Lê Cảnh Hoằng – Tản mạn về vang [1] xứ Đức: Rượu vang, một văn hóa châu Âu lâu đời

wein-rieslingTiếp xúc với cuộc sống Âu châu một thời gian, hoặc do tình cờ hoặc với chủ đích, dần dà bạn sẽ đến quen với một thú tao nhã. Một thú vui đòi hỏi bạn không những phải mất thì giờ mà còn phải đầu tư chút đầu óc tìm hiểu, so sánh, phân biệt được loại giống; đòi hỏi bạn dành thời gian theo dõi khí hậu, mùa mưa nắng để biết được năm nào được mùa, để biết được giống nào, từ năm nào cất trữ được và … nếu được thì bao lâu. Rồi thì phải biết cách gìn giữ bảo quản .vâng .. vâng … Chưa hết, điều quan trọng không kém, bạn còn phải am tường nghi thức thưởng thức, bạn phải sắm đầy đủ lễ bộ đồ dùng cho thú chơi, sắm thêm những phụ tùng đi kèm  vâng .. vâng … và .vâng .. vâng … Rõ là môt thú khá tốn kém công sức!

Đó là …

… Cái thú uống vang!

Với Âu Mỹ, thưởng thức vang là một văn hoá.

Vang hiện nay được sản xuất từ khắp năm châu nhưng châu Âu luôn luôn vẫn là trung tâm của thế giới vang. Chính từ nơi này văn hoá rượu vang toả rộng khắp các châu lục. Và khi bàn về những xứ vang châu Âu thì không thể không nhắc đến một xứ sở vang nổi tiếng, nước Đức, xưa nay giữ một vị trí khá quan trọng và đóng góp cho làng vang hàng năm những giọt vang chất lượng tuyệt vời.

Sơ lược tiểu sử

Vạn sự khởi đầu …

weinCây Nho thuộc một trong những loài cây xưa trên trái đất. Những hóa thạch tìm được đã chứng minh rằng nhiều loại nho dại, một họ cây leo, đã hiện hữu cách đây hơn 130 triệu năm, giống nho hiện nay là thành quả từ một quá trình tinh chọn trải dài qua hàng ngàn năm của loài người – chỉ có loại ngon nhất và thích ứng nhất được gieo cấy thành giống vitis vinifera [2] – phục vụ mục đích canh tác trồng nho sản xuất rượu vang [3].

Những bằng chứng xa xưa cho thấy nền canh tác nho vang đã có từ vài ngàn năm trước công nguyên, đặc biệt tại những vùng văn hóa hưng thịnh xưa cổ ở Trung đông, nơi hiện nay là những nước như Ai cập (Ägypten), Iran, Do Thái (Israel), … Tại Hy lạp (Griechenland) và Í đại lợi (Italien) cũng có những dấu tích khảo cổ cho thấy văn hóa canh tác nho vang đã có mặt tại đây trước Tây lịch. Và ngay cả trong thế giới tâm linh huyền bí cũng có những chứng cớ cụ thể! Từ thời xa xưa thần rượu vang Dyonysos đã được dân Hy lạp  sùng bái. Dân La mã (Römer) cũng đã nặn cho ra được ngài Bacchus [4], ông ‚thần lưu linh’ [5] này chỉ có mỗi một nhiệm vụ làm sao phù hộ cho nho được mùa để rượu năm ấy chứa được đầy hầm.

Một điều được biết chắc chắn là trước đây 8000 năm tại Damaskus [6] những hạt nho đầu tiên đã được ép và chế biến thành rượu. Điều chắc chắn thứ đến – đây là một may mắn vô cùng cho thế giới những người tình của „nàng vang“ – cái thứ nước nho ủ có chứa ít nhiều phần trăm men say từ xa xưa nguyên thủy này đem so với những giọt rượu vang mà thời đại ngày nay cống hiến chúng ta thưởng thức, khác biệt nhau một trời một vực.

Vài thế kỷ trước Chúa Giáng sinh, dưới triều đại La mã, rượu vang không biết từ bao giờ đã trở thành một thức uống phổ thông. Thường uống pha chung với nước lã, vang được dùng như một liều thuốc bổ dưỡng trị bá chứng, chứ không phải là một chất kích thích.

Xâm lăng lãnh thổ  …

Để cung ứng cho nhu cầu rượu vang (đến gần 1 lít/người/ngày) của đội quân viễn chinh La mã trên đường Bắc tiến xâm lấn châu Âu, đồng thời khỏi phải nhọc nhằn vận chuyển hàng tấn rượu vang qua rặng núi Alpen [7] hiểm trở, quy trình canh tác – sản xuất rượu vang được tổ chức đồng bộ trên từng thước đất đội quân hùng hậu này đặt chân qua. Chiếm đất đến đâu trồng nho đến đấy, và như thế, cách đây hơn 2000 năm, theo gót chân những binh đoàn La mã thời xa xưa đó, những luống nho đầu tiên cùng với kỹ thuật và phương pháp trồng nho – mà chính dân La mã đã học được từ các giống dân Hy lạp và dân Etrusker [8] – qua ngỏ này thâm nhập vào những lãnh thổ, những vùng dân cư nói tiếng Đức.

