Trần-Đăng Hồng, PhD – So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

kinhte-vietnamNgày nay, người Việt nào cũng biết là Việt Nam còn nghèo. Chữ “giàu” hay “nghèo” chỉ diễn tả tình trạng định tính chung chung, ta không biết được giàu hay nghèo ở mức độ nào, vì vậy cần phải định lượng bằng con số để có thể so sánh dễ dàng.

Để so sánh mức sống (living standards) giữa các vùng hay quốc gia, các nhà kinh tế xử dụng chỉ số GDP đầu người (GDP per capita). GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ hay quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP đầu người là số trung bình (bình quân) của GDP toàn quốc chia cho dân số. Để so sánh mức sống giữa các quốc gia, GDP đầu người phải được chuyển đổi theo cùng một hệ thống tiền tệ, US Dollar (US$). Tuy nhiên, mức sống tùy thuộc vào giá cả và hối xuất của mỗi quốc gia, để chính xác hơn, tính GDP đầu người theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP) trên cơ sở chênh lệch giá cả hàng hóa ở nước đó so với giá cả hàng hóa tương tự ở Hoa Kỳ.

Từ năm 2010, báo chí cho biết GDP toàn quốc của Trung quốc rất lớn, khoảng $5880 tỉ cho năm 2010, vượt qua Nhật Bản ($5470 tỉ), và nay đứng hàng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Tuy đứng thứ 2 thế giới, nhưng mức sống của người Tàu còn rất nghèo so với người Nhật, vì GDP đầu người của Trung quốc chỉ $7.500 trong lúc của Nhật là $34.000 (4,5 lần cao hơn Trung quốc), chưa kể đến sự chênh lệch quá lớn giữa người nghèo và người giàu ở Trung quốc

Dựa vào chỉ số GDP công bố cho thời gian một hai thập niên qua, chúng ta biết Việt Nam hiện nay còn rất nghèo, nhưng không biết nửa thế kỹ trước Việt Nam giàu hay nghèo. May mắn, mới đây (2012), cơ quan Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) công bố chỉ số GDP đầu người cho 185 quốc gia, bắt đầu từ năm 1960 (1).

Vì không phải là chuyên gia về chính trị kinh tế, người viết bài này không dám lạm bàn về nguyên nhân hay chánh sách kinh tế. Phần này để bạn đọc tự tìm hiểu (hay đã hiểu). Thiển giả chỉ trình bày lại các dữ kiện khô khan của số liệu do WB và IMF cung cấp bằng các biểu đồ dễ dàng theo dõi hơn.

Việt Nam năm 1960

 image001

Biểu đồ 1. So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (Vẽ từ tài liệu 1)

Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất. Vào năm này VNCH xuất cảng (xuất khẩu) tổng cộng 84 triệu US$, gồm 2 sản phẩm chánh là cao su (40 triệu US$) và gạo (27,7 triệu US$).  Riêng về xuất cảng gạo, năm 1960 là đỉnh cao nhất kể từ 1955 với khoảng 340.000 tấn, nhưng giảm dần sau đó, và từ 1965 Nam VN phải nhập cảng (nhập khẩu) 271.000 tấn, năm 1966 khoảng 434.000 tấn, và 1967 khoảng 749.000 tấn gạo (3). Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỉ đồng VN, trong số này gồm có 4,481 tỉ đồng (5,5%)  là tiền viện trợ (3). Hối xuất chính thức trong đầu thập niên 1960 là 1US$ = 118 đồng Ngân Hàng Quốc Gia VN (VNCH, South Việt Nam), trong lúc hối xuất chợ đen năm 1968 là 235-245 đồng (3).

Cũng cần nhắc lại là thời điểm 1960, chiến tranh du kích đã phá hủy khá nhiều nền kinh tế ở nông thôn của Miền Nam, nhất là sản xuất cao su và lúa gạo. Theo tài liệu 2, từ 1955 đến 1961, chính phủ VNCH đã gia tăng đầu tư, nhờ vậy kỹ nghệ (công nghiệp) và nông nghiệp phát triển mạnh, nhưng sau 1961, các yếu tố trên bị suy giảm vì chiến tranh. Vì vậy, năm 1967, lợi tức đầu người (income per capita) Việt Nam Cộng Hòa giảm xuống 126 US$, trong lúc Thái Lan tăng lên 141 US$ (3).

Việt nam trước 1960

Câu hỏi là trước 1960, Việt Nam có nền kinh tế ra sao? Theo Anne Booth (2003), vì hậu quả của đệ nhị thế chiến và chiến tranh dành độc lập sau đó, cho tới năm 1960, vài nước Á châu như Indonesia, Miến Điện và Việt Nam vẫn chưa khôi phục lại GDP đầu người của thời tiền chiến.

