GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn về phát triển tỉnh Kiên Giang (phần II)

         luagao        GDP Kiên Giang năm  2009 đạt 883 đô la Mỹ- $US. Mức tăng trưởng GDP là 18 %.  Nông  lâm ngư chiếm  44.2% GDP.  Dịch vụ chiếm 31 %. Công nghệ – xây cất chiếm 24% , có  sác xuất tăng trưởng là 12.4 %. Xuất khẩu năm đó trị giá là 510  triệu $US. Năm 2012, Chánh quyền cũng chủ trương là Kiên Giang vẫn còn phải chú tâm  đến tiềm năng  canh nông, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, tạo những phương thức mới mẽ động viên,và hút dẫn đầu tư   vào hạ tầng cơ sở ( tưới tiêu, thoát thủy , rữa phèn,  rữa mặn…) , cải thiện giao thông (  về đường bộ tính đến giữa năm 2012 là các đường đang  hoặc sẽ xây dựng là  Hành Lang Nam Dọc Biển Tây ,đường Hồ Chí Minh , các đường  nội địa Phú Quốc,  xa lộ Cao Tốc  Rạch Sỏi- Lò, Lộ Tẽ ( ? )  và nâng cấp đường quốc lộ số 61 …)  cho phát triễn nông nghiệp mau lẹ hơn và  tương lai bền vững hơn, đồng thời tiếp tục  đề cao nông nghiệp và ngư nghiệp hội nhập chặc chẻ với công nghệ chế biến nông phẩm đặc biệt nhắm về xuất cảng, áp dụng khoa học- kỷ thuật cập nhật tân tiến (  Kiên Giang  hiện có 5 trung tâm huấn nghệ  là Đại học Cộng đồng,  Đại học Sư Phạm,  Đại học Kỷ thuật và Kinh tế,  Đại học Y khoa  và trường Dạy Nghề – Vocational School )  để tăng gia năng xuất, phẩm giá và mức cạnh tranh nông ngư phẩm  tỉnh nhà  trên thương trường quốc tế.

 

