Sông Ngâu,

Tiền rừng bạc bể kể đâu sánh bằng.

Thì lại nằm ở miền Bắc. Do đó, Bảo hóa Kinh cục ở Huế chỉ có vai trò đúc tiền mẫu, sau đó các mẫu tiền này được đưa ra Bắc thành Tiền cục ở Hà Nội để đúc tiền lưu thông khắp cả nước…

Thế nhưng, sau khi Pháp chiếm thành Hà Nội năm 1882, đọc lại Đại Nam Thực Lục, tôi không trích dẫn quá dài dòng, mà ta được biết dù Pháp ký các hòa ước… nhưng thực tế vẫn không chịu trả Hà Nội cho người Việt, mà luôn đóng binh, vơ vét kho tàng, bức tử quan lại Việt Nam (đọc những dòng này, trong lòng tôi dấy lên một mối “Quốc hận” !), tìm cách xâm lược, và bắt sử dụng đồng tiền của Pháp:

“Tự Đức năm thứ 36 (1883)… Tháng hai: quan tỉnh Hà Nội tâu nói: Thành tỉnh ấy quân Pháp chưa rút, làm việc thường bị bó buộc… Tổng đốc Định – Yên là Vũ Trọng Bình tâu nói: Do thám được tin quân Pháp đóng thêm quân ở Hải Dương 500 tên, đóng ở Hà Nội hơn 1000 tên…”(7).

         – “(Thực lục về Giản Tông Nghị Hoàng đế) Quyển I (Quý Mùi, Tháng 11, mùa đông, năm Tự Đức thứ 36, 1883): “Ở Ninh Bình, từ trước tháng 9, Toàn quyền Pháp Ra-măng đã đặt công chức Công sứ lưu trú tại tỉnh thành… Các kho tàng của tỉnh ấy đều bị canh giữ nghiêm ngặt… Tiền bạc trong kho đều bị họ thu giữ lấy…”(8).

         (Thực lục về Giản Tông Nghị Hoàng đế) Quyển III (Kiến Phúc năm thứ nhất, Giáp Thân 1884): Quan Pháp đã vào thành tỉnh Bắc Ninh… Ngày 22 tháng 2, quân Pháp bèn vào thành… đem hét tiền bạc, súng gang, đồ đồng mọi vật chở về tỉnh Bắc…”(9).

– Hiệp ước Harmand, còn gọi là Hòa ước Quý Mùi năm 1883, “Điều 26” cho biết: “La piastre mexicaine et les monnaies d’argent de la Cochinchine française auront cours forcé dans toute l’étendue du royaume, concurremment avec les monnaies nationales annamites”, nghĩa là:  “Đồng bạc hoa xòe và tiền tệ bằng bạc của xứ Nam Kỳ cũng sẽ cùng tiền tệ của nước An Nam đồng thời cưỡng bách lưu hành khắp nước”(10).

         – Hiệp ước Patenôtre, còn gọi là Hòa ước Giáp Thân năm 1884 “Điều 18” cho biết:Art. 18. Des conférences régleront les limites des ports ouverts et des concessions françaises dans chacun de ces ports, l’établissement des phares sur les côtes de l’Annam et du Tonkin, le régime et l’exploitation des mines, le régime monétaire, la quotité à attribuer au Gouvernement annamite sur les produits des douanes, des régles, des taxes télégraphiques et autres revenus non visés dans l’article 11 du présent traité. La présente convention sera soumise à l’approbation du Gouvernement de la République française et de S. M. le Roi d’Annam, et les ratifications en seront échangées aussitôt que possible”, tức trong này có đoạn nói về cách dùng tiền tệ: “Quan hai nước sẽ hội đồng định… chế độ tiền tệ…”(11).

         Sau khi xâm lược dần dần miền Bắc, và sau các hiệp ước, nước Việt Nam được chia thành 3 phần: Bắc Kỳ (Tonkin) do Pháp bảo hộ; Trung Kỳ (An Nam: từ phía nam Ninh Bình đến Bình Thuận) do triều đình Huế cai trị, nhưng Pháp cũng bảo hộ; và Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp.

         Với chính sách thực dân như vậy, ta thử đặt câu hỏi: Tràng Tiền ở Hà Nội có còn được Pháp cho phép hoạt động để đúc tiền cho triều đình Huế không ?!

         Và nếu Bắc thành Tiền cục không còn hoạt động, vậy những đồng tiền Kiến Phúc này được đúc ở đâu ? Xin lưu ý rằng các đồng tiền Kiến Phúc hiện thấy kể cả bằng đồng hoặc kẽm, đã được phát hiện tại phía Bắc so với Kinh đô Huế !

         4. Thêm những dấu hỏi…

         4.1. “Hàm Nghi đế (phụ) năm Kiến Phúc thứ nhất (1884) Mở cục đúc tiền ở nha Đốc công, kho Vũ khố.(Trích sai tên thợ làm khuôn ở Hà Nội, 1 tên thợ đúc đem đủ các đồ dùng về Kinh, để dạy tập đúc tiền… Chuẩn đặt ty đúc tiền ở 2 tỉnh Thanh Hóa, Bình Định”(12).