Chẳng hạn, Miến Điện có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1929 có GDP cao hơn năm 1960 tới 68%. Riêng Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1938, có GDP cao hơn năm 1960 là 69%. Vì Đệ nhị thế chiến (1939-1945) tiếp theo chiến tranh với Pháp (1945-1954) kinh tế Việt Nam kiệt quệ, suy giảm nặng nề, mải tới năm 1956 kinh tế mới bắt đầu tăng trưởng trở lại ở Miền Nam, và năm 1960 Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới phục hồi được 60% của GDP đầu người của năm 1938 (4).

Như vậy, ở cuối thập niên 1930s, Việt Nam có một nền kinh tế hùng mạnh có hạng của Á Châu, chỉ đứng sau Nhật Bản, có lẻ ngang ngửa với Malaysia (lúc này Singapore còn là lãnh thổ của Malaysia), Philippines, và hơn hẳn các quốc gia khác như Thái Lan, Trung quốc, Triều Tiên, Ấn Độ và Indonesia.

 

GDP đầu người của Việt Nam và vài nước Á Châu từ 1980 đến 2011

Việt nam thống nhất lãnh thổ từ sau biến cố 30/4/1975. WB không có công bố số liệu GDP của Việt Nam trong 4 năm từ 1976 đến 1979. Vì vậy, ở đây chỉ trình bày từ năm 1980 cho tới nay (2011).

Biểu đồ 1 trình bày GDP đầu người của 7 quốc gia Á Châu  trong thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Trong thời gian 1980 – 2011, có 3 thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới gồm 1984-1986, 1997-2003 và 2008. Mỗi kỳ khủng hoảng phải mất vài ba năm mới phục hồi lại. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng 1997, phải mất 6 -7 năm Singapore mới phục hồi, nhưng chỉ 1 năm với khủng hoảng 2008, trong lúc Nam Hàn với khủng hoảng năm 2008 tới nay mới phục hồi. Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng gì (biểu đồ 2).

Theo biểu đồ 2, mọi quốc gia đều có tăng trưởng, nhưng với vận tốc tăng trưởng khác nhau. Nếu tính theo vận tốc tăng trưởng thì Singapore và Nam Hàn mạnh nhất, kế là Malaysia. Mặc dầu Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng cao hơn chút ít, nhưng mức khởi đầu quá thấp, nên Nam Hàn vẫn chưa thể nào bắt kịp và Singapore vẫn còn tiếp tục dẫn đầu. Còn Việt Nam phát triển chậm nhất, vẫn ở vị trí chót trong số 7 quốc gia Á Châu nói trên (biểu đồ 2).

 image002

Biểu đồ 2. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Thay đổi vị thứ. Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống  3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6  trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.

Cách biệt GDP của vài quốc gia lân cận với Việt Nam.

Bảng 1. Số lần cách biệt GDP đầu người giữa một quốc gia đối chiếu với Việt Nam (tỉ số của GDP quốc gia đối chiếu/GDP của Việt Nam) ở hai thời điểm 1980 và 2011. Cột 4 là số lần gia tăng GDP của năm 2011/GDP của năm 1980 của một quốc gia. Cột 5 là số năm cần thiết để GDP tăng lên gấp đôi.

 

(1)

Quốc gia

(2)

1980

(3)

2011

(4)

Số lần tăng trưởng GDP 1980-2011

(5)

Thời gian (năm) cần để GDP tăng trưởng gấp đôi

Singapore

9,25

35,86

10,36

6,0

Malaysia

3,44

7,34

5,70

10,9

South Korea

3,29

16,32

13,28

4,7

Philippines

1,45

1,71

3,15

19,7

Thailand

1,35

3,93

7,75

8,0

Indonesia

1,14

2,56

6,00

10,3

Vietnam

2,67

23,2

 

Theo Bảng 1, GDP đầu người  của Singapore nhiều 9,25 lần GDP của Việt Nam vào năm 1980, và chênh lệch tới 35,86 lần vào năm 2011. Thái Lan và Indonesia chỉ hơn Việt Nam chút ít vào năm 1980 (1,35 và 1,14 lần), nhưng nay Indonesia gấp 2,5 lần và Thái Lan gấp gần 4 lần Việt Nam.