Những kết qủa tiếp theo là một ngạc nhiên không ngờ. Cái loại vang đất bắc [9] này nhẹ hơn những loại vang xưa nay được chế biến từ miền nam … mà hương vị lại đa dạng hơn …

Cho đến cuối thế kỷ thứ 8, khi Charles Đại đế  [10] tóm thâu Âu châu đặt nền móng cho một Vương triều mới, những vùng canh tác nho vang, quy thức sản xuất và khâu buôn bán rượu vang được vị Hoàng đế nổi danh này chi phối và quản lý chặc chẽ. Qua mối liên kết mật thiết giữa Charles Đại đế và Tòa Thánh La Mã, từ thời đại này trở đi nhà thờ nắm hết phần quản trị khâu canh tác nho vang, những Tu viện là những Trung tâm của văn hóa rượu vang [11]. Trong thời Trung cổ, đi cùng với những cuộc chinh phạt của Charles Đại đế, nền canh tác nho vang được khuyến khích, tràn ngập khắp hết lãnh địa nước Đức. Trong các thức uống phổ thông thời đó, so với bia vừa mắc vừa dở, vang là thức uống duy nhất khá tinh khiết, sạch sẽ lại hợp túi tiền – rượu vang đương nhiên trở thành thức uống dân gian [12] của dân tộc Đức.

Từ năm 1500, qua ảnh hưởng của thay đổi khí hậu, song song đó lượng rượu vang nhập cảng tăng nhanh, lượng sản xuất bia vọt cao nhờ quy trình sản xuất bia ngày càng được cải tiến, diện tích canh tác nho vang vì vậy giảm dần. Tuy nhiên phương pháp trồng trọt và quy trình tinh chế rượu cũng đồng thời phát triển không ngừng, phẩm chất vang Đức qua đó ngày càng được nâng cao.

Đầu thế kỷ 19, Hòang đế Nã Phá Luân [13] xâm chiếm vùng tả, hữu ngạn sông Rhein [14]. Nã Phá Luân chủ trương tư hữu hóa những đồi nho trong vùng, vốn thuộc về Nhà thờ từ thời Trung cổ. Những người chủ mới các vườn nho với đầy năng động, trong tình huống hiện thời, chuyển trọng tâm, tập trung nâng cao phẩm chất hơn là đẩy mạnh sản lượng. Và thế là rượu vang vùng thung lũng sông Rhein và Mosel [15] ngày càng nổi tiếng. Những chai vang vùng này được xuất cảng qua Anh quốc, Bohemia [16] và Nga. Tại các Nhà Hàng danh tiếng và trên danh mục các rượu vang xuất sắc, vang trắng Đức thời đó đã là những siêu sao.

Và cũng từ lâu vang đã trở thành một mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế quốc gia.

Đại nạn – Reblauskatastrophe [17]

Giữa thế kỷ 19 một tai họa bất chợt giáng xuống, làm nền văn hóa và canh tác nho vang tại Đức nói riêng, và tại châu Âu nói chung khốn đốn bên bờ vực thẳm. Khoảng 1860, loài rận nho [18] gốc gác từ Bắc Mỹ, theo những chuyến tàu xuyên đại dương, xâm nhập đầu tiên vào đất Pháp và chẳng bao lâu lan rộng trên toàn diện châu Âu, gieo thiệt hại và có nguy cơ tàn phá hết tất cả những vùng canh tác nho vang của toàn lục địa này. Hằng hà sa số những đồi nho và những trang trại nho bỗng chốc biến thành trơ trọi. Rất nhiều giống nho đặc thù của từng vùng bị tuyệt chủng. Hội đồng nghiên cứu diệt trừrận nho“ dưới sự chủ trì của Louis Pasteur [19], được riêng Chính phủ Pháp kêu gọi thành lập vào năm 1870, cũng chịu bó tay. Trước tình thế một mất một còn này, một ngành nghiên cứu về canh tác nho vang tự nhiên thành hình. Mỗi nhà nghiên cứu đều gánh vác một sứ mạng trên vai, đó cũng là một cơ hội lớn để trổ tài – bắt buộc phải kiếm cho bằng được một giải pháp – và họ đã tìm được lối đi: bằng cách thức cấy ghép, họ gieo những cành thuộc các giống nho vang châu Âu lên những gốc nho lấy từ Bắc Mỹ có tính miễn nhiễm với lòai rận nho này. Với phương pháp đơn giản như vậy khoa nghiên cứu canh tác nho vang thời đó đã đưa văn hóa rượu vang châu Âu thoát khỏi họa diệt vong.

Đến cuối thế kỷ 19 nền canh tác nho vang dần dần hồi sức, qua đến thế kỷ 20 thì ổn định và từng bước, từng bước rộ nở. Cũng từ đó mối liên lạc và cộng tác tương quan giữa khoa nghiên cứu canh tác nho vang cùng các chủ trang trại nho ngày càng chặc chẽ.

Đặc thù và đa dạng

Qua phương pháp cấy ghép như trên tình cờ những giống nho mới được tạo sinh và theo thời gian đóng góp cho nền vang Đức có những nét đặc thù riêng. Ngày nay Đức đem đến cho thế giới vang những loại vang vừa nhẹ vừa thanh khiết  mà không nơi nào sản xuất được: những loại vang chứa ít hàm lượng cồn nhưng vẫn trữ đầy hương vị , vị giác  hài hòa, mang đậm nét quyến rũ  và phảng phất sắc thái riêng  – Từ đấy khoa nghiên cứu canh tác nho vang của Đức được khắp nơi coi trọng và đánh giá cao – Hiện nay có thể nói, tại hầu hết những trang trại rượu vang, trên phần lớn những đồi nho khắp nẻo địa cầu đều có sự hiện diện của lớp kỹ sư trồng vang [20] trẻ trung xuất thân từ các trung tâm nghiên cứu này – Và rồi, cũng qua đấy, trong thị trường vang thế giới ngày càng lớn mạnh với cạnh tranh ngày càng mãnh liệt, các xứ sở rượu vang tầm cỡ gần xa bắt đầu gieo trồng các giống nho y hệt để có bằng được những loại vang đặc thù này, đặc biệt là  giống Riesling [21]. Nhưng những mẻ vang làm ra vẫn không bao giờ đem lại được kết quả mong muốn.