         Đọc dòng sử này, ta cứ thử đặt câu hỏi: Tại sao thời Hàm Nghi phải mở cục đúc tiền ngay tại Kinh đô ?, là nơi không có nguyên liệu để đúc, vận chuyển khó khăn ! Cách trả lời hợp lý nhất: Bắc thành Tiền cục không còn cung cấp tiền cho triều đình Huế nữa !, có nghĩa rằng Tràng Tiền ở Hà Nội không còn hoạt động nữa !

         4.2. Vấn đề nữa về đồng tiền kẽm Kiến Phúc, nếu do triều đình đúc, tại sao chỉ có vài đồng hiếm thế ?!

         – Không thể giải thích đây là tiền mẫu ở Huế đúc, vì ở Huế chưa bao giờ được tìm thấy tiền này, và các đồng tiền do Huế đúc, như đã dẫn, không có chữ “phúc” viết theo lối lệ thư !

         – Không thể giải thích là thời gian làm vua ngắn nên đúc ít !: tuy vua mất từ tháng 6 năm Giáp Thân, nhưng niên hiệu này kéo dài đến hết năm âm lịch, qua năm Ất Dậu mới dùng Hàm Nghi nguyên niên.

         – Chúng ta đã biết, đối với các vị vua chính thống thì đời vua sau vẫn đúc lại tiền của vua trước, như thời Minh Mạng đúc tiền Gia Long, thời Thiệu Trị đúc tiền Minh Mạng… Vậy thì vua Kiến Phúc là vị vua chính thống, được thờ trong Thế miếu, nên dù vua có mất nhưng việc đúc tiền của vua đang dang dỡ, cũng phải được tiếp tục thực hiện !, đã đúc ra thì phải được lưu hành, không hề bị cấm !

         5. Hay là nạn tiền giả từ Trung Quốc ?

         Tìm hiểu lại nạn đúc tiền giả thời Nguyễn, ta được biết:

         – “(Quyển XVII: Thiên thứ mười lăm: TÀI PHÚ) Minh Mệnh năm thứ 10… Gần đây, trẫm nghe trong dân gian có nhiều thứ tiền dị dạng lẫn lộn với tiền quan chế… Vua lại dụ ra lệnh cho quan đầu Bắc thành nghiêm sức các hạt theo biên giới giáp nước Thanh, toàn diện đường bộ cũng như đường thủy và các quan ải, bến sông bến đò, phải tổ chức cơ cấu bí mật để dò xét nếu có người Thanh nào vận tải tiền kẽm từ nước Thanh vào địa phận mình sẽ bắt mà xử trị”(13).

         –“Tháng 4 năm Tân Mùi, Tự Đức thứ 24 (1871)… “Sai đồn ải các hạt xét bắt tiền giả của người buôn nước Thanh (Khi ấy người buôn gian đúc tiền giả thay thế tiền đồng của ta, dân nhiều người lấy lầm, cho nên sai bắt. Còn dân trong hạt lấy làm phải thì thú nhận đem nộp để tiêu hủy đi )”(14).

         – “Tự Đức năm thứ 35 (1882)… Mùa đông, tháng 11… Cho đem đồ vật tặng Tổng đốc, Án sát nước Anh ở Hương Cảng. (Trước đây, viện Cơ Mật và Thương Bạc bàn rằng tiền giả đem vào nước ta là do người buôn nước Thanh đúc ra ở Hương Cảng, muốn ngăn tệ ấy, trước lấp tự nguồn, tâu xin đưa thư cho quan nước Anh xem xét giúp cho. Sau rồi quan nước Anh sai người dò xét bắt được thực tang xét xử trị tội, do phái viên sang Hương Cảng báo cho biết. Vua cho đem tặng vật để tặng…”(15).

         – “(Thực lục về Giản Tông Nghị Hoàng đế) Hàm Nghi đế (phụ) năm Kiến Phúc thứ nhất (1884) Định lệ tiền đồng kiểu lạ ăn 4 đồng tiền kẽm… Khi ấy các tỉnh Thừa Thiên, Phú Yên, Bình Định, Quảng Trị có số tiền đồng kiểu khác, 2-3 năm nay lưu bá số nhiều… bèn định từ nay đi, phàm đồng tiền của nước ta trừ ra 2 hạng nặng 1 đồng cân và nặng 9 phân, vẫn ăn 6 đồng như cũ, còn hạng tiền đồng 6-7 phân trở xuống, cùng thứ tiền kiểu lạ mới cũ các hạng, mỗi đồng đều giảm ăn 4 đồng tiền kẽm” (16).

