TS. Nguyễn Xuân Niệm – ỨNG DỤNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TRONG DỰ ÁN NÔNG THÔN MIỀN NÚI GÓP PHẦN TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG LÚA VÙNG NÔNG THÔN, VÙNG KHÓ KHĂN TỈNH KIÊN GIANG

lua-kiengiangI. Mở đầu
Kiên Giang thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là một tỉnh có cả đồng bằng, rừng, núi, biển và hải đảo; điều kiện về tài nguyên, đất đai, khí hậu tạo cho Kiên Giang có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng chế biến thủy hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng và đầu tư phát triển du lịch với nhiều loại hình du lịch phong phú, đa dạng.
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Kiên Giang là 6.346 km2, bằng 1,9% diện tích cả nước và 15,78% diện tích ĐBSCL. Dân số Kiên Giang trên 1,7 triệu dân, phân bố tại 15 đơn vị hành chính. Tổng diện tích đất tự nhiên của Kiên Giang là 634.627 ha. Diện tích đất trồng lúa là 377.367 ha, chiếm 59,46% (Cục Thống kê Kiên Giang, 2012).
Với diện tích đất tự nhiên và diện tích trồng lúa trên, Kiên Giang có đủ thế mạnh trong phát triển nông – lâm – ngư. Sản lượng lúa cả năm 2012 đạt kỷ lục gần 4,3 triệu tấn lương thực, đứng nhất cả nước.
Bảng 1. Danh sách các dự án NTMN có thực hiện mô hình sản xuất lúa tại Kiên Giang (1999 – đến nay)

Normal
0
21

false
false
false

MicrosoftInternetExplorer4

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Normale Tabelle”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin:0cm;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

Bảng 1. Danh sách các dự án NTMN có thực hiện mô hình sản xuất lúa tại Kiên Giang (1999 – đến nay)

 

TT

Tên dự án Nông thôn – Miền núi

Thời gian

1

Ứng dụng TBKT cải thiện giống lúa và xây dựng mô hình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp xã Định An, huyện Gò Quao.

1999-2000

2

Ứng dụng KHCN xây dựng mô hình phát triển nông – lâm – ngư vùng đệm U Minh Thượng.

2000-2002

3

Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng một số mô hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp.

2002-2004

4

Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình 1 lúa cao sản – 1 tôm sú xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất.

2003-2004

5

Ứng dụng tiến bộ KHKT nông nghiệp cải thiện thu nhập cho nông dân vùng dự án bảo tồn đồng cỏ bàng xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương.

2005-2007

6

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa canh thích hợp cho vùng đồng bào Khmer xã biên giới Phú Lợi, huyện Kiên Lương

2008-2010

7

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình canh tác ổn định 1 vụ tôm sú – 1 vụ lúa mùa ở vùng U Minh Thượng.

2010-2012

8

Xây dựng mô hình sản xuất lúa theo hướng công nghiệp hóa tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao.

2011-2013

(Nguồn: Sở KH&CN Kiên Giang, 2012)