                     Lúa gạo Kiên Giang trong khuôn khổ các tỉnh miền Nam và cả nước

Trong số tổng diện tích  thiên nhiên là 629 900 ha, Kiên Giang có  411 9740 ha đất  canh tác ( 66 % tổng diện tích ). Đất tư nhân để sản xuất lúa gạo   chiếm  317 019 ha  ( 77 % đất trồng trọt được ).  Đất lâm  nghiệp chiếm  120 027 ha và đất không sử dụng  gần 50 000 ha. Năm 1995, diện tích trồng lúa  cả năm Kiên Giang là 380 300 ha, năm đó còn thua Cần Thơ – Hậu Giang là 401 800ha  và An Giang là 391 800 ha. Nhưng năm 2002 là 570 000 ha , trên hẳn An Giang 460 400 ha và Cần Thơ  456 600 ha. Sản lượng lúa cả năm cũng đã theo chiều hướng này. Năm 2002, Kiên Giang sản xuất  2 565 600 tấn, đứng hạng nhất   trong số 5 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long- ĐBSCL  có sản xuất trên 2 triệu tấn lúa một năm, trội hơn 100 000 tấn trên mức sản xuất tỉnh thứ nhì là An Giang chỉ là 2452 100 tấn ; tỉnh hạng 3 là Đồng Tháp và thứ tư là Cần Thơ. Dù rằng năng xuất trung bình  mới là 4.45 t /ha  thua xa An Giang  5.33t/ha, Đồng Tháp,  Cần Thơ và suýt sóat Sóc Trăng 4.6 t/ ha.  Năng xuất vụ Đông Xuân cao nhất là 5. 3 t /ha, sau An Giang chiếm hạng nhất là 6.54 t/ ha.  Năng xuất vụ Hè – Thu  cũng còn thấp 3.89 t/ha , sau  Sóc Trăng 4. 47 t / ha và Bạc Liêu 4.43 t /ha, An Giang 4.34 t /ha và Tiền Giang 4.16 t /ha. Năng xuất vụ lúa mùa còn kém hơn nữa, Kiên Giang chỉ đạt 2,56 tấn / ha  thua kém hẳn vụ mùa   Vĩnh Long 4.17 t/ ha,  Bặc Liêu 3.98 t/ha Trà Vinh 3.39 t/ha, chỉ hơn Long An 2.22 t/ ha và  An Giang 2.00 t/ha. Tưởng cũng nên biết là năng xuất trung bình lúa ở Việt Nam đã cải tiến từ 0.5 t/ha vào  đầu thế kỷ thứ19, lên 1.2 t/ ha vào đầu thế kỷ thứ 20,  2 t/ha trong thập niên 1960 và 4. 8 t/ ha ( năm 2003- 2004 ) vào đầu thế kỷ  thứ 21.  Giữa thế kỷ thứ 19, diện tích lúa ở Việt Nam chỉ mới  là 1 triệu ha, cuối năm 2003 đạt  7. 4 triệu ha.  Năm 1995, 12 tỉnh ĐBSCL trồng cả năm là 3190 600 ha lúa và năm  2002 trồng 3 813 800 ha. Năm  1995,  mức sản xuất lúa  các tỉnh ĐBSCL  là 12. 83 triệu tấn lúa  và năm 2002 là 17 .48 triệu tấn.  Năm 2012, diện tích trồng lúa cả năm ( 3 vụ là lúa Mùa, lúa Đông Xuân và lúa Hè – Thu ) các tỉnh miền Nam là  4.7 triệu ha, sản xuất trên  26 triệu tấn lúa, Năng xuất  trung bình là 5.7t /ha. Năm 2012, riêng 12 tỉnh ĐBSCL ( 13 tỉnh nếu tính cả TP Cần Thơ) chiếm 90. 4%  hay 4 ,24 triệu  ha tổng diện tích các tỉnh miền Nam và sản xuất 91.6% hay 23. 9 triệu tấn lúa, lớn hơn năm 2011 chỉ sản xuất  23. 18 triệu tấn.

Năm 2012, Việt Nam  sản xuất 42- 43 triệu tấn lúa và xuất cảng  7.5 triệu tấn gạo ( tương đương gần 12 triệu tấn lúa ), trị giá 4.73 tỉ đô la Mỹ – $US. Năm 2013, dự trù giữ vững số lượng gạo xuất khẩu này  và trong bảy tháng đầu năm 2013 đã xuất cảng 4.22 triệu tấn gạo, trị giá 1.88 tỉ $US.  Năm tới 2014, VN cũng dự trù  gieo trồng ở các tỉnh miền Nam 4. 7 triệu ha lúa, nhưng lại hy vọng đạt 27 triệu tấn, cao hơn năm 2013 khỏang 60 000 tấn,nhờ tăng thêm  diện tích trồng lúa vụ Đông – Xuân,  năng xuất khỏang 6,74t /ha, cao hơn năng xuất hai vụ lúa khác  là Hè –Thu  và lúa Mùa. Việt Nam hy vọng nới rộng những năm tới  vụ lúa Đông – Xuân ở các tỉnh miền Nam , tăng thêm 800 – 850 000  ha nữa.  Tưởng cũng nên nhắc lại là năm 2002, Việt Nam chỉ xuất cảng 3.13 triệu  tấn gạo, đứng hạng tư thế giới, so với Thái Lan  năm đó  xuất cảng hơn 7. 25 triệu tấn, Ấn Độ  hơn 6.64 triệu tấn , sau cả Hoa Kỳ xuất khẩu  3.81 triệu tấn.  Theo hảng thông tấn Reuters, năm 2011 Thái Lan cũng còn giữ hạng đầu sổ ( từ năm 1983 ) nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới là 10. 64 triệu tấn, trên Việt Nam  đứng hạng  nhì xuất khẩu năm 2011 hơn 7 triệu tấn và Ấn Độ đứng hạng 3 là  4.34 triệu tấn. Nhưng năm 2012, Thái Lan trụt xuống hạng 3 ( chỉ còn  6.9 triệu tấn ), sau Ấn Độ ( gần 8.0 triệu tấn)  và Việt Nam ( 7. 5 triệu tấn). Dự đóan là năm  2013, Ấn Độ vẫn giữ hạng nhất ( dự trù xuất khẩu 9.5 triệu tấn ) và Việt Nam hạng nhì ( 7.6 triệu tấn ).