         – “(Thực lục về Giản Tông Nghị Hoàng đế) Hàm Nghi đế (phụ) năm Ất Dậu, năm Hàm Nghi thứ nhất (1885)… Chuẩn định cho đồng tiền đồng kiểu mới khác 1 đồng ăn 2 đồng tiền kẽm. Cho được tiêu dùng. Khi ấy người buôn nhà Thanh chở ngầm thứ tiền ấy lại tung ra tiêu dùng lẫn lộn. So thứ tiền nay với thứ tiền dùng trước, thì mỏng nhỏ hơn nhiều, đã do Bộ thần tâu chuẩn kén chọn không dùng; sau vì phủ Thừa Thiên và các hạt phía nam, lưu bá tiền ấy đã nhiều, nếu hết thảy lựa bỏ, thì dân nghèo không được tiện lợi, nên chuẩn cho hạng tiền mới này ăn 2 đồng tiền kẽm, để dân tiêu dùng được tiện”(17).

         Những điều ghi chép này, cho thấy nạn đúc tiền giả từ Trung Quốc tải sang Việt Nam đã có từ thời Minh Mạng (trước Kiến Phúc) cho đến thời Hàm Nghi (sau Kiến Phúc) vẫn còn !…

*

         Đưa ra 5 chứng lý trên, tôi đi đến nhận định tất cả những đồng tiền Kiến Phúc không phải tiền “quan chế”, tức không phải là chủ trương của triều đình !, mà là tiền do dân gian – cũng có thể ở Trung Quốc, mà cũng có thể ở Hà Nội – đúc đúng vào thời đó !, nên mới có đặc điểm của tiền thời Nguyễn.

         Xét về góc độ khảo cổ học thì những đồng tiền kẽm này đã lưu hành hơn trăm năm, nên theo quan điểm sưu tập bây giờ thì vẫn là “tiền thật”, nhưng xét về mặt sử học theo quan điểm quản lý tiền tệ của triều đình thời đó thì nó lại là “tiền giả” !

         Vậy chúng là “tiền thật” hay “tiền giả” ? và được đặt ở đâu trong danh mục tiền cổ Việt Nam ? Chỉ tùy thuộc vào cách đặt khái niệm “- Thế nào là tiền giả”(18) của mỗi nhà sưu tập, mỗi nhà nghiên cứu…

                                                                 Huế, những ngày bão Haiyan năm 2013.

                                                                                     NAH

 

            * CHÚ THÍCH :

(1) Nguyễn Anh Huy, Lịch Sử Tiền Tệ Việt Nam – Sơ truy và Lược khảo, Nhà xuất bản Văn hóa Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2013. Trang 385.

(2) Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Tiền Kim Loại Việt Nam, Hà Nội, 2005, trang 70.

(3) Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Kho Báu Tiền Cổ Đại Việt, Hà Nội, 2006.

(4) Francois Thierry, “À propos du monnayage de Kiến Phúc (1883-1884)”, Proceedings of the XIVth International Numismatic Congress, Glasgow 2009. Trang 1893-1896.

(5) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 52.

(6) Nhà sưu tập, nghiên cứu tiền cổ Việt Nam người Đức, đã qua Việt Nam, gặp tôi năm 2004, sau đó tặng tôi bản photo copy sách do ông viết với tựa đề: Katalog zur Erfassung und Beschreibung der “Dong Tien” aus der Ara der Vietnamesischen Kaiser Minh Mạng, Thieu Tri und Tu Duc sowie deren Nachahmungen und Kopien (không rõ năm xuất bản và nơi xuất bản). Xem thêm: Thanh Luyến, “Chàng rể Đức mê tiền Việt”, Tuổi trẻ, số 69/2005, ra ngày 30/3/2005.

(7) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 8, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, Trang 558.

(8) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 30-31.

(9) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 61.

(10) Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử (1862-1945), Tủ sách Sử học, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Xuất bản 1971. Trang 292-297.

(11) Phan Khoang, Sđd, Trang 314-318.

(12) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 118-120.

(13) Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh Chính Yếu, NXB Thuận Hóa, 1994. Tập 2, trang 444.

(14) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 7, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, Trang 1275.

(15) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 8, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, Trang 548.

(16) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 115-116.

(17) Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch ), Đại Nam Thực Lục, Tập 9, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, Trang 125.

(18) Xem thêm: Nguyễn Anh Huy, Sđd. Phần “Nền tảng của phương pháp nghiên cứu”, trang 64-69.

 

 

3 comments

  1. Cảm ơn bác Nguyễn Anh Huy về những minh chứng bác đã đưa ra trong bài viết này. Cháu cũng có sở thích sưu tầm tiền cổ như bác nên rất quan tâm đế những nhận định này. Rất mong bác có nhiều bài viết hơn về vấn đề đánh giá các đồng tiền cổ để những người mới sưu tập như cháu có được những hiểu biết hơn,…

    Thích

    • Cháu rất muốn được bác gửi tặng những bài viết về kinh nghiệm sưu tầm tiền cổ có đăng chi tiết nội dung bài và ảnh để cháu có thể nâng cao hiểu biết của mình khi sưu tập

      Thích

  2. Cháu có thể tìm mua quyển LỊCH SỬ TIỀN TỆ VIỆT NAM (sƠ TRUY VÀ LƯỢC KHẢO), Gõ google tìm sách và đặt mua trên internet.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s