Nguỹên Xuân Hợp – Thánh Gióng hay Thánh Dóng, quan nịêm thứ 3

thanhgiongPhần trong  {  }  của Báo Mới trong nứơc
{ Thánh Gióng hay Thánh Dóng đến giờ vẫn chưa ngã ngũ
http://www.baomoi.com/Thanh-Giong-hay-Thanh-Dong-den-gio-van-chua-nga-ngu/79/8156621.epi
(GDVN) – Truyện Thánh Gióng là truyện của dân gian để lại, thuộc thể loại truyền thuyết. Vì vậy mà việc gọi “Thánh Gióng” hay “Thánh Dóng” đến nay vẫn còn gây tranh cãi trong giới chuyên gia.

Quan niệm của giáo sư Trần Quốc Vượng

GS Trần Quốc Vượng sinh năm 1934, ông đã để lại cả một kho tư liệu lớn, quý giá cho thế hệ sau với chừng 30 đầu sách từ những giáo trình Sử học, Khảo cổ học,… đến những công trình nghiên cứu khác nhau.

Với suy luận và nghiên cứu của mình về truyện Thánh Gióng, ông cho rằng dùng “Thánh Gióng” mới đúng. Bởi trong văn hóa Việt Nam từ thời xưa, mỗi một con người đều gắn liền với làng, gắn liền với bụi tre. Vì vậy mà họ đã nghĩ ra cái tên Thánh Gióng. Gióng ở đây là “gióng tre” để thể hiện tình thần gắn kết, khăng khít của dân tộc như bụi tre. Lũy tre bảo vệ lấy làng, bảo vệ lấy mỗi ngườ con trong làng.

Gióng tre tạo nên cây tre, còn cây tre thì giúp đỡ con người bằng cách đan rổ, làm nhà,… và sau này Thánh Gióng lại dùng chính bụi tre để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Vì vậy mà ở đây GS Trần Quốc Vượng cho rằng nên dùng “Thánh Gióng” thì mới đúng.

thanhgiong

Thánh Gióng hay Thánh Dóng đến giờ vẫn chưa ngã ngũ

 

Theo bạn từ nào là đúng: Thánh Gióng hay Thánh Dóng?

Thánh Gióng Thánh Dóng cả 2 đều được

 

Quan niệm của giáo sư Cao Huy Đỉnh

GS Cao Huy Đỉnh sinh năm 1927 mất năm 1975, ông là một nhà nghiên cứu xuất sắc văn hóa dân gian Việt Nam, với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng. Ông được nhiều người biết đến việc chuyên nghiên cứu về người anh hùng áo vải làng Phù Đổng, và có người còn gọi ông là “Thánh Dóng đến”.

Ông cho rằng “Dóng” là con ông Đổng (ông Đùng bà Đà), nên GS viết là “Dóng”. GS Đỉnh cho rằng đó là một phát hiện (với công trình Người anh hùng làng Dóng – 1969). Và ông cũng lý giải rằng theo truyền thuyết “Dóng” được sinh ra bằng việc mẹ “Dóng” ướm chân vào dấu chân to tạo thành vũng nước, và sau đó mang bầu “Dóng”. Và vũng nước có bàn chân to đấy được tạo thành bởi dông tố, cho nên ở đây phải dùng Dóng.

Một vấn đề khó giải quyết

Hai ý kiến trái chiều xoay quanh việc gọi “Thánh Gióng” hay “Thánh Dóng” đã làm cho giới nghiên cứu “chao đảo” trong việc kết luận. Khi trình hội Phù Đổng lên Unesco, thì việc nhận định này vẫn không được làm rõ, và nhiều cuộc tranh luận, cuộc họp bàn diễn ra. Nhưng vẫn không phân định được, và cho rằng cách viết nào cũng đúng, buộc nhiều nhà khoa học phải viết chú thích rằng “có hai cách viết Thánh Gióng hoặc Thánh Dóng” – GS Nguyễn Xuân Kính.

Theo TS Đặng Hoài Thu (trưởng khoa Văn hóa học – ĐH Văn hóa Hà Nội) cho rằng: “ở đây chúng ta không nói đến chính tả viết sai hay đúng, mà chúng ta phải nói đến quan niệm riêng của từng người. Có người theo GS Cao Huy Đỉnh nhưng có người lại theo GS Trần Quốc Vượng, vì vậy viết cách nào cũng đúng. Còn riêng đối với học sinh, sinh viên trong bài tập, bài kiểm tra hay bài luận của mình thì nếu dùng “Dóng” thì nên dùng cả bài, và ngược lại”.   }

 

Quan nịêm thứ 3  của Nguỹên Xuân Hợp, tác giả sách Hệ Thống Hoá Chữ Quốc Ngữ Vịêt Nam

 

Chữ Quốc Ngữ La Tinh (ta thừơng gọi là chữ Quốc Ngữ) du nhập vào nứơc ta do các giáo sĩ Tây phương từ thế kỷ 16  và đến năm 1651 Alexandre De Rhodes xuất bản tự điển An Nam  Bồ Đào Nha. Đây là loại chữ ghi âm thanh (tíêng nói) của người Vịêt Nam tương đối hoàn hảo. Không có tíêng nói nào của ngừơi Vịêt Nam  có ý nghĩa mà chữ Quốc Ngữ La Tinh không ghi đựơc.Thời vua Quang Trung ta có chữ Quốc Ngữ chữ Nôm (1788-1802).

