Nguyên Nguyên – Có thực mới vực được đạo (PHẦN I)

ancomBài viết này thật ra có thể mang tựa thích hợp hơn là Thử tìm hiểu tiếng Việt qua tên gọi một số thức ăn, nhưng nếu nhìn dưới góc độ lý thuyết, rất có thể nếu trình bày trước phương pháp tầm nguyên mới đối với câu ngạn ngữ Có thực mới vực được đạo ta có thể hiểu tầm quan trọng của lý thuyết về ngôn ngữ trong ứng dụng hằng ngày đối với sự việc có thể xem tầm thường là tên gọi các thức ăn.

Thường thường chúng ta rất dễ lướt nhanh qua câu châm ngôn Có thực mới vực được đạo với nhiều tự tin từ mớ kiến thức truyền lại từ các thế hệ trước. Mớ kiến thức này lại được đóng cột thật chắc bởi một số tiền đề thường nằm sẵn ở các lý thuyết về ngôn ngữ, Âu cũng như Á. Đặc biệt phải kể mối quan hệ 1 với 1 giữa một từ và ngữ nghĩa của nó, nhất là những từ ngày xưa được cho là có gốc Hán tự (từ Hán-Việt), và tiền đề quan trọng cho rằng tất cả các từ và ngữ vựng đều được “phát minh” hay “sáng tác” một cách bất chợt và tự nhiên bởi các tiền nhân có học thức cao từ ngàn xưa. Thí dụ điển hình về quan hệ 1-với-1 phải kể đến quyển sách Tam Thiên Tự, mỗi từ mang một nghĩa: Thiên là Trời/Địa là Đất/v. v. . Trong đó có chứa sẵn một số giả định như tiếng Việt là tiếng đơn âm (?), từ Hán Việt là từ vay mượn từ phía Bắc mang phát âm thay đổi cho hợp khẩu vị của tiền nhân, v.v. Thí dụ về một số chữ không đơn âm phải kể đến: khu vực (vực không thể đứng một mình // xem Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức), có thể (khả thi), nhỏ nhen, kinh tế, huyễn hoặc, mơ hồ, hiện sinh, Đàng Ngoài/Đàng Trong, sáng choang, ánh sáng, ám ảnh, phản ánh, mặc cảm, làm quan, giới quan lại, thi thoảng/thỉnh thoảng, thấm thoát, sĩ phu, thất phu, lâm râm/lâm thâm, hấp dẫn/hấp dật, bênh vực, thì giờ/thời giờ, hiện nay, hải sản, v.v. Khuôn khổ bài viết không cho phép chúng ta đi sâu vào những định kiến hoặc tiền đề hay giả định về ngôn ngữ vẫn thường thiếu thốn chứng minh đầy đủ của khoa học. Có vẻ ngôn ngữ là một thực tế hết sức phức tạp, xem như món sở hữu của tập thể và cá nhân, và cũng đồng thời không phải như vậy. Cả hai, cá nhân và tập thể, không mang tính trường cửu hay bất biến. Mang tính phổ quát nhưng cũng không hoàn toàn phổ quát, đối với không gian và thời gian. Giống như chiếc radio, trước khi có nó, rồi kiểu đèn valve khi mới phát minh, cho đến lúc radio nhập vào các thứ điện thoại cầm tay có cả màn hình như ngày nay. Tất nhiên loại radio ban sơ với đèn valve đã bị sa thải và cho vào bảo tàng viện từ lâu. Chỉ cần nhớ rằng tất cả những tiền đề hay giả định luôn luôn bám sát mọi nghiên cứu và tìm hiểu về tiếng Việt, từ đầu đến cuối, từ xưa cho đến nay.

Những điểm này sẽ được trình bày rõ hơn qua việc tìm hiểu ngữ nghĩa và tầm nguyên tên Việt của các món ăn thông thường.