Mọi sự việc đều có nguyên nhân của nó: Muốn sản xuất thành công loại vang thanh khiết và hấp dẫn như vậy, nho phải được trồng trên vùng canh tác đặc biệt, hội những điều kiện mà chỉ những vùng canh tác nho vang xứ Đức mới thỏa đáng được.

Những chi tiết quan trọng để vang Đức có những nét đặc thù không nơi nào bắt chước được, phải nói chắc chắn do khí hậu và cấu chất đất đai của mỗi vùng.

Thiên thời, Địa lợi …

11 trong những vùng trồng vang chính của Đức nằm tương đối tập trung tại miền Tây-nam nước này, 2 vùng còn lại nằm tại phía đông. Tất cả đều nằm trong khỏang vĩ tuyến 50 độ bắc. Như vậy vùng canh tác nho vang của Đức nằm cùng độ cao với Labrador [22] tại đông bắc Gia nã đại (Canada), khu vực phải nói là có một khí hậu khắc nghiệt, nóng lạnh bất thường. Trên cùng độ cao đó, khí hậu Âu châu ngược lại ôn hòa, một điểm vô cùng thuận lợi cho việc canh tác nho vang. Được dòng nước ấm gulf-stream [23] ảnh hưởng và điều tiết, khí hậu vùng này khá êm dịu. Tại những vùng trồng vang trên đất nước Đức, chênh lệch nhiệt độ trong năm không quá 10 -13 độ Celcius, điều kiện không khác gì những vùng xứ nóng nằm dưới miền nam rặng Alpen. Thứ đến những khu vực trồng vang đều nằm trên những triền đồi soi mặt hướng nam, thường là cạnh một nhánh sông, gọn gàn giữa thung lũng, xung quanh được che kín. Dòng sông như một máy điều hòa khí hậu, mang nhiệm vụ cân đối nhiệt độ cho vùng canh tác. Sông còn đóng góp thêm vào đó những yếu tố không kém phần quan trọng – Mặt nước phản chiếu ánh mặt trời để truyền thêm cái ấm và sức nóng từ phía dưới lên những luống nho – Đến mùa thu hơi nước cùng sương mù dâng lên bao lấy những buồng nho chống đỡ cái cóng rét bởi tiết lạnh mùa Đông đang sửa sọan tràn đến.

Bên cạnh những điều kiện khí hậu tổng thể, những khí hậu đặc thù riêng từng vùng cũng ảnh hưởng rất nhiều lên phẩm chất nho – Góc độ và hướng nằm của triền đồi đối với mặt trời, cường độ phản chiếu ánh nắng từ dòng sông, một dãy đồi liên kết hoặc những đỉnh núi có đầy cây rừng bao quanh chắn gió – tất cả những chi tiết trên sẽ bồi dưỡng để luống nho cho những buồng trái đầy đặn và khỏe mạnh, qua đó tạo nền tảng cho những thùng vang sau này đạt đủ hương vị, phẩm chất và nét đậm đà.

Những vùng vang xứ Đức [24]

Địa danh

Diện tích/mẫu tây (ha)

Ahr

Baden

Franken

Hessische Bergstraße

Mittelrhein

Mosel-Saar-Ruwer

Nahe

Pfalz

Rheingau

Rheinhessen

Saale-Unstrut

Sachsen

Württemberg

525

15.900

5.987

436

601

11.800

4.438

22.736

3.137

26.171

494

330

11.634

Ahr

wein-spätburgunderVị trí: nằm phía bắc tiểu bang Rheinland-Pfalz, vùng vang mang tên dòng sông Ahr phát xuất từ miền đông vùng Eifel [25], chảy gọn giữa thung lũng và được che chở bởi những triền đồi đầy đá đen cùng đất phún thạch vụn. Nhờ vị trí thuận lợi, hai bên bờ thung lũng sông Ahr được nhiều nắng trong năm. Trồng toàn giống nho đỏ (khoảng 85,6%), Ahr là vùng qui họach tập trung trồng nho đỏ lớn nhất Đức. Vang vùng Ahr từ ngàn xưa đã được dân La mã yêu chuộng.

Vang: phần lớn vang đỏ với quyến rũ nhè nhẹ , có mùi hương quả  vùng nho này cho dân sành điệu những giọt ‚Spätburgunder’ [26] từ nồng đậm đến dịu mượt và những giọt blauer Portugieser [27] nhẹ nhàng, lôi cuốn. Cạnh đó thêm một ít vang trắng thuần chủng RieslingMüller-Thurgau [28].

Baden

Từ thế kỷ 2 việc trồng trọt nho sản xuất rượu vang được phát triển lan rộng từ hồ Constance[29] lên phía Bắc và đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ 16.