Từ năm 2005, Việt Nam đã quyết định chấm dứt đói kém sau khi thiếu gạo ăn  các thập niên 1980 và 1990 ( có khi phải ăn bo bo- sorgho thay cơm )  và  đến năm 2010, vượt mức dinh dưỡng quốc tế về năng luợng hằng ngày cho mỗi công dân là 2600 – 2700 calôri. Dân số Việt Nam  trước cuối thập niên này sẽ vào khỏang 95- 2000 triệu người, thế cho nên không còn tí nào bí mật là nước nhà cần tăng gia hiệu năng sản xuất thực phẩm, đa dạng hóa nông nghiệp,  phẩm giá hột các cây lương thực, hầu thõa mãn yêu cầu gia tăng. Lúa gạo  là cây gieo  trồng  quan trọng nhất, cung cấp 70% năng lượng thực phẩm. Đồng thời cũng là nguồn lợi sinh sống  cho 80 % dân số, và chiếm 82 %  diện tích trồng trọt cả nước, chiếm đến 85 %  sản xuất cây lương thực có hột ( hạt ). Vùng DBSCL  được gọi là «  thúng lúa gạo – rice basket » đất nước là vùng sản xuất lúa gạo  chánh của Việt Nam, cung cấp  trên 50 % tổng số sản xuất lúa gạo mỗi năm  và 90% gạo xuất cảng.  Đất đai trồng lúa biến thiên lớn , nhưng đa số thuộc lọai đất phù sa – alluvial,  đất phèn nhiều ít – acid sulphate soils và đất mặn – saline soils .Từ năm 1964 đã phát động mạnh mẽ du nhập các giống  lúa cao năng – siêu năng của « Cuộc Cách mạng  Xanh – Green Revolution » mà nay đã tuyễn chọn, phổ biến được từ các Trung tâm Khảo cứu Lúa gạo trong nuớc, đặc biệt là Trung Tâm Khảo cứu Cửu Long ở Ô Môn, gần TP Cần Thơ.  Các giống lúa tân tiến, cải thiện  mới mẽ giúp tăng năng xuất thêm nhiều  và giúp tăng thêm mùa vụ  ( 2 hay 3 vụ mỗi năm thay vì một vụ) nhờ các giống mới  không hay ít quang kỳ tính ( lúa trước đây kéo dài thời gian tăng trưởng vào các tháng ngày dài) và chịu đựng phèn, muối mặn v.v… Nhưng lại phải bón nhiều phân hóa học ( đặt biệt là phân đạm –N và phân lân – P năng xuất mới cao ). May thay nước nhà có nhiêu mỏ phân lân ( lớn nhất là apatit Lào Cai) và nay đã dùng kỷ thuật  cập nhật( ? ) khí dầu  ( mà  nay và trong tương lai tiềm năng  sản xuất lớn nhất lại ở Vùng Biển Tây nước nhà ? )  ở các nhà máy tổng hợp phân đạm trong nước thay vì phải tốn ngọai tệ nhập cảng nhiều vào thập niên 1800- 2000.  Đất phèn – acid sulphate soils ở Châu thổ sông Cửu Long, cũng như ở tỉnh Kiên Giang, chứa nhiều acid và chất độc hại làm hệ thống rễ cây lúa bị hư hại, cây lùn tủn, tăng trưởng và năng xuất kém hẳn đi. Đất bờ biển chiếm  20% tổng số  diện tích châu thổ có nồng lượng muối biển  rất cao, làm giảm mạnh năng xuất  lúa, có khi ruộng lúa có thể hòan toàn hư hại.

