Dipl. Biol. Nguyễn thị Hoàng – Hoa Sứ

image002Có phải để tô điểm phong cảnh thiên nhiên cho hoàn hảo hơn và đồng thời cũng thơ mộng hóa tình nhân loại mà tạo hóa đã ban cho nhiều loại hoa khác nhau từ màu sắc đến hình dạng. Thật vậy, hoa làm rung động tình cảm con người, khiến người ta thi vị hóa và tặng mỗi loài hoa có một tiếng nói riêng thích hợp với cá tính của mỗi loại. Hoa sứ với từng đóa hoa một lộng lẫy, cánh hoa mỏng, thanh tượng trưng cho sự cởi mở và tinh khiết. Với nét đẹp lạ hiếm có, mong manh như những món quà sứ dễ vỡ, hoa sứ thố lộ lời nói thật dễ thương rằng: “Yêu em (anh) , anh (em) dâng hiến cả cuộc đời anh (em)”.
image001Trên phương diện thực vật học, hoa sứ thuộc gia đình Magnoliaceae. Hoa mọc từng cái ở cuối nhánh có cách cấu tạo rất đơn giản. Trên trục hoa dài thường có hai hay ba vòng hoa (Wirteln) và mỗi vòng có ba cánh. Nhờ trục hoa dài nên vài loại sứ vẫn có thể có nhiều cánh hoa hơn, thí dụ như Sternmagnolia (M. stellata) có đến 40 cánh hoa (Petalen) hay nhiều hơn nữa. Điểm đặc biệt của hoa sứ là lá đài (đài hoa=Kelchblätter, Sepalen) và cánh hoa (tràng hoa=Kronblätter, Petalen) giống nhau nên người ta không phân biệt giữa tràng hoa hay đài hoa. Trong trường hợp nầy, tràng và đài hoa được gọi là Tepalen như George Johnstone đã đề nghị như vậy từ năm 1948. Bộ nhị đực (Staublätter) và bộ nhị cái (Fruchblätter) nằm xoắn tròn quanh trục hoa. Sau khi những cánh hoa và nhị đực rụng, bầu nhị (Gynaeceum) tăng trưởng cho quả có dạng giống trái thông (Kieferzapfen).
Chúng ta cũng nên biết nguyên nhân nào mà hoa sứ có tên Magnolia. Hoa sứ mang tên của một thực vật gia người Pháp, đồng thời cũng là giám đốc Vườn Thực Vật ở Montpellier, đó là ông Pierre Magnol (1638-1715). Magnol được danh dự nầy vì ông đã phát họa cách định họ các loài thực vật, mặc dầu trước đó, Federico Cesi -một người Ý- đã có cùng ý nghĩ như ông. Để ghi ơn Magnol, Charles Plumier lấy tên ông đặt cho một loài hoa sứ miền nhiệt đới. Về sau, đến năm 1737 Carl von Linné, một thực vật gia nổi tiếng người Thụy Điển, xếp tất cả loại hoa sứ vào cùng một gia đình Magnoliaceae.
Cho đến nay có tất cả vào khoảng 80 loại hoa sứ xuất sứ từ Đông Á và đông nam Bắc Mỹ. Đa số ở Trung Hoa, Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Nam Dương v.v… Một phần nhỏ khoảng 26 loại ở nam Gia Nả Đại, phía đông Bắc Mỹ, Trung Mỹ cũng như Mể Tây Cơ và đông nam Venezuela. Theo lịch sử địa chất học vào thời Tertiär và Kreide (trước 2 đến 65 triệu năm) hoa sứ có ở toàn khu bắc bán cầu. Như vậy, hoa sứ không phải là loại hoa xa lạ gì đối với người Âu châu thuở xa xưa. Nhưng vào thời băng giá (Eiszeit) cuối cùng (trước 10 đến 15 ngàn năm) thực vật bị tàn phá nhiều và chỉ những cây nào tránh được băng hà (Gletscher) hoặc những hạt giống được lan xuống miền Nam thì mới còn sống sót được. Ở vùng Đông Nam Á không có băng hà, vì vậy ngày nay vẫn còn nhiều cây cối xưa của miền bắc bán cầu. Nếu chúng ta quan sát các loại sứ, người ta nhận thấy sứ có nhiều loại khác nhau từ cây nhỏ như M. stellata hoặc M. liliiflora, cho đến những cây cao lớn hơn 10 mét. Ngoài ra có loại thay lá mỗi năm hay đến năm thứ ba mới thay lá một lần. Các loại sứ miền bắc Mỹ thường cao lớn, 10 đến 15 năm sau khi trồng mới trổ hoa, và hoa nở vào đầu hay giữa hè sau khi lá đã ra. Sứ Mỹ nầy có hoa màu đơn giản, chỉ với màu trắng, ngà hoặc vàng lợt, thí dụ M. virginiana, M. grandiflora hay M. tripetala.