Vùng vang Baden nằm đáy nam nước Đức, phía tây giáp biên giới Pháp, với diện tích canh tác 15.900 mẫu tây Baden là vùng canh tác nho vang lớn thứ ba trong nước. Vào năm 1982 với 2 triệu hecto lít (hl) vang, Baden đạt được một mùa vang lớn nhất từ trước đến nay. Trên vùng canh tác này sườn đồi và dốc núi chiếm đến 3/4 tổng diện tích, thêm vào đó thành phần cấu tạo đất trồng của từng nơi trong vùng lại rất đa dạng. Từ nơi phủ đầy phún thạch vụn cùng đá từ thời tiền sử bị phong hóa, cho đến khu đất sỏi, cát hoặc đất sét và bùn thô mầu mỡ. Chỗ lại chứa toàn vôi mùn trộn lẫn hòang thổ hoặc sỏi đỏ, … Vì những khác biệt của phong thổ nêu trên, vùng Baden canh tác được nhiếu giống nho, từ Grauburgunder, MüllerThurgau, Bacchus, Gutedel, Kerner, Klingelberger, Scheurebe, Muskateller, Nobling, Riesling, Weißburgunder .vâng .. vâng … cho đến Blauburgunder. Đặc biệt tại Kaiserstuhl, khu núi lửa tiền sử, nơi có thể nói ấm nhất nước Đức, với khí hậu giống như tại bờ Địa trung hải và đất đai mầu mỡ gieo trồng giống nho trắng Gewürztraminer thơm ngon. Vang Baden phong phú, cống hiến cho thế giới vang nhiều loại khác nhau.

Franken

Vùng vang quan trọng đồng thời cũng là địa danh một miền của CHLB Đức, nằm ngay giữa các bang Bayern, Württemberg, Hessen và Thüringen, chiếm phần lớn trên miền bắc Bayern[30].

Công cuộc khẩn hoang, canh tác nho vang dọc dòng sông Main [31] được khởi xướng và bảo trợ bởi chính các vì vua chúa Đức thuộc giòng tộc Karolinger [32]. Cũng như tại bao vùng lân cận thời đó, những giọt rượu đầu tiên trên vùng này được dùng làm rượu thánh (rượu lễ, tiếng Đức: Messwein) trong nhà thờ và chủng viện.

Cuối thời Trung cổ, ngang ngửa với Württemberg, Franken là một vùng vang lớn nhất nhì nước Đức. Nhưng rồi qua những năm dài chiến tranh, qua tai họa rận nho, qua những năm cóng rét mất mùa và phần vì đất đai hết mầu mỡ, từ một diện tích trồng trọt lớn hơn 40.000 mẫu tây vào thời Trung cổ, đến đầu thế kỷ 20 vùng vang Franken thu hẹp chỉ còn gần 2.000 mẫu. Hiện nay với 5.987 mẫu tây vùng canh tác nho vang Franken chỉ còn khoảng 1/6 diện tích xưa.

Vang Franken tràn đầy sinh lực , đầy nhựa sống, giọt vang đầy đặn và hấp dẫn.

Hessische Bergstraße

Vùng vang đặc sắc của tiểu bang Hessen.

Vị trí: Nằm vùng cận nam tiểu bang Hessen, phía bắc Heidelberg [33], giữa dòng sông Rhein bên tây và dãy Odenwald [34] bên đông, vùng Hessische Bergstraße có khí hậu ấm áp tương tự như tại các xứ nóng miền nam Âu. Cách 2000 năm trước, dân La mã khám phá khu rừng hoa xinh tươi dọc đường đèo băng ngang những mảnh rừng Odenwald, những luống nho đầu tiên liền được gieo lên những bờ dốc đầy nắng của dãy núi này.

Vùng Hessische Bergstraße có hơn 200 loại đất đai có cấu chất khác nhau.

Vang: phần lớn gieo trồng giống Riesling thuần chủng, đến giống Müller Thurgau và một ít giống Grauburgunder [35]. Rượu vùng này có thể nói là vang nội hạt, phần lớn chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong địa phương.

Mittelrhein

Vị trí: Cheo leo trên những sườn núi hai bên tả hữu ngạn dọc bờ sông Rhein, nằm phía bắc vùng Rheingau, Mittelrhein bắt đầu từ Kaub và trãi dài hơn 100 cây số đến gần Bonn [36]. Cũng như bao nhiêu vùng vang khác, bắt đầu trồng trọt từ thời La mã đến thời Trung cổ việc canh tác được các tu viện chỉnh đốn lại. Kỹ thuật canh trồng theo bậc thang áp dụng trên những sườn núi dốc dựng đem lại thành quả đáng kể, ngựơc lại cũng rất vất vả cho dân công trồng trọt, những khu đất có độ dốc 25° đến 30° và hơn nữa vẫn được gieo trồng. Nền đất bằng diệp thạch lẫn đá trầm tích hấp thụ và trữ hơi ấm, như một nguồn năng lượng, tác dụng lên khí hậu làm nhiệt độ không thay đổi thất thường. Thêm vào đó triền núi đứng dốc đẩy hơi lạnh sa nhanh xuống vực. Điều kiện rất thuận tiện để gieo trồng giống Riesling cho trái chín muộn. Giống Riesling chiếm 75% diện tích, thứ đến là giống Müller-ThurgauKerner.

Vang: Vang Riesling vùng này đầy sinh lực và cho một hậu vị nồng nàn . Loại Müller-Thurgau dịu nhạt và ngọt thanh. Loại Kerner thỏang có hương muscadet [37] nhè nhẹ.

Mosel-Saar-Ruwer

Địa danh vùng vang thung lũng sông Mosel cùng các thung lũng phụ sông Saar và Ruwer [38]

Vị trí: Từ biên giới Lục xâm bảo [39] Mosel cùng các nhánh sông con uốn lượn đổ vào sông Rhein tại Koblenz. Khỏang một nửa diện tích canh tác là những triền dốc thẳng đứng bên bờ sông, giống như vùng Mittelrhein có những luống nho nằm trên độ dốc 60%. Vùng vang được chia thành 5 miền gồm 20 khu canh tác lớn và hơn 500 điểm nhỏ, sản lượng mỗi năm gần  900.000 hecto lít.