Trước hết, với câu nói Có thực mới vực được đạo, nếu áp dụng Tam Thiên Tự ta có thể thỏa mãn với thực có nghĩa là ăn. Có ăn thì mới đạt được đạo? Nghe cũng khá xuôi tai, tuy không thể nói là đúng hay sai, hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai. Vấn đề này vẫn có từ thời chữ Nôm chứ không phải đợi đến quốc ngữ, và điểm chính là cả chữ Nôm lẫn quốc ngữ thông thường không hàm chứa tính cách tượng hình, giả tá, hài thanh hoặc ráp vần để chúng ta phân biệt được thực ở đây là thực nào. (Tuy thế cần nhấn mạnh là hài thanh, giả tá và chuyển chú thường ẩn tàng trong kiến trúc sơ khai của ngữ vựng, dựa vào tính chất mô-phỏng, xuyên qua nhiều ngôn ngữ khác nhau và có thế cách nhau rất xa về địa lý.) Thực đơn âm có thể là ăn và cũng có thể là nội dung tức “bề trong” hay “chất xám” (thí dụ: hữu danh vô thực), nhưng các thực kia (đa âm) vẫn có thể đưa vào câu nói như thường và nhiều khi mang nghĩa thích hợp hơn: thực hành, thực tế, thực tiễn/thiết thực, sống thực (sinh tồn/Life), chân thực/chân thật/thành thật (sự thật/Truth), v. v.

Thực có các âm tương đương là thiệtthật nhưng thực luôn được chọn dùng trong câu nói bởi thực mang âm vần với vực đi sau. Nếu nhìn kỹ các thực đa âm ta có thể thấy tất cả đều mang ý nghĩa thích hợp cho toàn câu nói, theo kiểu “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”, và trọng tâm của chuyện “hợp nghĩa” này hoàn toàn tùy thuộc vào ý nghĩa nguyên thủy và tổng quát của chữ Đạo. Nói một cách đơn giản, Đạo tương đương với the Way trong tiếng Anh (nghĩa khá rộng), và có nguốn gốc ở đạo Lão (Taoism hay Daoism). Trong tiếng Việt đạo thường mang nghĩa tương đương với tông giáo (đến khoảng giữa thế kỷ 20) và tôn giáo (religion). Tông giáo có vẻ hơi khác với tôn giáo ở chỗ thiên về tổ tông, thờ cúng ông bà tổ tiên.

Thử khảo sát từng chữ thực ở cả hai dạng đơn âm và dạng đa âm:

  1.     a.          Thực mang nghĩa ăn: Tương đương với Quảng Đông xực (食), xực phàn (thực phạn 食飯 = ăn cơm). Anh ngữ có câu ngạn ngữ cũng giống như vậy:
  • The way to a man’s heart is through his stomach: Con đường dẫn vào tim của người đàn ông thường đi ngang qua bao tử của họ.
  • Fine words butter no parsnips: Không thể trét bơ vào củ cải vàng bằng những lời nói hoa mỹ.
  1.    b.          Thực mang nghĩa nội dung/thực lực (hữu danh vô thật 有名無實): Âm quan thọai của 實 (hay 实) là [shi] tương đương với Quảng Đông [sat] (thật) và Hakka [sit] (thực/thiệt). Câu nói tương đương tiếng Anh:
  • Actions speak louder than words: Việc làm lớn tiếng hơn lời nói.
  • A fine cage won’t feed the bird (Xem thêm: Tuyển Tập Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Anh Thông Dụng của Nguyễn Đình Hùng): Chiếc lồng đẹp không thể thay thế thức ăn cho chim.
  1.     c.          Thực viết theo chữ Hán 實 (hay 实) [shi] thường dùng trong từ kép như thực tế (切实 – [qie shi] thế thậtt’ế thựcthực tế/thiết thực (Âm tiếng Việt của chữ Hán tương đương 切 là thiết/thế ( → t’ếtế)) hay thực tiễn ([shi jian] 实践) mang nghĩa tiếng Anh là practical/realistic và rất gần với thực hành/thi hành, và thực lực như ở (b). Thành ngữ tương đương tiếng Anh:
  • Practice makes perfect: Thực hành nhiều mới đạt đến hoàn hảo.
  1.    d.          Thực trong sống thực mang nghĩa sinh trưởng, tăng trưởng hoặc sinh sản (thực ở đây viết theo chữ Hán là 殖 – phát âm Triều Châu: [sig] hay [sêg], phát âm Vi-Đầu (Weitou) [zäk] (Vi 围 ở đây tương đương với vây/bao vây) hợp với sống mang nghĩa “nguyên thủy” là đời sống (Life) hay … sống thực (~ real life), sinh động. Ý nghĩa này hợp với ý nghĩa chân thật (truth) (phần (e)) có thể phản ánh qua câu nói tìm thấy trong thánh kinh: I am the Way the Truth and the Life, tức Đạo, sự ThậtĐời có thể họp lại thành 1 (Có Thực mới vực được Đạo). (Để ý thổ ngữ Weitou, thường xem như một nhánh của tiếng Quảng Đông ở khu Shenzhen (深圳 / Thẩm Quyến) có âm [Wei] phát âm Nôm là vây (~ Quảng Đông [waii], Vi Đầu [wäi]) và “Hán Việt” là Vi ([Vi] lại giống Triều Châu [ui], Hẹ [vui] hay [wi], Tô Châu [we] hoặc [yiu]).
  2.     e.          Thực trong chân thực/chân thật (真實) vẫn viết theo chữ Hán như ở (b) và (c). Chữ chân 真 cũng mang nghĩa giống như thật và do đó chân thật là từ kép mang nghĩa mạnh hơn cả chân lẫn thật → the Truth. Chân trong chân nhân lại mang nghĩa khác, và chân nhân chỉ người đã đắc đạo thành tiên trong đạo Lão.

Tóm tắt, có thể diễn dịch câu nói Có thực mới vực được đạo bằng những ý nghĩa khác nhau của thực như sau:

  • Muốn …đắc đạo hãy tôn trọng sự thật
  • Có sống thực tiễn mới đạt đến … đạo
  • Có ăn mới giúp đến gần với đạo
  • Sống thực mới là đạo
  • Thực hành mới đưa đến hoàn hảo
  • Có học phải có hành, v. v.

Bây giờ hãy xem đến chữ mới trong Có thực mới vực được đạo. Theo kiểu chính thống, mới này là một từ đồng âm dị nghĩa với mới (new) trong mới tinh hoặc mơi trong ngày mơi/ngày mai (ngày mới so với hôm nay/the new day/next day), mang âm tương đương trong tiếng Thai [mai], Lào [maii] và Khmer [tmey] (new). (Để ý tính hài thanh giữa mơi/mai với mới theo lý thuyết dựa trên tính mô phỏng).

Mới trong câu thành ngữ, theo Tự Vị của Huình Tịnh Của (Paulus Của), mang nghĩa bây giờ (tức đến bấy giờ). Thí dụ: tuần sau mới hay/mới biết), hoặc giải thích theo Khai Trí Tiến Đức, tiếng nói việc sẽ làm sau khi xong việc khác: học xong mới đi chơi. Âm tương đương của mới trong tiếng Thái, một trong những lớp hạ tầng của tiếng Việt cổ giống như lớp hạ tầng Mon-Khmer, là âm đầu [meuua] của [meuua nan] mang nghĩa (xem tự điển Thai-language.com có trên mạng): vào lúc đó/từ đó/kế đó/sau đó, rất gần với mới. Mặt khác, âm [mai] (ใหม่) tiếng Thái ngoài nghĩa new/mới như trên, còn mang nghĩa khá giống với mới (đến bấy giờ). Âm [mai] đóng vai như một tiếp vĩ ngữ ráp với một từ để cho biết một thay đổi/biến chuyển của một trạng thái hay hành động (xem: Thai-language.com). Thí dụ: học rồi mới đi chơi. Ở đây mới đóng vai trò giống như [mai] tiếng Thái, ráp với học rồi và chỉ một hành động kế tiếp (đi chơi) khác với chuyện học. Để ý mới trong học xong mới đi chơi có thể được thay thế bởi hãy: học xong hãy đi chơi, và hãy ở đây xem ra rất giống [haiF] trong tiếng Thái, mang nghĩa vào lúc đó, cho đến, mặc dù vị trí trong câu nói có thể thay đổi: học cho đến xong (thì) đi chơi. Hãy cũng đóng vai trò ngữ nghĩa giống như yet trong tiếng Anh, nhưng khác ở vị trí văn phạm.