Trong vòng 31 năm qua, GDP của Nam Hàn gia tăng 13 lần, tức chỉ cần 4,7 năm GDP tăng gấp đôi, Singapore 10 lần tức mỗi 6 năm GDP gấp đôi, Thái Lan 7,8 lần trong khi Việt Nam chỉ 2,7 lần, tức Việt Nam phải mất hơn 23 năm GDP mới tăng gấp đôi (Bảng 1). Như vậy, càng về sau Việt Nam càng tụt hậu.

 

Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan không?

Nhìn biểu đồ 2, chúng ta thấy là Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippines, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Malaysia, Nam Hàn hay Singapore.

Để có thể tiên đoán chính xác, tác giả dựa vào số liệu do IMF cung cấp trong 10 năm qua (2002-2011) để vẻ lại mức tăng trưởng GDP đầu người cho mỗi quốc gia. Sau đó, dùng máy vi tính thử nghiệm các mô hình toán học để vẻ nhiều đường biểu diễn, rồi chọn một đường biểu diễn nào phù hợp có độ chính xác cao nhất. Kết quả cho thấy là các đường biểu diễn cho các quốc gia trình bày trong biểu đồ 3 có độ chính xác cao nhất (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam). Ở mỗi đường biểu diễn, chương trình toán học thống kê cũng cho một phương trình. Giải đáp bài tính lần lượt giữa hai phương trình của hai quốc gia để tìm ẩn số thời gian nơi hai đường biểu diễn gặp nhau, tức là thời kỳ GDP của quốc gia này bắt kịp một quốc gia khác.

image003

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).

 

Kết quả phân tích toán học bằng máy vi tính cho thấy đường biểu diễn tăng trưởng GDP đầu người của mỗi quốc gia không phải là một đường thẳng (linear) như mắt ta thấy, mà là một đường cong theo hình dạng của một cánh parabole (parabolic curve). Càng xa trục tâm 0, đường biểu diễn càng cong lên hơn, tức vận tốc tăng trưởng theo phương trình lũy tiến.

Image4

Biểu đồ 4. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 3.

 

Cần nhớ rằng ở thời điểm 0 (tức năm 2013), các quốc gia không khởi hành cùng ở mức 0, mà ở những vị trí khác nhau trên trục tung (Y). Chẳng hạn Việt Nam có tọa độ 1.660 US trong lúc Singapore ở tọa độ 50.899 US$, tức GDP hiện có của các nước này ở thời điểm 2013. Ngoài ra, vận tốc lũy tiến (độ cong) của mỗi quốc gia cũng đều khác nhau.

Theo tiên đoán của biểu đồ 4, Indonesia sẽ bắt kịp Thái Lan trong 23 năm tới (tức 2036) và kịp Malaysia vào 2095. Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng lũy tiến chỉ hơn Singapore chút đỉnh nên Nam Hàn vẫn chưa bắt kịp trong thế kỷ 21.

Riêng phần Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn mọi quốc gia, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không bắt kịp được nước nào mà càng ngày càng tụt hậu, càng nghèo nếu so với các nước trên.

Biểu đồ 5 trình bày dữ kiện cung cấp bởi IMF tiên đoán tăng trưởng GDP từ 2011 đến 2017, cũng xác định rằng Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại (vận tốc ban đầu = (1374 – 440)/10 = tức tăng thêm 93.4 US/năm).

image006

Biểu đồ 5. Tiên đoán GDP đầu người do IMF  thực hiện cho thời kỳ 2011 – 2017 cho Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Vẽ từ tài liệu của IMF (1).

Vì vậy, muốn bắt kịp các nước nói trên, Việt Nam phải có vận tốc tăng trưởng ban đầu tăng cao hơn nữa, trước nhất để bắt kịp Philippines, sau mới tới Thái Lan.

Sau đây là các bài tính với giả sử rằng Việt Nam từ năm 2013 lần lượt đạt được vận tốc tăng trưởng GDP từ thấp lên cao, trước nhất bằng Philippines, rồi Thái Lan, rồi tới Indonesia, Malaysia, Singapore và Nam Hàn.

Nếu Việt Nam tăng vận tốc tăng trưởng GDP ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93,4 lên 133 US$/năm), Việt Nam vẫn tiếp tục tụt hậu, vì vậy muốn bắt kịp Philippines phải có vận tốc tăng trưởng cao hơn, càng cao hơn thì bắt kịp sớm hơn.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu và vận tốc lũy tiến (độ cong) bằng Indonesia hiện nay (ban đầu tăng thêm 259 US, tuy thấp nhưng lũy tiến tăng nhanh, xem đường cong ở biểu đồ 5), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2023, bắt kịp Thái Lan vào năm 2040, và bắt kịp Malaysia vào 2093. 