Vang: Bên cạnh giống Riesling, các giống nho đặc thù khác như Müller-Thurgau, Kerner cũng được gieo trồng. Ngoài ra vùng Mosel-Saar-Ruwer còn trồng thêm được 10% giống Elbling một giống nho xưa được cấy tạo từ thời La mã. Vang vùng Mosel-Saar-Ruwer đậm vị nồng nàn nhưng rất thanh dịu  không thể nào quên được. Vang có màu sáng, thơm ngon và sinh động, nhè nhẹ vị chát quả tươi . Tùy theo khu vực vang cho những vị khác nhau.

Nahe

Vị trí: Nahe nằm giữa sông Mosel và sông Rhein, phía đông trãi dài đến vùng Rheingau, phía nam tiếp giáp vùng Rheinhessen. Đây là vùng tiêu biểu cho sự đa dạng của vang Đức. Tùy theo giống nho và khí tiết từng năm mùa, vang vùng Nahe khi thì tựa như vang Mosel, khi thì mang tính vang Rheingau khi thì giống vang Rheinhessen. Đất trồng khác biệt theo từng khu vực, nơi thì dầy khoáng chất, nơi thì toàn diệp thạch, từ khu đất chứa đầy sa thạch đỏ cho đến khu đất sỏi cát pha lẫn vôi mùn .v..v… Chính cấu chất bất đồng này của đất trồng làm vang vùng Nahe đa dạng.

Vang: loại Riesling vùng Nahe đậm đà, Müller-Thurgau có vị dịu ngọt, loại Grauburgunder cho hương thoang thỏang. Ngòai ra vùng Nahe còn cho những vang đặc sản từ các giống Scheurebe, Kerner và vang từ giống Bacchus cổ xưa.

Pfalz

Pfalz, một địa danh ở hướng tây-nam nước Đức, nằm tận cuối của tiểu bang Rheinland-Pfalz. Với phong cảnh thôn dã và khí hậu dịu mát, Pfalz được quảng cáo là một „Toskana trên đất Đức“ [40]. Nằm trên đồng bằng giữa sông Rhein phía tây và khu rừng Pfalz phía đông, vùng canh tác nho vang Rheinpfalz là một dãy đồi thấp với 10 cây số chiều ngang, từ thành phố Worms trải dài khỏang 80 cây số đến tận biên giới vùng Alsace nước Pháp. Vùng Rheinpfalz được biết đến với „con đường vang Đức“ (Deutsche Weinstraße) có nhiều lễ hội vang hàng năm, nổi tiếng nhất là „lễ hội mùa gặt nho tại Neustadt“, „Nữ hoàng vang Đức“ [41] trong năm được tuyển chọn tại đây.

Mỗi năm vào thứ Sáu đầu tiên trong tháng Mười đúng dịp lễ hội „Neustädter Weinlesefest“, một „Nữ hoàng vang“ cùng ba „Công chúa vang“, những khuôn mặt nữ giới đại diện vang Đức được bầu chọn. Từ 13 vùng canh tác nho vang với thang hạng ‚vang phẩm chất’ [42] 13 thí sinh – 13 Nữ hoàng địa phương, được tuyển lựa từ những cô gái hoặc có nghề nghiệp liên quan đến vang, hoặc sinh trưởng trong một gia đình trồng nho vang trong vùng – không những phải qua một kỳ khảo hạch hóc búa của ban giám khảo gồm toàn chuyên gia về vang (ký giả về vang, chuyên gia tiếp thị vang, chuyên gia trong ngành nghiên cứu canh tác nho vang .vâng .. vâng …) mà còn phải chứng tỏ tài ứng phó nhanh nhẹ và đối đáp lưu loát  trong một chương trình truyền hình vui nhộn đặc biệt trước công chúng. Suốt nhiệm kỳ các Nữ hoàng và Công chúa phải hiện diện tại bất cứ các Hội chợ vang, các lễ hội vang và mọi tổ chức khác về vang trên mọi miền và cả trên thế giới, mang nhiệm vụ giới thiệu, quảng cáo đưa vang Đức đến tay người tiêu dùng khắp nơi.

Vang vùng Rheinpfalz chiếm 1/4  tổng sản lượng quốc gia.

Vang: ẩn tính dịu nhẹ, từ loại vang ngọt thanh cho đến loại vang đậm đà. Đất bùn và sét có chứa ít chất vôi cho vang vùng này tính tươi mát và bền bĩ. Vang Riesling từ Mittelhaardt, một khu vực trong vùng Rheinpfalz, nổi tiếng thanh tao, khu này còn biến ép được loại Trockenbeerenauslese [43]. Vang trắng còn có giống Grauburgunder, Weißburgunder [44], Silvaner, Traminer, Gewürztraminer, Scheurebe, Kerner … – Vang đỏ thì có loại Portugieser đậm mượt nhưng dịu, những chai Spätburgunder súc tích. Sau này vùng Pfalz có gieo giống mới Dornfelder,  giống này cho trái chín sớm, vang Dornfelder đậm nồng và dồi dào.

Rheingau

Dấu tích xưa ngược dòng thời gian cho thấy vùng Rheingau bắt đầu canh tác nho vang từ thời La mã. Đến năm 983 Hòang đế Otto Đệ Nhị [45] cống hiến đất Rheingau cho Giáo xứ vùng Mainz [46]  Cho đến thời điểm các trang trại và đồi nho nói riêng, toàn vùng Rheingau nói chung được ‚hoàn tục’ trao về tay tư nhân, công việc trồng nho ở đây hoàn toàn được nhà thờ và các chủng viện canh tác, trông coi. Dưới sự đốc thúc và hướng dẫn của các tu sĩ, những triền đồi dãy Taunus [47] được khai hoang trở thành những luống nho trùng điệp.