Chữ mới cũng có thể liên hệ về âm với chữ 末 [mo] ([mo hou] 末後), mang một nghĩa là sau đó (rất gần với mới). Âm tiếng Hán-Hàn (Sino-Korean) là [mal] rất gần với [mai] tiếng Việt và Thái, và tiếng Nhật (ON), [batsu] バツ hay [matsu] マツ – (Cả hai [b] (batsu) và [m] (matsu) đều là âm môi-môi). Phát âm Thượng Hải tương đương với [mo] là [moe] và Tô Châu [meu], cả hai đều rất gần với mới. (Thượng Hải và Tô Châu đều nằm trong địa bàn của Ngô Việt (Wu Yue)). Một nghĩa khác của [mo] 末 là cuối cùng, sau cùng, kết thúc: mút mùa (mút ~ [mut] tiếng Quảng Đông, mạt vận (mạt ~ [mat] tiếng Hẹ, và [matsu] Nhật → 幕末 bakumatsu: kết thúc giai đoạn sứ quân (“giai đoạn sứ quân” thường gọi nôm na là bakufu)).

Mới trong câu sống thực mới là đạo hay đi xe Rolls Royce mới là đại gia hoặc uống sâm ăn tổ yến mới là vua lại mang nghĩa hơi khác: mới thật (really) và có liên hệ đến âm [mei] hay [mo], chữ 没 trong tiếng Hán (没说的 [mei shuode] (mới thật là), xem Chinese-tools.com). Có thể hiểu rõ hơn ý nghĩa sơ khai của mới này bằng cách chơi chữ, theo triết gia Ludwig Wittgenstein, khi đảo ngược câu nói dùng mới: Làm vua mới uống sâm ăn tổ yến hay Đại gia mới đi xe Rolls Royce. Theo đó, có khả năng thấy ngay mới mang nghĩa như chỉ (only hay yet), và rất thích hợp với vai trò của mới trong câu nói Có thực mới vực được đạo.

Nhìn theo góc độ ngữ nghĩa sơ khai có thể thấy mới (new), mới/mơi/mai (next) và mới (đến lúc đó/after that/thence), v.v. đều có chung một gốc, một âm nguyên thủy. Và nếu hiểu theo kiểu tương đương này không thể nóingày mơi” là một thứ tiếng … ngọng của “ngày mai”.

Xa xa hơn một tí có thể thấy mai/mới đều nằm trong ý nghĩa sơ khởi của một (1) và hai (2), theo thuyết mô-phỏng, nhằm chỉ vào biến đổi của trạng thái hay chuỗi trình, đột ngột (1) hay lâu dài (2). Thí dụ: tài năng mai một, mai-một đóng vai một động từ kép với một (1) mang nghĩa biến mất. Mai tương đương với mới hoặc với hãy (xem phía trên) ([hai] tiếng Thái), tức hai (2) chỉ việc thay đổi sau 1 thời gian: Có thực mới vực được đạo → không phải có thựcvực được đạo ngay, hoặc có thực không dễ thực hiện trong thời gian cực ngắn.