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Thái Lan (tăng thêm 337,5 US$/năm, cao 3,6 lần hơn VN), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines trong 4,5 tới, tức giữa năm 2017, nhưng không bao giờ bắt kịp Thái Lan.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Malaysia hiện nay (tăng thêm 600 US/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2015, Indonesia vào 2019, Thái Lan năm 2028, nhưng không bắt kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng của Nam Hàn hiện nay (tăng thêm 1583 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines và Indonesia vào năm 2014, Thái Lan năm 2017, Malaysia vào 2022, Singapore vào 2117 (104 năm nữa).

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Singapore hiện nay (tăng thêm 2724 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào giữa năm 2014, Indonesia vào cuối 2014, Thái Lan năm 2018, Malaysia vào 2020, nhưng không bắt kịp Nam Hàn và Singapore.

Trên đây chỉ là giả thuyết, bởi vì muốn đạt được vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93 lên 133 US$/năm) cũng vất vả lắm rồi, mà khả năng quản lý kinh tế của Việt Nam khó đạt được.

 

10 quốc gia có GDP đầu người dẫn đầu thế giới năm 2030 và 2040

Sau đây là danh sách của Citygroup công bố vào tháng 2/2011 tiên đoán về 10 quốc gia và lãnh thổ (như Hồng Kông) có GDP đầu người dẫn đầu thế giới vào năm 2030 và 2040 (1).

Theo bảng xếp hạng tiên đoán này, Singapore dẫn đầu thế giới, tiếp theo là Norway, Switzerland và Canada trong năm 2030 và 2040. Nam Hàn từ vị trí 9 năm 2030 sẽ lên vị trí 6 năm 2040, trong lúc Hồng Kông không còn nằm trong danh sách “Top Ten” của năm 2040, mà thay thế bằng Anh quốc.

 

Hạng

Quốc gia

2030

Quốc gia

2040

1

Singapore

155.232

Singapore

214.757

2

Norway

143.511

Norway

202.492

3

Switzerland

120.664

Switzerland

173.423

4

Canada

110.918

Canada

166.403

5

Australia

100.995

Sweden

145.793

6

Sweden

99.764

South Korea

145.321

7

United States

95.686

Australia

144.941

8

Netherlands

95.233

Netherlands

137.728

9

South Korea

88.959

United States

135.144

10

Hong Kong

86.967

United Kingdom

130.062

 

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capita http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

2.Economy of the Republic of Vietnam

 http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_the_Republic_of_Vietnam

3. Timothy Hallinan (1969). Economic prospects of the Republic of Vietnam.www.rand.org/pubs/papers/2008/P4225.pdf

4. Tran Van Tho (2003). Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind. In: The Vietnamese Economy: Awakening the dorming dragon, ed. by Binh Tran Nam and Chi Do Pham, Routled Curzon, 2003, Chapter 2.

5. Anne  Booth (2003). The Burma Development Disaster in Comparative

Historical Perspective. SOAS Bulletin of Burma Research, Vol. 1, No., 1, Spring 2003, ISSN 1479-8484

 

Reading, 5/2013

Trần- Đăng Hồng, PhD

11 comments

  1. Dm, toan luan dieu xuyen tac sac mui phan dong, chi lua nhung thang ko bit 1 chu kinh the thoi. Fuck u ” neu GDP VN bang nuoc nay nuoc no” cai dm may. Theo quy tac 70 thi neu GDP VN nhanh cao hon Philippin 3% thi 10 nam nua duoi kip cmnr. Thanh bip vkl

    Số lượt thích

  2. chính trị thì mình không biết nhiều , nhưng mạn phép hỏi tác giả 1 điều , năm 1980 máy tính có tính được là Trung Quốc cần 100 năm mới vượt qua Mỹ hay không ? kinh tế là cuộc chơi của trí tuệ , nơi này dòng tiền sẽ chạy khắp nơi tùy theo thời thế , máy tính chỉ biết phân tích số liệu thôi , nó có biết là khi nào khủng hoảng khi nào bùng phát kinh tế không ? nó có biết Thái Lan đang phát triển thì bị khủng khoảng chính trị kéo dài làm GDP tăng chậm lại hay không ?