Các năm 1997 và 1999  giải tỏa hai giống cao  năng , phẩm giá cũng tốt hơn là TNDB  -100 và THDB, áp dụng phóng xạ nguyên tử  tuyễn chọn  đột biến – mutation breeding cải thiện hai giống địa phương 5 năm trước. Chu kỳ sinh trưởng ( từ gieo trồng đến thu họach )  TNDB -100 chỉ còn 95 – 100 ngày thay vì 200 ngày , kháng sâu bọ -dịch bệnh lúa ,  rất thích hợp cho đất phèn , và cũng trồng được hai – ba vụ một năm với  phẩm giá gạo xuất cảng cũng tốt. Cho nên  phổ biến rộng rải và mau lẹ  ở Kiên Giang  và nhiều  tỉnh đất phèn miền Nam. Dân nghèo rất thích giống này vì phí tổn hột giống thấp , nhưng năng xuất lại cao đạt – 6-8 t /ha và lại rất ngắn ngày . TNDB  cũng có yêu cầu 10 -20 % phân đạm  ít hơn các giống cải thiện khác.  Diện tích trồng TNDB   đã tăng  từ 41 000 ha năm 1997 lên đến 112 000 ha năm 1998  và 203 000 ha năm 1999.  TB DB- 100  đã chiếm  50 % tổng diện tích lúa ở  Vĩnh Long, hơn 20 %  tổng diện tích lúa vụ Hè- Thu Kiên Giang và 5- 10 % ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Trà Vinh.  Còn giống  THDB, lai tuyễn từ  một giống nước  sâu địa phương cũng có đặc điểm  là cao năng đạt  6- 8 t/ha so với giống phổ biến trước đó chỉ  đạt – 2- 4 t /ha , ngắn ngày hơn, chu kỳ  chỉ 130 ngày thay vì 210 ngày  kháng sâu – bệnh tốt hơn  phẩm gía  gạp cũng tốt hơn và lại chịu đựng tốt trên  cả đất phèn lẫn đất mặn. Nông dân thích trồng giống  THDB ở vùng bờ biển nước sâu, vì giống cũng rất thích nghi  cho các hệ thống lúa – cá  và lúa- tôm .  Năm 1999  đã có  14 000ha  lúa THDB ;  các tỉnh trồng giống này nhiều nhất là Cà – Mau , Sóc Trăng, Kiên Giang và quanh  Sài Gòn – TP HCM.  Nay Trung Tâm Lúa Gạo Cửu Long – Ô Môn chắc đã phổ biến thêm nhiều giống cao năng-siêu năng hơn,  chịu đựng phèn và mặn giỏi hơn, kháng sâu bệnh lúa tốt hơn nữa ?

Hệ thống tưới tiêu , thóat thủy , chống lũ lụt …  Tứ giác –  Quadrangle Long Xuyên