Thế tầm nguyên của vực ra sao? Nghĩa vực trong câu nói có thực mới vực được đạo có vẻ không có trong tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức hay Tự vị của Huình Tịnh Paulus Của. Tự điển Alexandre de Rhodes có ghi: UỰC, TÂY UỰC: miền Tây rộng lớn (cùng nghĩa với Thái vực – ngày trước có từ kép: Thái Tây chỉ hướng Tây) // UỰC, CỨU NGƯỜI TA: bênh uực (vực) ai. (Để ý âm [U] của nhị âm [UƯ] thay cho [W] hay [V] giống y chang như âm đầu [U] trong một tự điển tiếng Quảng Đông xuất bản vào dầu thế kỷ 20. Tự vị của Lê Ngọc Trụ có vẻ tổng hợp được nhiều ý nghĩa khác nhau của vực, trong đó có, ngoài hai nghĩa khu vực (vực (Alexandre de Rhodes) = rộng lớn 豁 [huat] Triều Châu) và giúp đỡ (~ [wơh] tiếng Chăm):

– rèn tập thú vật: vực bò/vực trâu;

ngờ vực hay nghi hoặc (vực = hoặc 或 (vực ~ [weq] tiếng Thượng Hải // hoặc ~ [waak] Quảng Đông, [huo] Quan Thoại, [hog] Tiều Châu);

– chỗ hẳm xuống sâu (vực thẳm). Chữ vực (vùng cõi) trong khu vực còn mang âm khác thinh là vức, tương đương với Quảng Đông [wik] và Quan Thoại [yu] 域 (area/domain/region). Để ý: [yu] → [yựk], tức có qua lại giữa phát âm [w] (hay [v]) và [y] trong tiếng Việt.

 

Nhưng tất cả đều không hoàn toàn giống với nghĩa của vực trong vực được, ở đây có thể xem như một từ kép: đạt được/đạt đến (attain). Tức vực mang nghĩa như đạt, vươn tới (reach/attain). Diễn dịch theo lý thuyết của nhà ngữ học Noam Chomsky có thể thấy một từ không có trong tự điển không có nghĩa đó là từ vay mượn hay một từ rất cổ, mà lại có khả năng chữ xuất phát từ chốn dân gian, không liên hệ đến trình độ học vấn. Phối hợp diễn dịch này với lý thuyết mới cho rằng các thứ tiếng Thái cổ và Mon-Khmer đã kiến tạo lớp hạ tầng cơ bản tiếng Việt, âm chữ vực với nghĩa đạt đến có thể mang liên hệ mật thiết với [weeuy] trong [sa weeuy] hay [waeht] trong [bpa dti waeht] ở tiếng Thái, cả hai đều mang nghĩa attain (đạt được), và đặc biệt [waeht] (~ vực): hiểu biết cặn kẽ/đạt đến thông suốt (~ ngộ). Giả thiết này cũng nằm trong một khám phá thuộc lý thuyết mới về các từ kép, theo đó nhiều từ kép mang cấu trúc hỗn hợp, có một từ liên quan đến một ngôn ngữ và từ kia, liên hệ với một ngôn ngữ khác. Trong vực được, được liên hệ đến 2 từ Hán, 得 [de], [diak] Phúc Kiến (~ được), [dak] Quảng Đông tức đắc (Việt), và 达 [da], [daat] Quảng Đông, [dat] Phúc Kiến (~ đạt), [dag] Tiều Châu, [daq] Thượng Hải, [dæk] Vi-Đầu, rất gần với đắc, [tat] Hakka gần với tất, và vực rất có thể có chung gốc với âm [waeht] trong [bpa dti waeht] ở tiếng Thái.

Chữ được, theo tự điển Alexandre de Rhodes, cũng mang nghĩa có thể/có khả năng (得), và thường được dùng trong Thụ Động Cách (đối nghĩa với bị): được cứu (得救). Để ý âm chữ cứu (救) trong tiếng Việt (Mường: cửu) nằm giữa 2 âm [gau/kau] Quảng Đông và [kíu] Hẹ. Cũng giống như âm [lưu] nằm giữa [lau] và [liu], thí dụ tài tử/ca sĩ Andy Lau tức Lau Dak Waa (Quảng Đông) phát âm theo giọng quan-thoại là Liu De Hua.