    Số lượt thích

  3. […] 3) Trần-Đăng Hồng, PhD – So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu. […]

    Số lượt thích

  4. […] 1) Trang AnhBaSam, THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM PHỦ NHẬN LIÊN KẾT VỚI MỸ CHỐNG TRUNG QUỐC: NƯỚC NHỎ TÌM LIÊN MINH ĐỂ CHỐNG NƯỚC KHÁC LÀ TỰ SÁT, 2) Wikipedia, List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita. 3) Trần-Đăng Hồng, PhD – So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu. […]

    Số lượt thích

  5. […] Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh. Ngày 6/6, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đang ở thăm Trung Quốc đã nhận lời phỏng vấn của trang Hoàn Cầu… Ông nói, “với một nước nhỏ, nếu liên minh với nước khác để chống lại nước thứ ba chính là tự sát” (1). Câu nói đó, vượt ra ngoài phong cách ngoại giao, mang lòng tự ti: Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu. Tâm lí này cũng được thể hiện qua phát biểu, qua thái độ của các nhân vật cao nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam, như ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư, và ông Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Lòng tự ti này đang ngự trị trong Bộ Chính Trị và có vai trò chủ đạo trong việc định hướng các hoạt động của Việt Nam, nhất là trong các lãnh vực như ngoại giao, quân sự, kinh tế. Bài viết này nhằm thảo luận xem Việt Nam có phải là nước “nhỏ yếu” không. Định Nghĩa Yếu và Mạnh Yếu hay mạnh được đo lường so với Trung Quốc, bởi vì hiện nay, Trung Quốc là nước đang lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, can thiệp vào việc sắp xếp nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam, vào các chính sách ngoại giao, quốc phòng của Việt Nam. Hiện tại, ngoài Trung Quốc ra, không có nước nào vừa có khả năng vừa có tham vọng khống chế và lấn chiếm Việt Nam như thế. Do đó, với nước Việt Nam hiện nay: yếu là không đủ sức giữ độc lập, tự chủ trước các đòi hỏi và các hoạt động của Trung Quốc nhằm xâm lấn, tiến chiếm lãnh thổ và lãnh hải của nước Việt Nam. Mạnh là có đủ sức giữ độc lập, tự chủ. Tương Quan Lực Lượng Giữa Trung Quốc-Việt Nam Hiện Nay Tương Quan Biểu Kiến Hiện nay, ai cũng thấy, Việt Nam yếu so với Trung Quốc. Về quân sự, hải quân Trung Quốc áp đảo hải quân Việt Nam cả về chất lượng lẫn số lượng. Không quân Trung Quốc trội hơn hẳn Việt Nam. Về kinh tế, năm 2014, nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ 2 thế giới, lớn gấp 52 lần kinh tế Việt Nam về GDP danh nghĩa. Trong giao thương, kim ngạch buôn bán giữa Trung-Việt chiếm một phần rất nhỏ tổng kim ngạch của Trung Quốc (khoảng 1.2%), trong khi chiếm tới 15% tổng kim ngạch của Việt Nam. Nền sản xuất của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu của Trung Quốc. Nhìn chung, về kinh tế, trong khi Trung Quốc không cần Việt Nam, Việt Nam rất cần Trung Quốc. Tương Quan Thật Sự Với dân số 90 triệu, lúc nào Việt Nam cũng “nhỏ” hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhỏ hơn cũng yếu hơn. Một ngàn năm lịch sử từ thời Ngô Quyền tới nay đã nhiều lần nêu gương nhỏ mạnh hơn lớn. Yếu hay mạnh trong chiến tranh không chỉ là con số tuyệt đối, mà phụ thuộc rất lớn vào mật độ, vào tỉ trọng, vào ý chí… Hơn nữa, yếu hay mạnh không chỉ tùy vào sức mạnh quân sự và kinh tế, mà phụ thuộc rất lớn vào chính trị và ngoại giao. Trong thời đại hiện nay, chính trị và ngoại giao là ở mức độ toàn cầu. Trên mặt trận Biển Đông, Việt Nam đang được sự ủng hộ của đại đa số các nước trên thế giới, trong đó bao gồm tất cả các nước G-7, còn Trung Quốc đang bị chỉ trích vì chính sách và hành động bành trướng vô lí và bất chấp tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế. Về