Truỵên Phù Đổng Thiên Vương có từ đời vua   Hùng Vương thứ sáu , khoảng 1831 trứơc công nguyên đựơc tồn tại đến ngày hôm nay , chủ yếu là do truỳên mịêng (truỳên khẩu )

Ngừơi Vịệt dùng tíêng nói để chỉ sự vật , hành động và cảm nghĩ. Chữ Quốc Ngữ La Tinh chỉ có nhiệm vụ ghi lại tíêng nói, ngựơc lại từ chữ đọc ra tíêng nói, tíêng nói mang cái nghĩa.

Âm thanh quýêt định hình thức của chữ, “nghĩa” không quýêt định hình thức của chữ.

Chữ Quốc Ngữ VN: Chữ thay đổi theo tíêng nói

 

Thí dụ 1

Nghĩa

 

 Tíêng nói

(Âm thanh)

 Víêt chữ

Ăn cơm

Ăn cơm

Ăn cơm

Ăn cơm

Xơi cơm

Xơi cơm

Ăn cơm

Dùng cơm

Dùng cơm

 

 

 

 

 

 

Thí dụ 2

Nghĩa

       Tíêng nói

     (Âm thanh)

 

Víêt chữ

Chết

       Chết

Chết

Chết

      Qua đời

 Qua đời

 

 

 

Thí dụ 3

Nghĩa

       Tíêng nói

     (Âm thanh)

 

Víêt chữ

Đốt tre  (phần giữa 2 mắt tre)

       Lóng tre

Lóng tre

Đốt tre 

      Gióng tre

Gióng tre

 

 

 

 

 

thanhgiong

 

 

 

 

VíêtTHÁNH GIÓNG hay THÁNH DÓNG tuỳ theo phát âm của ngừời dân làng Phù Đổng hay “làng Dóng, làng Gióng”.

Căn cứ  nguyên tắc ghi âm của chữ  Quốc Ngữ, tôi sẽ trả lời víêt THÁNH GIÓNG hay THÁNH DÓNG khi tôi nghe đựơc ngừơi cùng làng của Phù Đổng Thiên Vương nói.

 

Phần tham khảo : Một loại chữ không dựa vào âm thanh

Chữ Hán (Trung Hoa) :  Chữ thay đổi theo nghĩa

Thí dụ 1

Nghĩa

        Tíêng nói

     (Âm thanh)

 

Víêt chữ

Ngừơi

           Nhân

    

Lòng thương

          Nhân

   

 

 

 

 

Thí dụ 2

Nghĩa

        Tíêng nói

     (Âm thanh)

 

Víêt chữ

Con trai

        Nam

    

Hứơng nam

        Nam

     

 

 

 

 

 

 

Nguỹên Xuân Hợp

Email : hopxuannguyen@yahoo.com

One comment

  1. Bác NX Hợp mến,

    Vấn đề cách đọc thánh Gióng hay Dóng và (Phù) Đổng đã được xem qua trên diễn đàn Viện Việt Học cách đây hơn 6 năm – đại khái tôi có đưa ra liên hệ phụ âm đầu đ-tr và dạng xát hoá d- (z- theo giọng Bắc), cũng như trong một bài viết về trà (chè, đồ) – trích một đoạn

    Rõ ràng là hai dạng đồ và trà được dùng trong thời Hán. Thật ra, không nên ngạc nhiên khi âm đồ là dạng cổ hơn trà vì nguyên âm ô là dạng cổ hơn nguyên âm a như Nôm Nam, vốn bản, bố ba … Còn tương quan của phụ âm đầu tắc đ với tr rất dễ nhận ra4 trong tiếng Việt và Hán Việt/HV như

    Đồng (tử) – tròng mắt
    Đuốc – chúc
    Đột (nhiên) – chợt
    Đầm – chằm – chèm
    Đìa – trì
    Đỏ – chu 朱 (màu đỏ)
    Đò – chu 舟 (thuyền nhỏ)
    Đố 蠹 – chú 蛀
    Đũa – trợ
    Đuổi – truy
    Đản – trần
    Đản – trứng
    Định chính chánh – trán
    Đoàn – tròn
    Đoàn 團 – truyền 傳 cùng thanh phù chuyên 専, so với chuyên/đoàn 摶 (vo tròn)…
    Điền Hoàn 田 完 (trong ‘Luận Ngữ’) – Trần Hoàn 陳 完 (trong ‘Xuân Thu’)4
    Đục – trọc4
    Độc (độc lâu, đầu lâu) – trốc
    Đồn – truyền – chuyền (loan)
    Đốn – truân – xuân
    Độn – trốn
    Đinh (bộ trùng + chữ đinh丁hài thanh/HT) – chuồn (chuồn)
    Đìa – trì
    Điểm (chữ chiêm HT) – chấm
    Điệp – chập, chắp, chất
    Đuốc – chúc
    Đúng – trúng (trung HT)
    Đổng 董 – Trọng 重– Gióng/thánh Dóng/Gióng là Phù Đổng thiên vương – một trong Tứ Bất Tử. So sánh với chủng 種 – giống, giồng – trồng cũng có thanh phù trọng重. Chữ Nôm dỏng (giỏng) còn dùng bộ khẩu 口 hợp với chữ Đổng董: theo Truyền Kỳ Mạn Lục ‘dỏng môi mà rao lời gièm chê’

    Đồng – Tráng (Choang)

    Đồ – chè – trà/chà (xem hình vẽ so sánh phạm trù nghĩa bên dưới)
    …v.v…

    Vài hàng cùng chia sẻ

    Nguyễn Cung Thông

    Xem trang http://www.viethoc.org/phorum/read.php?15,29684

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s