Muốn tăng gia vụ Đông – Xuân nhất là ở hai tỉnh  Kiên Giang và An Giang, phải đề cập đến hòan thành  hệ thống hạ tầng cơ sở xử dụng nguồn nước Tứ giác Long Xuyên, bao gồm đất đai sông Hậu, phần lớn  thuộc hai tỉnh Kiên Giang và An Giang và một ít thuộc TP Cần Thơ.  Các góc tứ giác này phía Bắc là thị trấn Châu Đốc, phía Tây là thị trấn Hà Tiên, phía Nam là  phi trường Rạch Sỏi , kế cận thị xã Rạch Giá, phía Đông là  nơi kinh Cái Sắn  chảy vào  sông Hậu giữa thị xã Long Xuyên và thị trấn Thốt Nốt ( xem hình kèm ). Diện tích tổng cọng Tứ  giác Long Xuyên là 470  000 ha. Năm 1955 , Cộng Hòa miền Nam đào kênh Cái Sắn – Tân Hiệp – Thốt Nốt dưới sư tận tâm đốc thúc của quận trưởng địa phương người Nam,  để định cư đồng bào di cư Miền Bắc, nhưng chuơng trình phát triễn Khu Bắc Kỳ- Casier tonkinois ( tên gọi vùng này từ thời Pháp thuộc, đ ất phèn và bị lũ lụt phía sau Hà Tiên  và phía Đông phần Việt Nam dọc theo rạch Giang Thành- kinhVĩnh tế đến Nhà Bàng-  Tịnh Biên) thời Công Hòa miền Nam, đã phải gián đọan  vì cần tập trung lực lượng về phia Tây Nguyên hơn,  chống đở quân đội  miền Bắc xâm nhập Tây Nguyên va cáctỉnh miền Trung dưới vĩ tuyến 17 . Trước khi  kiện tòan hệ thống thủy nông khởi đầu năm 1988, mức sản xuất lúa kém cỏi, chỉ đạt 600 000 tấn , nhưng năm 2010 đã hơn 4, 28 triệu tấn .  Năm 2012, hệ thống tưới tiêu tương đối tương đối đã gần hòan tất, gồm  cả các hệ thống chống lũ – flood control,  cống- culverts  chống  nước biển xâm nhập , các hệ thống kinh mương , đê điều và đường đắp cao- dyke system /embankments  chắn  sóng,  các hệ thống  bơm nước  và tưới ruộng. Đến nay Tứ giác Long Xuyên đã thực hiện 64 kinh chánh dài 1056 km, 2 313 kênh thứ cấp và tam cấp dài 7 374 km, 38 cống cở lớn và cở trung bình, 1915  cống nhỏ , 319 trạm bơm nước bằng điện cở trung bình, 4485 km  đường đắp cao và  đê  chống lũ lụt và 63 km  đê ngăn sóng biển – sea dykes. Cụm hệ thống  thóat nước lũ- cluster flood drainage system  gồm đê dọc biển  Rạch Giá- Ba Hòn, dài 75 km, rộng 3- 6 m,  mặt đê cao + 2.0m  trên mức lũ  và hệ thống thóat thủy gồm 23 kinh thoát thủy  dọc theo Bờ Biển Tây có một cổng lũ vào – flood gateway  cùng  35 cầu xây dựng trên quốc lộ số 80.  Hệ thống  trị lũ dọc theo Kinh Vĩnh Tế gồm đê điều  ngăn lũ từ  biên giới Căm Bốt, có nghĩa là từ Châu đốc đến Tịnh Biên  và từ Ba Chúc đến Giang Hà; các  đường đắp cao  dọc theo kinh Vĩnh Tế , một đập ngừa lũ ở biên giới Việt- Miên nhờ xây dựng hai đập cao su – rubber dams ở  Trà Sư , có đập lũ tràn – overflow weir  rộng 90 m  cao hơn mức nước lũ +1. 50m, cao hơn đỉnh lũ   + 3.80m, và đập Thà Là ( ? )  rộng  72m  trên mức lũ +1.50 m và trên đỉnh lũ +3.80m.  Vét và nới rộng kinh Vĩnh Tế  rộng 30 m, đáy kinh  sâu – 3.0m  bảo đảm lưu lượng  tưới tiêu mùa khô  là 37 m3/giây, nới rộng  đường bờ tràn – spillway dọc theo kinh Vĩnh Tế có « máng nước chảy – discharge »   chừng 1940 m3/giây, xây đắp một phối hợp đường và kinh  thóat thủy ở cầu Bắc Xuân Tô, rộng 300m đáy cao  +1.0m, đủ khả năng  thóat nước lũ, lưu lượng chừng 1200 m3/giây.  Đào vét  23 kinh thóat thủy mới từ kinh Rạch Giá- Hà Tiên  đến Biễn Tây.  Hệ thống kinh chánh và các kinh chủ yếu  dọc ngang chằng chịt Tứ giác Long Xuyên chuyễn lũ và dẫn nước tưới tiêu,  thóat thủy  và di chuyễn đường sông. Đa số các kinh chánh  và kinh chủ yếu  thẳng góc với sông Hậu- Bassac  và chuyễn động nước triều Biển Tây ;  cho nên các điều kiện thủy động  khá tốt cho máng nước chảy.  Về hệ thống đê và đường đắp cao hệ thống Tứ giác Long Xuyên có hai lọai  đê : các đê kiểm sóat lũ tổng quát  và các đường đắp cao  đặc biệt chống lũ tháng 8.    Đa số các đê chống lũ  phần lớn nằm trong vùng  thích hợp cho sản xuất lúa, nơi lũ không quá lớn :  tỉ như các vùng Thọai Sơn, Châu Thành, Châu Phú ( An Giang ) và một phần TP Cần Thơ.  Tỉnh An Giang có  103 cơ cấu kiểm sóat lũ cả năm, bề dài đê đường là 1020 km , bảo vệ được  40 899 ha ,bảo đảm làm 3 vụ lúa một năm.  Ở Thọai Sơn, Châu Thành và Châu Phú, vùng kiểm sóat lũ  tốt cho suốt năm tăng gia  đáng kể mỗi năm, đặc biệt về phía Bắc Mạc Cần Dung. Thêm vào đó phải kể đến  vài vùng nuôi tôm như Tà Sang, Tầm Ba , Hà Tiên , nông dân  cũng đắp đê bảo vệ ruộng lúa…