mặt này, Việt Nam mạnh hơn Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc còn có một thế rất mạnh so với Việt Nam, đó là đảng cầm quyền, nhà cầm quyền của họ đã khống chế đảng cầm quyền, nhà cầm quyền Việt Nam. Đây là điểm mạnh tinh thần, chính trị rất lớn của họ mà nước Việt Nam cần thoát ra nếu không muốn bị yếu so với Trung Quốc. Tiềm Năng Của Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để trở thành một nước mạnh. Điều này không phải do chúng ta tự huyễn hoặc, mà do sự phân tích chi tiết và thấu đáo. Và chúng ta cũng hiểu điều đó qua quan sát thái độ của các quốc gia trên thế giới đối với ta, qua các bài phân tích chính trị-kinh tế của các nhà quan sát thời cuộc thế giới về tiềm năng của Việt Nam. Một khối dân 90 triệu tự nó là khối dân lớn. Khối dân đó sống trên lãnh thổ 336 ngàn km vuông, nghĩa là có mật độ dân số 268 người/km vuông, khối dân đó đủ mạnh để bảo vệ lãnh thổ đó. Khối dân này, từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập từ Trung Hoa cách nay hơn một ngàn năm, đã được trui rèn qua 9 cuộc chiến chống xâm lăng Trung Hoa, trong đó họ đã thắng tám cuộc, chỉ thua có một cuộc, vào năm 1400 khi đất nước được lãnh đạo bởi chính quyền nhà Hồ mà lòng dân chán ghét. Khối dân 90 triệu người đó, khi cần bảo vệ nền độc lập, đối với mục tiêu đẩy lùi quân xâm lược, không hề yếu trước Trung Quốc. Về kinh tế, Việt Nam có tài nguyên, tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người, đủ để phát triển thành quốc gia giàu có. Người viết không dùng khái niệm xưa về rừng vàng biển bạc, nhưng chắc chắn Việt Nam không ít tài nguyên thiên nhiên hơn Nhật Bản hay Hàn Quốc. Dân tộc Việt Nam, cần cù, hiếu học, có đầu óc biết tiếp thu, biết xoay sở, nếu nằm trong điều kiện thuận lợi, có khả năng phát triển và hội nhập quốc tế nhanh chóng. Hãy nhớ rằng 150 năm trước, Việt Nam cùng trình độ phát triển với Nhật và Hàn Quốc. 50 năm trước, Việt Nam cùng trình độ phát triển với Hàn Quốc. Vị trí địa chính trị cũng là một tài nguyên rất lớn của Việt Nam. Là bao lơn nhìn ra Biển Đông. Nằm chắn trên con đường hàng hải Bắc Nam nối liền Đông Á, Bắc Á với Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Phi, châu Âu. Vị thế này, nếu được sử dụng một cách thông minh và hiệu quả, sẽ mang lại sự giàu mạnh lâu dài cho đất nước. Tương Lai của Việt Nam: Yếu hay Mạnh? Với tiềm năng được phân tích như trên, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thành mạnh, rất mạnh. Tuy nhiên, nếu ý chí và sự cố gắng của dân tộc không đủ, nguy cơ Việt Nam rơi vào vòng xoáy yếu hèn cũng không ít. Nhiều người trong nước có vẻ bi quan về tương lai Việt Nam. Việt Nam đã thua xa Âu-Mỹ. Đã thua xa Nhật Bản. Đã thua xa Hàn Quốc. Tác giả muốn nhắc lại rằng cách nay chưa xa, năm 1960, GDP/đầu người của Việt Nam là 223 USD so với 149 USD của Hàn Quốc và 92 USD của Trung Quốc (2). Khi chiến tranh Nam-Bắc xảy ra, cùng với đà tăng cường độ chiến tranh, mức GDP đầu người của miền Nam giảm rất nhanh, xuống con số 123 USD vào năm 1970. Như vậy, miền Nam mất đà tăng trường kinh tế mạnh mẽ và nghèo đi nhanh chóng do chiến tranh. Lập luận tuyên truyền chống miền Nam lúc đó cho rằng rằng sự phồn vinh của miền Nam là giả tạo, là nhờ viện trợ của Mỹ. Thực ra viện trợ kinh tế chỉ chiếm dưới 5% tổng GDP miền Nam. Dân chúng cần biết điều này để tự tin rằng Việt Nam thực sự có tiềm năng phát triển. Hẳn nhiên chúng ta có thể tin rằng nếu không bị tàn phá bởi chiến tranh, miền Nam có đủ tiềm năng phát triển nhanh và trở thành cường quốc kinh tế như Hàn Quốc hiện nay. Miền Nam có tiềm năng đó thì cả nước Việt Nam cũng vậy. Nâng Cao Dân Trí và Nâng Cao Dân Khí Thời đại hiện nay là thời của khoa học, kỹ thuật. Cái