Tuy chỉ đóng góp 2,5 % cho sản lượng chung cả nước, vùng Rheingau được xem là một trong những vùng vang nổi tiếng chất lượng trong xứ vang Đức. Vang Rheingau, đặc biệt loại vang trắng giống Riesling vùng Rheingau [48] nổi tiếng thế giới. Những khu vực trong vùng cho giống Riesling ngon: Assmannshäuser Höllenberg, Rüdesheimer Berg, Schloss Johannisberg, Oestricher Lenchen, Rauenthaler Baiken und Erbacher Marcobrunn sowie Kiedricher Gräfenberg.

Vang Rheingau mang vẻ thanh khiết chung với một kích thích nhè nhẹ. Vị chát nồng hoà dìu dịu ngọt. Giọt vang vùng Rheingau đậm vị và thỏang ngát hương qủa. Goethe, văn hào lớn của Đức từng nói: „Vùng Rheingau là quầy rượu ngon của Đức“ [49]

Rheinhessen

Với 26.171 mẫu tây Rheinhessen là vùng canh trồng nho vang lớn nhất nước Đức và một trong những vùng cổ xưa nhất.

Từ thời La mã Rheinhessen đã là thánh địa vang trong xứ sở. Đồi nho đầu tiên trong vùng xuất hiện từ năm 20 trước Tây lịch, cho đến khoảng năm 800 canh tác nho vang tại vùng Rheinhessen đã đạt thời đại thịnh vượng rực rỡ và vang vùng này rất được yêu chuộng. Từ „Lãnh cung Ingelheim“ [50] Charles Đại đế thúc đẩy trực tiếp công việc canh tác nho vang. Chứng từ lưu trữ tại thành phố Pfeddersheim cho thấy giống nho Riesling đã được gieo trồng tại đây từ năm 1511.

Vang vùng Rheinhessen, trắng cũng như đỏ đều dịu và mọng ngọt, ngất ngây hương thơm. Nhẹ và dịu hơn những vang vùng Rheingau bên cạnh.

Saale-Unstrut

Vị trí: Bắc đầu từ thung lũng sông Saale từ Naumburg kéo dài qua những bìa sông Unstrut đến Freyburg là vùng vang Saale-Unstrut. Dấu vết minh chứng canh tác trồng nho trên vùng này có từ năm 1066. Trên miền đất vỏ ốc sò vữa chứa nhiều vôi trồng phần lớn những giống nho trắng, cấu chất đất vùng này tạo cho rượu vang có tính mềm mại. Vang vùng này đặc biệt phải được uống sớm (trẻ) [51]. Điều kiện khí hậu không cho phép gặt trễ qua đó không thể sản xuất những được loại vang Auslese hoặc Spätlese [52] thơm ngọt.

Vang: các giống Müller-Thurgau, Silvaner và Weißburgunder chiếm hầu hết sản lượng. Đệm thêm vào có loại Gutedel và Grauburgunder.

Sachsen

Với diện tích canh tác khiêm nhường 330 mẫu tây, Sachsen là vùng vang nhỏ nhất nhì của Đức, nhưng mang một lịch sử và một nền văn hóa canh tác nho vang khá lâu đời. Bắt đầu cách đây 800 năm. Giữa thế kỷ 19 đến 20 đại họa Reblaus tiêu hủy hầu hết những khu canh tác nho vang vùng Sachsen, những cải cách ruộng đất theo sau nối tiếp công việc hủy diệt, phân hoá vùng trồng trọt nho vang lâu đời này.

Vị trí: trãi dài 60 cây số từ Dresden [53]-Pillnitz, theo hữu ngạn bờ sông Elbe [54] ngang qua Radebeul và Meissen cho đến Diesbar-Seußlitz. Mặc dầu nằm trên khỏang vĩ tuyến 51 độ bắc, Sachsen vẫn gieo trồng và cho những giọt vang ngon, được vậy là nhờ khí hậu thuận hòa và cấu chất đất đặc biệt. Nho mọc trên những triền đất hòang thổ thiếu chất vôi nên các loại vang đều cho cùng một âm điệu, vị đặc sắc thoảng mùi chát nhẹ và mùi hương quả.

Vang: gieo trồng chính là giống Müller-Thurgau, Weißburgunder và Traminer đỏ. Trên những khu triền đồi gieo giống qúi hiếm Meißner Weine. Vang đỏ từ nho khu Seußlitz nổi tiếng thanh nhẹ. Một đặc sản vùng thung lũng sông Elbe này là rượu sủi tăm Elbtal-Sekt, từ những vườn nho Radebeuler.

Württemberg

Khai quật gần đây nhất cho thấy trên vùng đất này nho đã được dân tộc Celts [55] gieo trồng vào 3.000 năm trước Tây lịch. Thời gian sau nhà thờ và nhất là chủng viện đóng góp phần lớn vào những trùng tu, cải cách công việc canh tác nho vang. Lớn nhất nhì bên cạnh vùng Franken thời Trung cổ, với hơn 45.000 mẫu tây diện tích trồng trọt vùng vang Württemberg nay chỉ còn 1/4 tầm mức xưa. Đến đầu thế kỷ 19 bắt đầu hồi sinh sau 200 năm điêu tàn, hiện nay vùng Württemberg đóng góp 12 % tổng sản lượng vang cả nước.