      Công trình Tứ giác Long Xuyên đề cập khá nhiều chi tiết ở đây là vì đã biến một vùng đất hoang vu thời cha ông mỡ cõi đến thất bại định cư ở Khu Bắc Kỳ thời Pháp thuộc 1930 -40 ( lúc đó chưa biết rỏ đào vét kênh đê rữa phèn, chống lũ, chưa có giống chịu phèn năng xuất cao… ),  từ 1955 – 57 trồng lúa nổi  ngày dài và chỉ  một vụ một năm năng xuất kém, mãi cho đến thập niên 1990 ( dù rằng  chương trình đê đường , cống thóat thủy , chống lũ lụt , tưới tiêu mùa khô …khởi sự năm 1988  như đã nói trên ) mới khả quan. Đáng kể là nay đã áp dụng mọi kỷ thuật, khoa học trồng lúa cải thiện  tuyễn chọn di truyền trong nước, tăng mức sản lúa  hai tỉnh  Kiên Giang và An Giang lên gần 8 lần năm 2010 so với thập niên 1960 và có thể đến  hơn 10 lần vào năm 2020 .  Góp phần đưa xuất cảng lúa gạo Việt Nam lên hạng  nhất thế giới , khỏang 10. 5 – 11 triệu tấn gạo một năm,  đuổi kịp xuất cảng Ấn Độ năm  nay 2013 và Thái Lan năm 2011.

 

Sẽ tiếp : các chương trình lâm nghiệp, chống đở tai hại thay đổi khí hậu, phát triễn du lịch công nghệ , khai thác tài nguyên dầu khí Biển Tây và đô thị hóa, tạo dựng văn minh – văn hóa Biển ( Tây ) –Sông- Nước, tiếp nối văn minh Sông -Nước ĐBSCL .

 

 

2 comments

  1. chung toi dang song o HoA KỴ , CỐ vIET THEO DUNG NGUYEN TAC SÁNG TẠO, TRUNG THUC VA tHAN ÁI kHOA HỌCNET đỀ RẠ . tHEO TINH THAN MOT CHUYEN GIA kHOA HỌC KY THUẬT tRE N THE GIOI( TOI LAM VIEC CHO lIEN hIEP QUOC GÀN 25 NĂM ĐAC BIET Ơ pHI cHAU, NGHEO KHỔ , VOITU CÁCH LA TOnG THU KÝ CÁC CHUONG TRÌNH LÚA GẠO QUOC TE) . tI NAN VA LA MOT THUYEN NHAN DOT i , SAU NGAY 30 THÁNG TU NAM 1975 VA TU NAM 1975 CHUA BAO GIO VE LAI tHAM VIENG vIET nAM CA . tAI LIEU VIET RA LÀ LAY O cAC CO QUAN ciA ,, REUTER, fAO V.V DA DANH Ở gOOGLE VA wIKIPEDIA …
    kINH THO tRINH

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s