vốn lớn nhất để phát triển là tri thức, là con người với tri thức cao. Nền kinh tế phát triển hiện nay là nền kinh tế dựa trên tri thức. Con người có tri thức phải là con người tự do. Tự do thúc đẩy học hỏi, sáng tạo, phát triển tri thức. Xin đừng vin vào lập luận tự do phải có khuôn khổ để giới hạn tự do phát triển tri thức. Người có tri thức càng cao thì càng hiểu mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng, càng là một công dân có trách nhiệm, do đó càng là công dân tự giác có tính kỉ luật. Dân chủ và tự do không còn là lí tưởng xa vời, mà là điều kiện thực tế để phát triển. Dân chủ hóa đất nước càng sớm thì càng nâng tầm tri thức của xã hội nhanh hơn, do đó càng đưa đất nước tới chỗ giàu mạnh nhanh hơn. Dân chủ hóa đất nước đem lại công bằng cho các tầng lớp dân chúng, các thành phần, đảng phái và khuynh hướng chính trị. Công bằng là nền tảng vững chắc cho hòa giải, hòa hợp dân tộc. Công bằng giảm thiểu các tệ nạn gây ra do tham nhũng, nhóm lợi ích… rất tai hại cho xã hội. Do đó, công bằng là nền tảng phát triển của cộng đồng. Dân chúng không thể yên tâm đổ công sức làm ăn trong môi trường không công bằng. Năm 1960 GDP/đầu người của miền Nam cao gấp 3 lần của miền Bắc (223 USD so với 73 USD) (3) một phần rất lớn do môi trường dân chủ tự do của miền Nam. Trong môi trường dân chủ, tự do, công bằng, dân trí nâng cao nhanh, dân chúng giàu lên nhanh, và từ đó bừng khởi trong lòng mỗi người dân niềm tin vào xã hội, vào tổ quốc, vào truyền thống dân tộc, vào các giá trị sống tốt đẹp, vào chính bản thân mình. Đó là nguồn gốc của sức mạnh vô địch bảo vệ quyền tự chủ và độc lập của tổ quốc chung. Chế độ độc đảng nắm quyền lãnh đạo và toàn trị mang tính không dân chủ, không công bằng từ gốc rễ, nên Việt Nam cần thoát khỏi chế độ đó để cho đất nước tiến lên. Nâng Cao Sức Mạnh Quốc Phòng Nền tảng lớn nhất của sức mạnh quốc phòng là tinh thần chiến đấu cao của chiến sĩ và toàn dân, đồng lòng chống kẻ thù chung để bảo vệ tổ quốc chung. Rõ ràng nền tảng này không thể có khi quân đội thuộc về đảng và để bảo vệ đảng, chứ không thuộc về dân tộc và để bảo vệ tổ quốc chung. Rõ ràng nền tảng này không thể có khi dân chúng nhận thấy chính quyền không do họ bầu chọn, tiếng nói, ý nguyện của dân không được chính quyền lắng nghe, và rất nhiều chính sách gây tổn hại quyền lợi của họ được ban ra bất chấp lòng dân. Rõ ràng nền tảng này không thể có khi dân chúng nhận thấy chính quyền gồm những người rất rất giàu một cách bất minh trong khi đất nước chung còn nghèo đói. Rõ ràng, nền tảng này không thể có khi kẻ đang xâm lấn đất nước lại là kẻ được nhà cầm quyền xem là bạn, là đồng chí thân thiết chung chiến hào ý thức hệ! Dân chúng rất tinh tường, biết rõ ai là người ôn hòa khôn khéo nhưng quyết tâm bảo vệ tổ quốc, ai là người dâng quyền lợi chung cho kẻ xâm lấn để cầu lợi lộc riêng. Lòng dân, lòng quân đã không tin vào các nhà lãnh đạo chính trị và lãnh đạo quân đội thì đất nước tất phải rất yếu! Dân chủ hóa đất nước là bước cần thiết khắc phục dần điểm yếu nói trên, đưa chính quyền về gần dân hơn để tạo nền tảng cho sức mạnh quốc phòng. Chính quyền đó phải thực do dân chúng bầu chọn ra, chịu sự kiểm soát thực sự của dân chúng, và do đó sẽ được dân chúng ủng hộ. Một nước Việt Nam 90 triệu dân đồng lòng dốc sức, nước Việt Nam đó phải rất mạnh. Một Quốc Gia cần chọn đối tác có lợi cho mình nhất. Trong hoàn cảnh hiện nay, liên minh với Mỹ, Nhật, Úc, Ấn, Tây Âu đem lợi lớn cho Việt Nam. Mỹ, Nhật, Anh, Pháp là các nước có nền công nghiệp quốc phòng tiến bộ và mạnh nhất thế giới, Việt Nam cần chọn Mỹ, Nhật, Tây Âu làm các nhà cung cấp vũ khí chính. Các liên minh quân sự tay đôi (Mỹ-Nhật, Mỹ-Úc, Nhật-Úc…), tay