Từ điều kiện tự nhiên trên cho thấy Kiên Giang là địa bàn tiềm năng áp dụng Chương trình Nông thôn – Miền núi (NTMN), đặc biệt các mô hình sản xuất lúa, từ 1999 đến nay, Trung ương đã hỗ trợ thực hiện 15 dự án NTMN, trong đó 8 dự án có thực hiện mô hình sản xuất lúa, như: Mô hình sản xuất giống lúa áp dụng tiến bộ KHKT ở xã Định An, huyện Gò Quao (1999); Mô hình sản xuất lúa hiệu quả vùng đệm U Minh Thượng (2000); Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp (2002); Mô hình sản xuất lúa trong 1 lúa cao sản – 1 tôm sú xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất (2003); Mô hình sản xuất lúa trong cải thiện thu nhập cho nông dân vùng Dự án Bảo tồn đồng cỏ bàng xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (2005); Mô hình sản xuất lúa trong sản xuất nông nghiệp đa canh thích hợp cho vùng đồng bào Khmer xã biên giới Phú Lợi, huyện Kiên Lương (2008); Mô hình sản xuất lúa trong canh tác ổn định 1 vụ tôm sú – 1 vụ lúa mùa ở vùng U Minh Thượng (2010); Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và sản xuất giống theo hướng công nghiệp hóa tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao (2011). Chi tiết xem Bảng 1.
II. Kết quả thực hiện các dự án NTMN có mô hình sản xuất lúa tại tỉnh Kiên Giang từ 1999 đến nay
Qua 8 dự án NTMN có thực hiện mô hình sản xuất lúa với các hình thức khác nhau, tỉnh Kiên Giang đã được Bộ KH&CN phê duyệt với tổng kinh phí là 28,449 tỷ đồng, trong đó kính phí hỗ trợ của Trung ương là 11,315 tỷ đồng; sự nghiệp khoa học tỉnh là 3,456 tỷ đồng và vốn đối ứng của dân tham gia dự án là 13,678 tỷ đồng.
Thông qua dự án thuộc Chương trình NTMN, đặc biệt các mô hình sản xuất lúa làm điểm cho nông dân tham quan học tập và ứng dụng làm theo, đã góp phần giúp nền kinh tế tỉnh Kiên Giang phát triển khá-tốt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân năm 2012 trên 11,81%, trong đó tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp là 7,84%. Đóng góp của ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng là 42,7% GDP, cao hơn so với ngành công nghiệp – xây dựng (23,9% GDP) và dịch vụ (33,4% GDP) (UBND tỉnh Kiên Giang, 2012). Từ đó cho thấy, ngành nông nghiệp, trong đó có sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang vẫn đóng vai trò chủ chốt trong phát triển KT-XH của tỉnh.
Thực tế sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp trong những gần đây có sự tác động khá lớn của KH&CN, đặc biệt là việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất lúa. Hoạt động của KH&CN đã mang lại ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao về mặt nhận thức, thay đổi tập quán sản xuất lúa của nông dân,… góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn. Trong thời gian gần đây, được sự quan tâm, đầu tư của Bộ KH&CN cùng với các cấp, các ngành của tỉnh, các dự án thuộc Chương trình NTMN được thực hiện mỗi năm nhiều hơn những năm trước.
Các dự án thuộc Chương trình NTMN hầu hết đều có mục tiêu chung: Thúc đẩy nhanh ứng dụng KH&CN và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phục vụ phát triển nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường; góp phần tham gia thị trường KH&CN; huy động các nguồn lực xã hội, góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập, tạo thêm việc làm cho nông dân, thực hiện mục tiêu tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo; đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân,…
8 dự án NTMN có mô hình sản xuất lúa, trong từng dự án đã đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ yếu tập trung các vùng sâu vùng xa, vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc, khó khăn,… Hầu hết các dự án đều có tập huấn, hướng dẫn và chuyển giao các quy trình kỹ thuật, công nghệ cho CBKT và nông dân địa phương. Những người tiếp nhận đã nắm vững quy trình kỹ thuật, công nghệ. Số lượng CBKT và nông dân tiếp nhận quy trình kỹ thuật, công nghệ mỗi dự án khá cao, khoảng 500 lượt người/dự án, như vậy với 8 dự án thì có đến 4.000 CBKT và nông dân được tiếp nhận quy trình kỹ thuật, công nghệ. Hiệu quả cụ thể từ 8 dự án NTMN được trình bày chi tiết sau:
1) Ứng dụng TBKT cải thiện giống lúa và xây dựng mô hình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp xã Định An, huyện Gò Guao (1999-2000).
Đào tạo, tập huấn 15 lớp cho 1.104 học viên là CBKT và nông dân về IPM, sử dụng bón phân so màu lá, sạ hàng. Mô hình sản xuất lúa hàng hóa: 51 nông dân tham gia cho 55 ha vụ ĐX 1999-2000, chuyển giao được 11.101 kg lúa giống mới CM 64, OMCS 99, OMCS 2001. Mô hình sản xuất lúa xác nhận: 10 ha, chuyển giao 709 kg lúa giống cấp nguyên chủng AS 996, OM 1490, OM 2001, năng suất đạt 6,1 tấn/ha. Những kết quả khác của dự án: Mô hìnnh VAC: 30 hộ nhận chuyển giao 1.500 cây giống của 7 chủng loại như xoài cát Hòa Lộc, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn tiêu da bò, ổi Thái Lan, mận hồng đào, măng cụt, vú sữa lò rèn. 29 hộ nhận chuyển giao 29 con heo giống, cuối vụ có 92 heo thịt, 22 heo giống và 82 heo con. 100 hộ nhận chuyển giao 1.000 cây của 7 loại giống rau xanh và 30 giống cây thuốc nam. Mô hình thủy lợi nội đồng: lắp đặt 2 trạm bơm công suất 12 CV, bơm hiệu quả 200 ha lúa vùng trọng điểm, sau 1 vụ thu hồi 95% vốn đầu tư. Mô hình nước sạch và vệ sinh môi trường: xây dựng 2 cụm nhà vệ sinh kiểu mẫu, 2 bồn nước mưa inox dung tích 2.000 lít, 8 bình lọc nước cho 2 trường học, lắp đặt 2 hệ thống lọc nước phèn công suất 2.000 lít/ngày, biogas, xử lý rơm rạ làm phân bón,…
2) Ứng dụng KHCN xây dựng mô hình phát triển nông – lâm – ngư vùng đệm U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang (2000-2002)
Mô sản xuất giống lúa: tuyển chọn hơn 20 giống lúa cho năng suất cao, giống OM 3536 và OM 3199 cho năng suất cao nhất đã cung cấp số lượng lớn lúa giống cho địa phương. Mô hình nông–lâm–ngư kết hợp (4 ha): 1 ha trồng cây ăn trái, rau màu; 1 ha nuôi thủy sản, 1 ha trồng tràm và 1 ha làm lúa đã giúp nông dân tăng thu nhập là 18,49 triệu/ha/năm; Mô hình lâm nghiệp: trồng 50 ha rừng tràm với 100.000 cây, tỷ lệ sống đạt 87%, tăng thu nhập cho dân khoảng 1,4 triệu đồng/ha/năm; Mô hình ngư nghiệp trên 50 ha nuôi cá sặc rằn, cá rô, cá lóc,…giúp nông dân tăng thu nhập trên 2,05 triệu đồng/ha/năm. Mô hình VAC canh tác 50 ha vườn cây ăn quả và rau màu; chăn nuôi gà, heo; nuôi cá sặc rằn, cá lóc, giúp nông dân tăng thu nhập trên 20 triệu đồng/ha/năm.
3) Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng một số mô hình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp (2002-2004)
Mô hình nhân giống lúa xác nhận: 3 hộ chuyển giao 1.500 kg lúa cấp nguyên chủng OM 2822, OM 2517, OM 2718, OM 2719. Mô hình sản xuất lúa hàng hóa: 20 hộ nhận chuyển giao 3.000 kg lúa giống cấp xác nhận OM 3235, 2517, OM 2718, OM 2719. Mô hình 2 lúa-cá trên đất ruộng: 4 hộ tham gia với 6 ha, nhận chuyển giao 2.700 kg giống lúa, trên bờ nhận chuyển giao 1 số giống cây ăn quả. Mô hình VAC: Cây ăn quả: 50 hộ nhận chuyển giao 4 loại giống xoài cát Hòa Lộc, mận hồng đào, bưởi xanh không hạt, vú sữa lò rèn cho 5.500 cây; Chăn nuôi: Nạc hóa đàn heo: 20 hộ (16 hộ nuôi heo thịt, 4 hộ nuôi heo nái) nhận chuyển giao 48 heo giống tốt có hàm lượng máu ngoại 1/2 hay 3/4. 30 hộ nhận chuyển giao 1.275 vịt lai siêu thịt và 225 gà giống thả vườn. Nuôi cá trong ao: 15 hộ nhận chuyển giao 3 loại cá Điêu hồng, Rô phi, Hường cho 394 kg cá giống. Mô hình 2 lúa-một màu: 20 mô hình luân canh, chuyển giao 4.500kg giống lúa OM 3235, OM 2717, OM 2718, OM 2719; 225 kg giống ngô DK 888; 60 kg giống đậu xanh HL 208; 4 kg giống mè đen Ấn Độ; 1 kg giống dưa hấu Hắc mỹ nhân; 0,6 giống dưa leo bao tử chuột.
4) Dự án: Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình 1 lúa – 1 tôm xã Thổ Sơn huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang (2003-2004)