image004Ngược lại, các loại sứ của Á Châu đa số có thân cây nhỏ, ngoại trừ M. campbellii hoặc M. kobus cao hơn 10-12 mét. Ngoài hai cây sứ kể trên, những cây sứ khác bắt đầu trổ hoa sau vài năm trồng. Hoa nở trước hoặc đồng thời khi lá mọc vì vậy thường làm nổi bậc nét đẹp của mình, phụ thêm màu sắc từ trắng tinh khiết sang hồng đến đỏ thật đậm. Chính vì những màu sắc nầy mà người Âu châu rất thích trồng hoa sứ Á châu. Sứ Á châu là loại sứ đã có từ lâu. Sứ M. officinalis (Hou Phu) được trồng ở Sechuan từ cả trăm năm và sứ M. denudata (Yu Lan) được các tu sĩ ở miền trung Trung Hoa trồng làm cây kiễng vào thế kỷ thứ 7. Sứ M. liliiflora (Mu Lan) cũng có rất lâu ở Trung Hoa. Vì có đặc tính tăng trưởng chậm nên người ta dùng cây nầy làm cây tháp cho những loại sứ khác.
Như tài liệu cho thấy, các loại sứ từ Á và Mỹ châu, ngày nay lan sang Âu châu là nhờ công trình của những người thích sưu tầm thảo mộc lạ. Henry Compton (1632-1713), giám mục của Luân-Đốn và thuộc địa Bắc Mỹ, là một trong những người thích sưu tầm cây cỏ lạ. image003Ông nhập cảng các cây từ nhiều xứ khác nhau và đem trồng ở lâu đài Fulham Palace của ông. Ông gởi nhà truyền giáo John Bannister sang Virginia truyền bá đạo, và ông nầy, sau đó, bỗng trở thành người mê sai sưu tầm cây cỏ lạ. Từ Virginia, vào năm 1688, John Bannister gởi cây M. virginiana về Anh, nhưng mãi đến năm 1731 mới được thực vật gia người Anh Marc Catesby nhận ra cây nầy thuộc loại sứ. Ngoài M. virginiana, sứ M. grandiflora cũng được trồng vào năm 1730 ở Anh, sau đó ở Pháp và Ý. Loại nầy có lá và hoa đẹp nên lấn cả địa vị của M. virginiana, loại sứ mà thuở đó người ta đang ưa thích. Ở Pháp ông Darquistade, chủ biệt thự La Maillardière ở Nantes, là người trồng sứ đầu tiên. Biệt thự nầy sau đó thay đổi chủ nhiều lần cho đến khi bà De la Bretesche là chủ nhà, bà chiết cây con bằng cách nhận cành sứ xuống đất cho bắt rễ. Vào năm 1755 người ta cũng thấy những cây sứ được trồng trong vườn thượng uyển của vua ở Paris. Ở Ý vào năm 1760 cây sứ đầu tiên xuất hiện ở biệt thự Sala ở Mirano gần Venedig. Ngày nay sứ M. grandiflora xuất xứ từ những rừng của tiểu bang đông nam Bắc Mỹ được trồng nhiều trong vườn tược tư gia cũng như trong công viên. Sứ này là một cây trật hùng vĩ, oai vệ!
Về hoa sứ miền Đông Á, sứ M. denudata (Yu Lan) là sứ đầu tiên mà Joseph Banks mang về Anh vào năm 1780. Riêng sứ M. liliiflora (Wu Lan) được công tước thứ 3 của Portland thấy ở Nhật mang về Anh 1790. Năm 1861 sứ M. stellata có mặt ở Rhode-Island và đến năm 1877 loại sứ nầy lan tràn sang Anh. Ngoài ra sứ M. campbellii từ vùng Hy Mã Lạp Sơn Ấn độ và sứ M. hypoleuca của Nhật cũng có mặt ở Anh vào năm 1868 và 1880.