ba (Mỹ-Nhật-Úc…) tạo thành thế trận liên hoàn trên Biển Đông, Việt Nam nên tìm vị trí thích hợp trên mạng lưới thế trận này để vừa có thực lực quốc phòng mạnh nhất, vừa có vị trí an toàn nhất. Xin đừng vin vào lập luận “Việt Nam không liên minh với ai để chống ai” để mà khước từ bắt lấy bàn tay chìa ra của Mỹ, bàn tay mà người bình thường nào cũng thấy sẽ góp phần lớn mang lại sức mạnh cho Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn có thể liên minh với Mỹ không nhằm chống lại Trung Quốc, nhưng không để Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, và qua đó bảo vệ hòa bình hiệu quả nhất cho tổ quốc mà không phải mất thêm tấc đất nào. Thoát Lệ Thuộc Kinh tế vào Trung Quốc Đất nước không mạnh nếu lệ thuộc kinh tế. Trung Quốc đang xâm lấn Việt Nam, Việt Nam không thể cho phép mình lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Tình trạng lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc đã ở mức độ báo động đỏ, khiến con dân nước Việt lo sợ cho tương lai nền độc lập của tổ quốc. Mở rộng giao thương kinh tế với các nước giàu mạnh như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…, tái cấu trúc nền kinh tế tìm đường thoát lệ thuộc Trung Quốc là những việc cần tiến hành nhanh chóng. Trên con đường đi đến sự tự chủ hơn về kinh tế đối với Trung Quốc, cần xem việc gia nhập TPP là cột mốc quan trọng mà Việt Nam cần đạt được. Đạt được mục tiêu này, dân tộc Việt Nam sẽ có một nguồn sức mạnh rất lớn ngăn chặn tham vọng xâm lấn của Trung Quốc. Kết luận về thế mạnh và yếu của Việt Nam Thưa quí vị độc giả, quí vị có nghĩ rằng: 1) Ba mục tiêu chiến lược: dân chủ hóa đất nước, nâng cao khả năng quốc phòng, thoát lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc có quá khó đối với Việt Nam không? 2) Nếu đạt được các mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam sẽ có Dân Trí và Dân Khí cao, có sức mạnh quốc phòng, có nền kinh tế giàu mạnh và tự chủ, nước Việt Nam như vậy có đủ mạnh để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải không? Tác giả bài viết này tin rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt các mục tiêu chiến lược nói trên. Tiềm năng Việt Nam lớn, điểm xuất phát hiện nay còn thấp, chắc chắn nếu đi đúng hướng Việt Nam sẽ phát triển nhanh trong vài thập niên tới. Theo các tính toán riêng, sau 15 năm đi đúng hướng, năm 2030, Việt Nam sẽ có tổng GDP khoảng 700-800 tỉ USD, có dự trữ ngoại tệ khoảng 300 tỉ USD, sẽ nằm trong hệ thống các nước Tự Do Dân Chủ trên thế giới. Nước Việt Nam như vậy chắc chắn đủ mạnh để góp phần bảo vệ con đường hàng hải Biển Đông, bảo vệ hòa bình Biển Đông, bảo vệ cuộc sống thanh bình và ấm no cho dân tộc. Việt Nam cần bắt đầu cuộc canh tân, mà nội dung chủ yếu là Dân Chủ hóa, ngay bây giờ. Lúc này, dù rất hung hăng, Trung Quốc cũng chưa đủ sức tấn công hệ thống liên kết và liên hoàn quốc tế chống lại sự độc chiếm Biển Đông. 15 năm trôi qua rất nhanh, khi đã đạt các mục tiêu nói trên, một Việt Nam Giàu Mạnh sẽ làm lệch cán cân tương quan lực lượng trên Biển Đông về phía hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Nếu không bắt đầu từ bây giờ, mọi việc e rằng sẽ quá trễ. Việt Nam ngày càng yếu hơn trong vòng kiềm tỏa ngày càng siết chặt của Trung Quốc. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1) Trang AnhBaSam, THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM PHỦ NHẬN LIÊN KẾT VỚI MỸ CHỐNG TRUNG QUỐC: NƯỚC NHỎ TÌM LIÊN MINH ĐỂ CHỐNG NƯỚC KHÁC LÀ TỰ SÁT, 2) Wikipedia, List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita. 3) Trần-Đăng Hồng, PhD – So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu. […]

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s