Nằm phía nam nước Đức, từ lưu vực thượng nguồn sông Kocher, sông Jagst, sông Tauber chạy dài trên thung lũng sông Neckar qua các thành phố Heilbronn, Stuttgart và Reutlingen cộng thêm khu vực canh tác nhỏ trực thuộc tiểu bang nằm gần hồ Constance. Vang đỏ Württemberg nổi tiếng xưa nay, đặc biệt giống nho TrollingerRiesling đen [57]. Khí hậu bản địa dọc dòng Neckar thuận lợi, luôn luôn mưa thuận nắng đều cùng đất ấm tạo điều kiện cho nho Württemberg đạt đều hàng năm cả chất cùng lượng. Trên hai bờ thung lũng Neckar từ ngọai ô Stuttgart cho đến địa hạt Esslingen [56] mọc đầy những luống Trollinger mọng đầy sức sống hoặc những luống Riesling đen nồng nàn hương nho và những giống Kerner đậm đà. Thêm vào đó các giống nho đỏ khác như blauer Portugieser, Spätburgunder cùng Dornfelder cũng rất thích hợp đất và thời tiết vùng này. Đất nâu tiền sử và nền phún thạch vụn tại thung lũng thượng nguồn Neckar chuộng các giống Müller-Thurgau, Silvaner, Kerner Spätburgunder. Vang vùng này thanh khiết cộng với một kích thích nhè nhẹ.

Lê Cảnh Hoằng lựơm lặt (12.2005)

canhhoang.le@gmail.com

Chú thích: Tên các giống nho được để nguyên gốc tiếng Đức.


[1] Tiếng Anh: wine – Tiếng Đức: wein – Tiếng Pháp: vin.

[2] vitis vinifera: chữ Latinh, chỉ giống nho hiện nay – Tiếng Đức: Weinrebe (Nho vang).

[3] Tiếng Đức: Weinanbau hoặc Weinbau định nghĩa khâu canh tác trồng nho để sản xuất rượu vang. Từ ngữ này, từ đây đến cuối bài sẽ được viết ngắn thành „canh tác nho vang“

[4] Bacchus: chữ La tinh.

[5] tiếng Đức: Weingott.

[6] Thủ đô nước Syrien, một trong những thành phố rất cổ trên thế giới.

[7] Tiếng Anh, Pháp: Alpes – dãy núi lớn và cao nhất châu Âu, nằm giữa lãnh thổ các nước Áo, CHLB Đức, Pháp, Ý.

[8] Tiếng Anh: Etruscan – người dân vùng Etruria: lãnh thổ xưa tại trung tâm Í Đại Lợi (Ilalien) nay là vùng Toskana và một phần vùng Umbrien.

[9] nguyên từ Đức: die ‚nordischen’ Weine.

[10] Charles Đệ Nhất (Charles I) 742-814 – Tiếng Anh: Charlemagne hoặc Charles the Great hoặc – Tiếng Đức: Karl der Größe, giòng họ Karolinger, vị Hoàng đế đã tạo lập nền tảng và tổ chức bước đầu Heiliges Römisches Reich 800-1806 (Anh: Holy Roman Empire) từ năm 1512 trở thành Heiliges Römisches Reich Deutscher Nation, gồm nhiều tiểu vương thời bấy giờ tại châu Âu. Ông bành trướng mạnh mẽ Ki tô giáo, xây dựng rất nhiều trường học, hổ trợ và phát triển Khoa học cùng Nghệ thuật.

[11] Tiếng Đức: Weinkultur.

[12] Tiếng Đức: Volksgetränk.

[13] Napoleon (Napoleone Buonaparte): 1799-1804: Đệ Nhất Tổng Tài Cộng Hòa Pháp, 1804-1815 Hoàng đế nước Pháp. Ông cũng là một vị Tướng tài ba trong lịch sử nước Pháp.

[14] Tiếng Anh: Rhine – Tiếng Pháp: Rhin.

[15] Tiếng Anh, Pháp: Moselle, Một nhánh của sông Rhein.

[16] Tiếng Đức: Böhmen – Một vùng đất lịch sử nằm giữa châu Âu (Tiệp: Cechy), từng là một nước thành viên trong Vương triều Heiliges Römisches Reich, sau đó trở thành một địa hạt của Vương triều Áo Hung Österreichisch-Ungarische Monarchie (Anh: Habsburgs’ Austrian Empire). Bohemia phía Nam giáp Áo, Tây giáp Bayern (Anh: Bavaria – nay là một bang của CHLB Đức), Bắc giáp Sachsen (Anh: Saxony). Từ 1918 đến 1939 và từ 1945 đến 1992 là một phần của Tịêp (Czechoslovakia).

[17] Tiếng Anh: vine pest.

[18] Tiếng Đức: Reblaus – Chữ Latinh: Dactylosphaera vitifolii – Một lòai rận lá thuộc họ Phylloxeridae, ăn lá và phá thân, rễ cây nho.

[19] 1822 – 1895: Nhà Khoa học người Pháp nổi tiếng. Tiên phong trong ngành Vi khuẩn học. Ông đã khám phá được nhiều vi khuẩn gây bệnh và qua đó phát minh thuốc ngừa những bệnh hiểm nghèo, trong đó có bệnh ’dại’. Đối với Pháp ông là một Anh hùng dân tộc. Tên ông được dùng đặt cho Viện nghiên cứu tiếng tăm Institut Louis Pasteur tại Paris (Ba lê).

[20] Tiếng Đức: Weinbauingenieur. Tổng thống đầu tiên của CHLB Đức (1949 – 1959), Theodor Heuss, vào năm 1905 đã trình luận án tiến sĩ với đề tài „ngành canh tác nho vang, thế đứng các trang trại nho vang tại khu vực Heilbronn“.

[21] xem [28].