Mô hình luân canh 1 lúa–1 tôm, mang lại hiệu quả, tuy chưa mang lại kết quả như mong đợi, nhưng vụ lúa khẳng định vai trò nâng cao thu nhập một cách chắc chắn, năng suất tăng 3,47-5,04 tấn/ha. Thông qua mô hình, đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất của địa phương theo hướng quy hoạch, tăng thêm 425 ha 1 vụ lúa – 1 vụ tôm cho 2 ấp triển khai dự án, riêng vùng dự án đất canh tác sản xuât tăng thêm 40,71% (từ 18,14ha – 25,52ha). Thông qua tập huấn, hội thảo đầu bờ… kiến thức quản lý đồng ruộng của nông dân tham gia và nông dân vùng xung quanh tăng lên rõ rệt, do vậy đã mạnh dạng chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng tích cực.
5) Ứng dụng tiến bộ KHKT nông nghiệp cải thiện thu nhập cho nông dân vùng dự án bảo tồn đồng cỏ bàng xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (2005-2007)
Xây dựng 05 mô hình sản xuất có hiệu quả gồm: (1) Mô hình trồng lúa chất lượng cao theo kỹ thuật 3 giảm – 3 tăng, ứng dụng sạ hàng, áp dụng cơ giới hóa trong thu hoạch, năng suất trung bình tăng 1,07 tấn/ha; (2) Mô hình thâm canh có bàng đầu tư ít nhưng hiệu quả cao, bàng phát triển rất tốt, trung bình mỗi hộ thu được 1.829 neo tương ứng với số tiền là 2,3 triệu đồng, cao hơn 02 lần so với đồng cỏ bàng tự nhiên; (3) Mô hình chăn nuôi heo thịt kết hợp túi ủ biogas cung cấp chất đốt cho nông dân, góp phần giảm ô nhiễm môi trường; (4) Mô hình chăn nuôi trâu bò với 04 bò mẹ sinh sản tốt; (5) Mô hình vườn rau gia đình chủ yếu rau muống trắng và mồng tơi đã góp phần cải thiện bữa ăn cho người dân đồng bào Khmer.
6) Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa canh thích hợp cho vùng đồng bào Khmer xã biên giới Phú Lợi, huyện Giang Thành (2008-2010)
Mô hình sản xuất giống lúa cấp xác nhận 100 ha vụ ĐX và HT. Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao 300 ha đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, năng suất bình quân vụ HT 3,4 tấn/ha, vụ ĐX 4,6 tấn/ha. Ngoài ra còn có, Mô hình canh tác các loại rau theo kỹ thuật mới. Mô hình chăn nuôi thủy sản, gia súc-gia cầm (trâu sinh sản 25 con, bò sinh sản 20 con, nhiều đàn gia cầm, 07 ha nuôi thủy sản nước ngọt: cá thát lát còm, rô phi dòng Giff, bống tượng, sặc rằn,… Mô hình trồng và dưỡng bàng 120 ha (trồng mới 60 ha) đã cho năng xuất cao và nguyên liệu bàng đạt tiêu chuẩn sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Dự án đã tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho đông đảo cán bộ và nhân dân trong huyện với 1.250 người, từ đó đã tích cực thúc đẩy nâng cao ý thức và trình độ sản xuất nông nghiệp thay cho tập quán canh tác lạc hậu tại địa phương.
7) Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình canh tác ổn định 1 vụ tôm sú – 1 vụ lúa mùa ở vùng U Minh Thượng (2010-2012)
Qua 2 năm, 22 hộ tham gia cho 50 ha mô hình 1 vụ lúa mùa – 1 vụ tôm sú. Lúa mùa Một Bụi Trắng Lùn đạt năng suấ 4,38-4,65 tấn/ha lãi 9.310.000-14.025.000 đ/ha; tôm đạt sản lượng 320-323 kg/ha. Đào tạo 8 kỹ thuật viên và tập huấn 2 quy trình: nuôi tôm an toàn bền vững và trồng lúa mùa đạt năng suất cao, chất lượng cho 300 nông dân trong vùng dự án. Ngoài ra, dự án còn theo dõi khảo sát diễn biến lý hóa đất, nước của mô hình tôm-lúa: hàm lượng chất hữu cơ cao, chủ yếu ở tầng mặt (5,79% ở đầu vụ lúa 2011, 4,60% đầu vụ tôm và 5,51% đầu vụ lúa, 2,90% đầu vụ tôm). Ruộng ít có khả năng giữ ẩm và tầng sâu tích tụ muối nhiều (EC=15,58 mS/cm).
8) Xây dựng mô hình sản xuất lúa theo hướng công nghiệp hóa tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao (2010-2013)