Có thể thấy trong trình bày ở trên có nhiều vấn đề cần được quan sát kỹ hơn. Quan trọng nhất có lẽ là những lấn cấn không thuần nhất với một số tiền đề của các lý thuyết chính thống hay xưa cũ. Tiền đề của lý thuyết mới (dựa trên mô hình cây và đất khác với mô hình phổ thông cây và cành) bao gồm những điểm chính sau đây:

  • Đối tượng cụ thể trong khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ rất giống với đất đá (ngành cơ học về đất đá (geomechanics)) bởi đất đá rất khó mang tính đồng chất và đẳng hướng với không gian và thời gian.
  • Thực thể nòng cốt của ngôn ngữ là tiếng nói chứ không phải chữ viết. (Xem qua thí dụ về tiếng In-Đô-nê-xia, ngày trước gọi là Nam Dương, ngày xưa mang ký âm dựa trên chữ cái của tiếng Ả-Rập, với hằng trăm hằng ngàn lối phát âm khác nhau, và đến thế kỷ 19 mới dần dần đổi sang kiểu La-Tinh a-b-c, thành quốc ngữ Bahasa giống giống tiếng Malay).
  • Chữ quốc ngữ (lingua franca), dạng mang tiếng là sau cùng của ngôn ngữ, rất dễ khoác vào chiếc áo hiện sinh, mặc dù đã trải nghiệm một tiến trình lịch sử đặc trưng với bản chất có trước hiện hữu, với đa phần là tiếng nói của nhiều thổ ngữ chứ không phải chữ viết.
  • Phát triển của chữ quốc ngữ (của nhiều nơi trên thế giới) dựa vào 2 giai đoạn chính: giai đoạn 1 (cơ sở hạ tầng) và giai đoạn 2 (hỗn hợp tiếng với các đợt di dân hay giao lưu văn hóa/thương mại).