[22] Tên một vùng của Canada (Newfoundland & Labrador), nằm đông bắc, giáp ranh bang Quebec.

[23] Tiếng Đức: Golfstrom – dòng nước ấm từ vịnh Mễ tây cơ (Tiếng Anh: Mexico) qua Đại Tây Dương đến châu Âu.

[24] ở đây chỉ nói về 13 vùng trồng nho sản xuất vang với thang hạng ‚vang phẩm chất’ (Qualitätswein) của Đức.

[25] Khu cao nguyên phia tây CHLB Đức nằm tả ngạn sông Rhein, giáp giới Lục xâm bảo (Luxembourg) và Bỉ (Belgique), là một phần Cao nguyên diệp thạch vùng Rhein (Rheinische Schiefergebirge) của nước Đức.

[26] còn có tên Blauburgunder – Tiếng Pháp: pinot noir, một giống nho đỏ.

[27] Tiếng Pháp: portugais bleu, một giống nho đỏ thường trồng tại Âu châu.

[28] Riesling, giống nho trắng truyền thống tinh hoa nổi tiếng của vang Đức (có từ thế kỷ 15 -16), rất thích hợp với thung lũng sông Rhein và Mosel – Müller-Thurgau, còn có tên Rivaner (Riesling & Silvaner) một loại nho trắng tiêu biểu ở châu Âu.

[29] Tiếng Đức: Bodensee – Anh: Lake of Constance, hồ lớn nằm giữa 3 nước CHLB Đức, Áo và Thụy sĩ.

[30] Franken hiện nay chỉ là phần đất nhỏ phía đông của Ostfrankenreich, một phần của Vương triều Frankenreich. Giòng họ Karolinger trị vì Frankenreich từ thế kỷ 7, Dưới thời Charles Đại đế bờ cõi Vương triều này được mở rộng đến sông Ebro, biên giới giữa Pháp và Tây ban nha ngày nay, gồm cả bắc và trung phần nước Í đại lợi đến biên giới phía đông CHLB Đức hiện nay. Năm 843 được phân ra ba cõi: Westfrankenreich, tiền thân của nước Pháp – Mittelreich (Lothringen) – Ostfrankenreich, sau trở thành Heiliges Römisches Reich.

[31] Main, một nhánh sông quan trọng chảy từ đông sang tây và đổ vào hữu ngạn sông Rhein sau khi chảy qua thành phố nổi tiếng Frankfurt. Với 524 km Main là dòng sông nội địa dài nhất của Đức.

[32] xem [30].

[33] Một thành phố cổ nằm phía bắc tiểu bang Württemberg, là một thành phố đại học nổi tiếng.

[34] Khu rừng tại miền nam tiểu bang Hessen.

[35] còn gọi Ruländer – Tiếng Pháp: pinot gris, một giống nho trắng.

[36] Tên những thành phố bên bờ sông Rhein. Bonn là Thủ đô xưa CHLB Đức.

[37] một loại vang làm từ giống nho muscateller.

[38] Tiếng Pháp: Sarre, môt nhánh sông bắt nguồn từ Pháp chảy qua biên giới pháp – Đức, đổ vào sông Mosel. Ruwer, sông nhánh nhỏ của Mosel.

[39] Tiếng Đức: Luxemburg – Tiếng Anh, Pháp: Luxembourg.

[40] một địa danh vùng đất Í đại lợi, là nơi nghỉ mát đẹp bên bờ Địa trung hải.

[41] nguyên từ Đức: „Deutsche Weinstraße“, „Neustädter Weinlesefest“, „Die Deutsche Weinkönigin“, „Weinprinzessin“.

[42] nguyên từ Đức: Qualitätswein.

[43] một chủng loại vang quí hiếm của Đức, chế biến từ nho gặt muộn trái chín trong mùa đông.

[44] Tiếng Đức: Weißburgunder hoặc Klevner – Tiếng Í: Pinot Bianco, một giống nho trắng.

[45] Otto II.: 973 – 983 Hoàng đế Vương triều Heiliges Römisches Reich. Hậu duệ của Charles Đại đế, giòng tộc Karolinger.

[46] Nằm ngay cửa nhánh  sông Main đổ vào sông lớn Rhein: Mainz, thủ phủ và là thành phố lớn nhất tiểu bang Rheinland-Pfalz.

[47] Một khu cao nguyện thuộc vùng Cao nguyên diệp thạch vùng Rhein nước Đức, nằm hữu ngạn sông Rhein, đối mặt với Eifel.

[48] nguyên từ Đức: Rheingauer Riesling.

[49] nguyên từ Đức: „Der Rheingau ist die gute Stube Deutschlands“.

[50] nguyên từ Đức: Kaiserpfalz Ingelheim.

[51] nguyên từ Đức: jung.

[52] Những loại vang chế biến từ những luống nho gặt trể hoặc quá mùa. Hàm lượng đường cao cho hương thơm ngon vị ngọt.

[53] thủ phủ tiểu bang Sachsen, một trong những bang thuộc CLHB Đức, n82m phía đông.

[54] giòng sông bắt nguồn từ Tiệp khắc, chảy qua nước Đức qua thành phố Dresden, Hamburg và đổ ra biển Bắc (Nordsee).

[55] tiếng Đức: Kelten, giống dân sống tại Âu châu từ khỏang thế kỷ 5 – 1 trước Tây lịch.

[57] Trollinger, Schwarzriesling: những giống nho đỏ đặc sản được gieo trồng nhiều tại vùng Württemberg.

[56] tên các thành phố trong tiểu bang Baden Württemberg, Stuttgart là thủ phủ của tiểu bang.

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s