Áp dụng tiến bộ khoa học và cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp tiên tiến, triển khai thành công 02 kiểu mô hình sản xuất lúa với tổng diện tích 199,88 ha trong 02 năm, đạt lợi nhuận 3,83 tỷ đồng. Mô hình SX lúa chất lượng cao: tổng diện tích 120,66 ha trong 02 vụ. Tổng năng suất 13,57 tấn/ha/năm, lợi nhuận bình quân 36,06 triệu/ha/năm. Mô hình SX lúa giống cấp xác nhận 1: tổng diện tích 79,22 ha trong 02 vụ, đạt năng suất: 11,5 tấn/ha/năm, lợi nhuận bình quân 33,74 triệu/ha/năm. Đã xây dựng nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm lúa giống Định Hòa bao gồm logo, qui chế sử dụng, đăng ký bảo hộ. Thực hiện chuyển giao công nghệ 02 qui trình sản xuất lúa, kết hợp đào tạo 09 cán bộ, kỹ thuật viên cơ sở; Đã tổ chức 02 đợt tham quan với 33 nông dân trong vùng dự án tham gia và 10 lớp tập huấn cho 440 lượt nông dân cả trong và ngoài dự án. Nông dân trong vùng dự án đến vụ ĐX 2012-2013 đã có sự thay đổi nhận thức rõ nét thông qua việc áp dụng sạ hàng (100% trong MH SX giống và hơn 95% cho MH SX chất lượng cao). Hầu hết đều sử dụng máy gặt đập liên hợp để thu hoạch. Bên cạnh đó, dự án còn trang bị máy móc phục vụ sản xuất (01 máy phun thuốc trừ sâu, 10 dụng cụ sạ hàng, 01 lò sấy lúa giống) và hỗ trợ nguyên vật liệu cho nông dân (lúa giống, phân bón, thuốc).
III. Kết luận và kiến nghị:
– Qua các dự án NTMN, nhận thức về trình độ kỹ thuật của người dân nông thôn cũng như đội ngũ cán bộ kỹ thuật địa phương trong việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp được nâng lên thông qua các lớp tập huấn, chuyển giao quy trình công nghệ và các mô hình thực tiễn.
– Hiệu quả ứng dụng KH&CN trên các mô hình của các dự án NTMN đã góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, tăng thu nhập cho nông dân nông thôn và hướng đến sản xuất nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường.
– Các dự án NTMN đã góp phần tham gia thị trường công nghệ, tăng cường sự hợp tác giữa địa phương với các đơn vị nghiên cứu chuyển giao công nghệ như: Viện Lúa ĐBSCL, Khoa Thủy sản, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng (Đại học Cần Thơ), Viện Cây ăn quả Miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam,…
– Bên cạnh đó, các dự án NTMN cũng góp phần cải thiện một số tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới trong địa bàn tỉnh. Đa số các xã được đầu tư triển khai dự án NTMN đã cải thiện các tiêu chí về thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất,…
Tuy nhiên, để Chương trình NTMN đạt kết quả cao hơn nữa trong thời gian tới, có một số kiến nghị sau:
– Cần tăng số lượng và quy mô tài chính (TW hỗ trợ 2-3 tỷ/dự án) của các dự án thuộc Chương trình NTMN. Đặc biệt, tỉnh Kiên Giang cần được đầu tư nhiều dự án NTMN triển khai tại các tiểu vùng sinh thái và Khu DTSQ nhằm góp phần thay đổi diện mạo và cải thiện đời sống người dân trong vùng. Bên cạnh đó, góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn loài và đa dạng sinh học.
– Bộ KH&CN cần có văn bản hướng dẫn các địa phương nên có các Chương trình tương tự với quy mô nhỏ hơn, do tỉnh cấp ngân sách và tổ chức thực hiện.
– Trong quản lý dự án, cần linh động, thích ứng giải quyết cho địa phương về sự thay đổi theo yêu cầu thực tế ở từng giai đoạn thực hiện dự án (thay đổi về mùa vụ, yêu cầu thay đổi của thị trường về sản phẩm, hàng hóa, tình hình trượt giá nguyên vật liệu, về quản lý, về đơn vị chuyển giao …). Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính cũng cần điều chỉnh tăng định mức kinh phí cho phù hợp với tình hình hiện nay.
– Bộ KH&CN cần có văn bản đề nghị các Bộ hữu quan chỉ đạo các sở, ngành chuyên môn của tỉnh, thành phố xem xét, triển khai nhân rộng các kết quả nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao của các dự án NTMN đạt hiệu quả.
– Khen thưởng đột xuất, kịp thời cho các tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong quá trình triển khai thực hiện chương trình./.

TS. Nguyễn Xuân Niệm
PGĐ Sở KH&CN Kiên Giang

Tài liệu tham khảo
Cục Thống kê Kiên Giang, 2012. Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang. NXB Thống kê, 2012. 89 trang.
Sở KH&CN Kiên Giang, 2012. Tuyển tập báo cáo kết quả các dự án NTMN thực hiện tại Kiên Giang. 2012. 153 trang.
UBND tỉnh Kiên Giang, 2012. Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Kiên Giang năm 2012. 19 trang.

lua-kiengiang

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s