TS Lê Đình Hường – AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CHO NÔNG DÂN NGHÈO Ở THỪA THIÊN HUẾ, MỘT NGHIÊN CỨU VỀ SẢN XUẤT CÁC CÂY TRỒNG CÓ GIÁ TRỊ CAO VÀ CÁC HỆ THỐNG CANH TÁC HỮU CƠ CHI PHÍ THẤP

ruongluaTừ khóa: An ninh lương thực, canh tác hữu cơ công nghệ cao chi phí thấp, nông dân nghèo.

Ngày này, an ninh lương thực không chỉ là vấn đề ở một số nước đang phát triển mà  đã trở thành mối quan tâm ở quy mô toàn cầu. Biến đổi khí hậu, nguy cơ khủng hoảng nguồn nước, nhu cầu về năng lượng sinh học v.v., đang tạo ra những bất ổn mới đối với việc đảm bảo nguồn lương thực cho nền kinh tế thế giới (AusAid, 2008).

Việt Nam hiện nay vẫn là quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp, với việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo đã giúp Việt Nam là nước đứng đầu trên thế giới về xuất khẩu gạo (2013)

Gao lức hữu cơ chọn tạo tại Huế
Gao lức hữu cơ chọn tạo tại Huế

Nhưng Việt Nam cũng là quốc gia đang phải đối phó với nhiều áp lực như biến đổi khí hậu, diện tích đất sản xuất bị sút giảm, dân số tăng nhanh (với trên 80 triệu người và ước tính sẽ đạt 100 triệu người vào năm 2020), .v.v..   Sự gia tăng dân số và suy giảm đất đai sản xuất mà chủ yếu do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, đã làm cho diện tích canh tác trên đầu người của Việt nam xếp vào hạng thấp nhất thế giới, chỉ tính riêng đối với đất trồng lúa ước tính mỗi năm Việt Nam giảm khoảng 20 nghìn hecta. Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, chi phí đầu tư cho sản xuất có xu hướng ngày càng tăng cao nhưng giá bán các sản phẩm nông nghiệp quá rẻ điều đó làm cho thu nhập của nông dân đang sút giảm dần. Hàng hóa nông sản phần lớn không đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, xu hướng ‘ly nông’ đã phát sinh nhất là những vùng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn.

Làm thế nào để có thể tìm ra nguồn lương thực phục vụ nhu cầu của người dân Việt Nam và xuất khẩutrong tương lai mà vẫn đảm bảo phát triển bền vững là một bài toán nan giải đối với ngành nông nghiệp nước nhà.  Nhiều giải pháp đã được các nhà khoa học và các nhà kinh tế đưa ra, tựu chung có thể khẳng định rằng chìa khóa để Việt Nam đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững trong tương lai đó là phải dựa trên yếu tố khoa học và công nghệ. Vấn đề đặt ra ở đây là loại hình khoa học công nghệ nào là phù hợp với điều kiện ở Việt Nam nơi mà đa số nông dân vẫn còn nghèo, khả năng đầu tư các nguồn lực của họ cho sản xuất nông nghiệp vẫn còn rất nhiều hạn chế. Yếu tố quan trọng trong các chiến lược để giảm nghèo ở nông thôn là chúng ta phải tìm cách hỗ trợ các hộ nông dân nghèo, những người đang muốn dịch chuyển từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang định hướng thị trường, nông nghiệp thương mại giá trị cao.

Đi tìm lời giải cho vấn đề này, trải nghiệm qua thực tiển nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế chúng tôi thấy rằng loại hình ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao trong canh tác hữu cơ nhưng với chi phí thấp là một lối thoát cho nông dân nghèo ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng. Người nông dân khi được chuyển giao công nghệ này sẽ có khả năng tham gia bảo đảm an ninh lương thực ở nông hộ một cách bền vững.

hueỞ Thừa Thiên Huế trong 5 năm trở lại đây, tính từ 2008, nhiều nỗ lực nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao chi phí thấp trong canh tác hữu cơ đã được triển khai, trong khuôn khổ hợp tác giữa Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Nông Công Nghệ Tokyo, Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển Nông Nghiệp Huế đã chuyển giao đến nhiều bà con nông dân ở các đơn vị, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở các huyện như Phú lộc, Quảng Điền, Hương Thủy, Phú Vang và Thành phố Huế. Trong đó nhấn mạnh đến việc ứng dụng đa mục đích của than, giấm gỗ, kỹ thuật chế biến phân hữu cơ Bokashi-than, phân hữu cơ sinh học- sử dụng các vi sinh vật hữu hiệu bản địa, kỹ thuật canh tác hữu cơ, kỹ thuật thu hoạch bảo quản tươi, khô, bảo quản kín.v.v., đã tỏ ra có hiệu quả. Nhiều mô hình đã được nhân rộng, không chỉ trong phạm vi của tỉnh mà còn ở các tỉnh bạn như Quảng Nam, Quảng Trị và đã lan sang cả nước bạn Cambodia với mô hình 100 hecta rau hữu cơ tại tỉnh Siem Reap trong khuôn khổ hợp tác chia sẽ công nghệ vơi tổ chức APSARA, tài trợ bởi Tổng công ty Sai gon Co. và chuyên gia tư vấn từ Đại học Nông Lâm Huế.