image006Ngày nay người ta có nhiều loại sứ mới, đó là nhờ những chuyên gia lai giống tuyển chọn, phối hợp cho ra cây lai đủ loại. Nói về lai giống sứ, người ta liên tưởng ngay đến Soulange-Bodin vì ông là người đầu tiên làm việc khoa học nầy. Soulange-Bodin là một sĩ quan kỵ binh dưới thời Napoléon I, nhưng cũng là người ưa thích cây cỏ. Sau khi thua trận Waterloo, ông lập ra Viện Trồng Trọt Vườn Tược Hoàng Gia ở Fromont gần Paris vào năm 1815. Ông lai giống sứ M. denudata màu trắng với M. liliiflora màu đỏ đậm để cho ra những loại sứ lai M. soulangiana có đủ màu sắc từ trắng tinh qua màu hồng hoặc màu rượu đỏ thật đậm. Về sau ở các xứ khác như Anh, Đức, Nhật, Mỹ cũng góp phần trong việc lai giống nầy với mục đích tạo ra các loại sứ mới có những đặc tính hay hơn cây giống khởi thủy, như với nhiều màu lạ, không nhạy cảm với đất vôi và chịu đựng được băng giá.
image005Ở Đức ông Max Löbner lai giống M. kobus với M. stellata cho ra giống sứ mới M. x loebneri và sứ nầy trổ hoa lần đầu tiên vào năm 1917 ở Pillnitz gần Dresden. Đáng để ý là M. x loebneri mang đặc điểm nửa giống mẹ nửa giống cha và do đó cây tăng trưởng chậm hơn M. kobus nhưng lại tăng trưởng nhanh hơn M. stellata, ngoài ra có hoa thật nhiều, đẹp và lớn hơn hoa của bậc cha mẹ. Ở Washington D.C., vào năm 1955-56, Francis de Vos và William Kosar làm nhiều chương trình lai giống. Sau khi chọn lựa kỹ càng đã tuyển ra nhiều giống lai rất đẹp và được gọi tên là giống lai De Vos-Kosar, những sứ này tăng trưởng chậm, hoa màu hồng hay đỏ và chịu đựng nỗi băng giá, rất thích hợp cho những vườn nho nhỏ.
Sứ là một loài cây rất hữu ích. Công dụng về thuốc men của sứ đã được người Trung Hoa biết đến từ cả trăm năm nay. Những sách báo xuất bản đầu tiên về sứ người ta có thể tìm thấy trong sách sử về dược liệu thiên nhiên Trung Hoa vào năm 1083. Thuở ấy người ta trồng sứ M. officinalis (Hou Phu) như cây thuốc. image008Nước trà lấy từ vỏ sứ làm giảm ho, dịu mát và cường lực. Nụ hoa dùng trị bịnh phụ nữ. Sứ M.liliiflora (Mu Lan) được dùng như thuốc say trong phương cách trị liệu. Với sứ M. denudata, trà từ vỏ cây dùng trị bịnh cảm và hoa được lăn bột, chiên ăn. Ở Nhật vỏ cây của M. kobus được thổ dân nguyên thủy dùng trong việc trị bịnh. Không những ở Á châu, ở Mỹ người ta cũng dùng vỏ cây của sứ M. grandiflora làm thuốc cường lực, thuốc kích thích hay thuốc say. Tương tự, vỏ cây của M. viginiana dùng để chế thuốc cường lực và thuốc chống nóng, ngoài ra còn để trị bịnh về đường tiêu hóa và về da. image007Trà từ vỏ cây giúp cho sự cai thuốc cũng như để sút miệng khi sưng nướu răng, lở miệng. Ngoài ra sứ còn có công dụng khác nữa là gỗ sứ dùng để làm nhiều việc từ bàn ghế, giường tủ, gỗ miếng lót sàn nhà cho đến cán chổi.
Mỗi mùa xuân đến, ngắm hoa sứ nở trong vườn nhà, một vài kỷ niệm xưa sống lại trong tôi. Kỷ niệm ép hoa sứ vào trang giấy học trò để thưởng thức hương thơm nhè nhẹ thoảng lên, mặc dầu những cánh hoa không còn đẹp vì đã biến sang màu nâu. Rồi đến thời sinh viên đã nhiều lần đến Wilhelma Stuttgart vào mùa sứ nở để ngắm hàng vạn cánh hoa đang khoe sắc và cháu gái đầu lòng của chúng tôi chập chững đi dưới những hàng hoa sứ nở như một cánh bướm nhỏ ngập ngừng bay lạc vào rừng hoa.
(Cho con tôi Hoàng-Diệp)

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s