Có rất nhiều hệ luận xuất phát từ những điểm cơ bản của lý thuyết, nhưng quan trọng nhất có lẽ là hệ luận về vai trò của những từ vựng xưa nay được phân biệt bằng Hán-Việt và Nôm. Theo quan điểm thông thường các từ gọi là Hán Việt là từ mang gốc hoặc vay mượn từ Hán tự nhưng âm vận thường biến đổi theo kiểu địa phương. Theo lý thuyết cây và đất, những từ được gọi Hán Việt chỉ mang tính cách đối chiếu (reference) giữa âm Việt tương đương với một hay nhiều âm Hán mang chữ viết Hán tự. Những âm Việt này thường rất giống âm từ những phương ngữ tiếng Trung nói chung, tiếng Hàn hay tiếng Nhật, và nhiều khi giống cả tiếng Thái, tiếng Mon hay Khmer. Tức rất khó có thể phân biệt thế nào là Hán-Việt, và Nôm thì thuộc loại Nôm nào, Thái / Mường / Tay-Nùng hay Mon-Khmer, hoặc Chăm. Nếu nhìn vào cơ bản của cấu trúc các từ, có thể thấy ngay rất khó truy tầm ra gốc của từ nằm ở chốn mô. Thí dụ: người xưa định hướng Đông Tây Nam Bắc bằng cách đứng thẳng với cánh tay trái chỉ vào hướng mặt trời mọc (Đông). Do đó lưng của người đó quay về hướng Bắc, phù hợp với back (Anh ngữ) mang nghĩa lưng. Nếu lưng (back) mang nghĩa như Bắc, thì trước mặt phải là Nam (South). Trước mặt vẫn thường thấy hai bàn tay, mỗi bàn có Năm ngón tay. Trong khoảng thời gian dài không có chữ viết a-b-c phát âm NamNăm rất khó phân biệt với nhau. Nhưng quan trọng nhất có thể thấy Bắc hay Nam được “sáng tác” hoàn toàn độc lập với tiếng Trung hoặc nói cách khác gọi Bắc/Nam là những tiếng Hán-Việt hoàn toàn thiếu thốn cơ sở khoa học. Thí dụ khác hướng Tây cũng thường được cho là một từ vay mượn từ tiếng Hán, 西 [xi], biến đổi cho hợp với “khẩu vị” của người nước Nam. Tự điển HanViet.org cho biết tiếng Việt có 2 âm cho chữ 西 [xi]: Tây, và cả hai tương ứng với chữ tay (hand) (Karate → [te] = tay // karate= tay không) mang ý nghĩa mô-phỏng là số 2 tức hướng Tây. Âm quan thoại [xi] thật ra liên hệ nhiều hơn với [xi] tịch trong tịch dương (夕陽) tức mặt trời lặn (hướng Tây). Âm thất thường xem như từ Hán Việt chỉ số 7 (七). Nhưng thật ra âm quan thoại của chữ 七 là [qi] tương đương với Việt khí hay khỉ (tiếng Ai Cập cổ: [khi] → con khỉ). Trong nghĩa cơ bản, âm khí mô phỏng khí trời hấp vào thở ra bằng hai lỗ mũi (số 2). Khỉ cũng vậy, đó là sinh vật rất giống người, tức số 2 sau loài người. Âm thất tiếng Việt còn có nghĩa là mất (có (1)/mất (2)), hay thất phu (người thường/phó thường dân) tức second-class citizen (công dân hạng thứ/hạng 2). Tiếng Trung và tiếng Việt đều mượn ý số 2 cho con số 7, bởi 7 chính là số 2 ở bàn tay kia, sau khi dùng bàn tay này cho số đếm từ 1 đến 5. Âm tiếng Việt cho số 7 còn là bảy / bẩy.  Âm [bảy] rất gần với [bei] tiếng Khmer chỉ số 2 hay [bi] tiếng Anh trong bi-monthly (mỗi 2 tháng), bi-directional (hai chiều), và tiếng Việt bây (chúng mầy (ngôi thứ 2) → [b] / [m] đều là âm môi-môi).

Xem lại các thí dụ ở trên có thể thấy chữ 圍 (hay 围) mang nghĩa Nôm là vây (bao vây) với âm “Hán Việt” [vi]. Thật ra nếu tra tự điển các phương ngữ sẽ thấy âm tiếng Hẹ (thí dụ: kawa.net) của 围 là [vui] hay [wi], âm Tiều là [ui], rất gần với Việt [vi]. Còn vây, thường xem là Nôm, lại gần với quan thoại [wei] hay Quảng Đông [wai], Vi Đầu [wäi].

Hãy thử khảo sát thêm tiếng lóng hết sẩy mang nghĩa nôm na là tuyệt vời, toàn hảo (fabulous, superb). (Để ý điểm khá kì lạ là tiếng Việt hiện tại có rất nhiều tiếng lóng và ít tiếng chuẩn).

Trong tuyệt vờitoàn hảo (hay rất tốt) có chữ tuyệt (cực/extremely) và toàn (entirely/completely). Rất có khả năng sẩy liên hệ với âm [saai] của tiếng Quảng Đông mang nghĩa (thuần Quảng Đông) là toàn thể (entirely) hay rất nhiều (very much) – xem tự điển Quảng Đông cantonese.sheik.co.uk có trên mạng. Tương đương của sẩy trong tiếng Việt là thảy: hết sẩyhết thảy. Hán tự của thảy là 晒 [sái] ngày nay trong tiếng Hoa thường không mang nghĩa cả thảy (tất cả) mà lại: phơi nắng cho khô: sái y phục (xem hanviet.org). Ở đây ta thấy có sự qua lại giữa âm đầu [s] (sẩy) và [th] (thảy) trong tiếng Việt, như ghi nhận ở trên: thật (Quảng Đông [sat]), thực/thiệt (Hẹ [sit], Quan thoại [shi]), thực (xực (ăn)), và xơi (thời). Hoán chuyển qua lại giữa [s] và [th] cũng có thể thấy qua tên của sông Thanlwin ở Myanmar đọc theo tiếng Anh là Salween, và âm này rất có khả năng dựa vào một hay vài phương ngữ của tiếng Myanmar. Theo thuyết chính thống hoán chuyển [s]-[th] thường được xem là nói ngọng: mưa như xế mà ra thân xì xế nào cũng cảm mất xôi (Thay x bằng th – xem Tiếng Việt Tuyệt Vời của Đỗ Quang Vinh).

Hết mang hai nghĩa chính: tất cả/toàn thể (hết thảy) và chấm dứt/ chung cuộc/ cạn sạch, thường xem là một từ thuần Nôm. Trong nghĩa nghỉ/ thôi/ cạn sạch, âm Hán Việt của hếthiết (歇), khá giống với [hiet] tiếng Hẹ, trong khi hết lại giống với một số phát âm khác, như ở Meixian/Hailu, của tiếng Hẹ (Hakka): [het]. Trong nghĩa tất cả/ trọn vẹn, hết mang âm gần với Phúc Kiến [hut] (囫囵 [hut lun] → Hán Việt: hốt luân (entire/whole)). Hết cũng liên hệ với âm [kiet] tiếng Hẹ tức kiệt 竭 (xem Tự Vị của Lê Ngọc Trụ): hết sức = kiệt lực (竭力). Âm [kiet] 竭 (quan thoại: [jie]) có liên hệ với một trong những âm viết với chữ 渴 [kě] [hé] [jié] [kài] mang nghĩa là khát (nước). Âm tiếng Hẹ của chữ khát 渴 bao gồm: [k’ot] (~ khót / khót thay cho khát, rất giống một vài phát âm địa phương trong tiếng Việt), [hat] và [hot]. Âm Hẹ [hot] và [hot] rất gần với hết.

Nhìn vào các thứ tiếng hạ tầng, có thể thấy âm của chữ hết có khả năng dính dáng đến âm [hĕt] hoặc [hŏt] tiếng Khmer mang nghĩa hết sức cảm kích/đánh giá rất cao (value highly/appreciate very much), rất hợp với hết trong hết sẩy (nhắc lại: sẩy theo chữ viết 晒 [saai] Quảng Đông, mang nghĩa rất nhiều. Hết sẩy: cảm khích rất nhiều/ vô cùng cảm kích).

Thử dùng các kỹ thuật của lý thuyết mới để tầm nguyên chữ sức trong sức lực. Rất rõ sức lực là một thứ từ kép nhưng ý nghĩa sơ khai của sức lực cho thấy sức không hoàn toàn cùng nghĩa với lực mà thật ra là biến chuyển qua lại với thực lực, trong đó âm đầu của sứcthực theo sát với hoán chuyển [s] và [th]. Thực lực mang nghĩa tiếng Anh là might/ power và tiếng Quảng Đông là [sat lik] 實力, mang nghĩa actual strength (thực lực). Phát âm tương đương với [sat] (thật/ sức) trong tiếng Hẹ là [sit] (thiệt), Tiều là [sig] và Weitou (Vi-Đầu) là [säk] (sức). Âm tiếng Thái gần giống với [sức] là [sak] mang nghĩa might/ power tiếng Anh.  Sức tiếng Việt cũng có thể liên hệ mật thiết với âm [seuk] tiếng Thái trong cụm từ [dtemM atL raaMseukL] mang nghĩa dùng hết sức lực (thực lực) của mình (xem tự điển Thai-language.com).

 

(Hết Phần I)

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s