Kết quả nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Các mô hình canh tác hữu cơ các loại cây trồng như: lúa; ngô; rau các loại; đậu các loại; cây gia vị; gừng; nấm rơm v.v. đã mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho bà con nông dân một cách rõ rệt. Bên cạnh đó cũng chú trọng đến việc tiến hành nhập nội các loại giống cây trồng mới, tuyển chọn và giới thiệu các giống cây trồng có giá trị cao vào sản xuất, kết quả đã chọn tạo được các dòng lúa Japonica có triển vọng nhập nội từ Nhật Bản, trong đó điển hình như dòng H1 (tên đầy đủ là Huế số 1), hiện đang được đăng ký khảo nghiệm để được công nhận giống ở khu vực miền Trung và Tây nguyên.  Qua gần hơn 5 năm nghiên cứu kết quả cho thấy H1 có năng suất khá cao, chất lượng tốt, hàm lượng protein trồng vụ Hè Thu 8,5%, hàm lượng lipit 5%, ăn ngon, thơm, dẻo, không cứng khi nguội, rất phù hợp để tạo ra sản phẩm gạo lức hữu cơ, gạo GABA – “gạo thực phẩm chức năng”. Dòng lúa H1 trồng được cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, thời gian sinh trưởng ngắn chỉ từ 75 đến 80 ngày trồng vụ Hè Thu và 95 đến 105 ngày trồng vụ Đông Xuân, có nhiều ưu điểm: cứng cây, không rụng hạt, ít bị sâu bệnh, chịu nóng và  chịu rét tốt (Đặc biệt, vụ Đông Xuân năm 2010-1011 là vụ rét đậm, hàng ngàn hecta mạ và lúa ở Thừa Thiên Huế bị chết hoặc ảnh hưởng bởi rét, lúa trổ chậm gần 1 tháng nhưng lúa H1 mạ vẫn xanh tốt, bộ rễ trắng tinh, lúa trổ bình thường, năng suất ở nhiều điểm đạt trên 7 tấn/ha. Hiệu quả sản xuất lúa H1 ở nhiều mô hình  đều cho thấy rất cao giá bán gấp 3 đến 5 lần so với giống lúa thường tại địa phương, hiện nay H1 đang được bà con nông dân ở các HTX như: Phú Thanh thuộc huyện Quảng Điền, Thủy Thanh, Thủy Vân và Thủy Dương thuộc huyện Hương Thủy gieo cấy theo phương thức canh tác lúa hữu cơ và bán hữu cơ.

Việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ còn phát triển các loại cây trồng khác như dưa chuột, cà chua, cà dê, ớt, rau xanh, rau muống, hành, tỏi, gừng, bầu bí, mướp, bí ngô… tất cả các loại cây nói trên đều được trồng bằng công nghệ hữu cơ không sử dụng hóa chất  tổng hợp như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu hóa học, thuốc trừ cỏ, không sử dụng chất kích thích sinh trưởng và không sử dụng giống biến đổi gen. Chương trình còn giới thiệu các phương pháp khai thác sử dụng nước sạch cho canh tác rau, và hướng dẫn nông dân chế biến phân hữu cơ sinh học nhằm tăng năng suất, sản lượng cây trồng, phòng trừ các vi sinh vật gây bệnh cây trồng có nguồn gốc từ đất và nhất là làm gia tăng độ phì nhiêu của đất.  Kết quả đầu ra của các mô hình nói trên cao hơn gấp 2 đến 3 lần thậm chí có mô hình tăng gấp 5 đến 7 lần so với phương thức canh tác mà nông dân đang áp dụng hiện hành, có thể lấy ví dụ: gạo lứt hữu cơ H1 đã được thị trường địa phương chấp nhận với giá 50.000 đồng/ kg, trong khi đó các giống lúa thông thường tại địa phương giá bán chỉ từ 8.000 đến 10000 đồng/kg.

Tóm lại những kết quả nêu trên đã tác động rất lớn đến bà con nông dân, góp phần làm thay đổi nhận thức và họ đã chủ động thay đổi tập quán canh tác cũ sang áp dụng kỹ thuật công nghệ mới.

Nhân tố quyết định sự thành công của việc áp dụng kỹ thuật canh tác hữu cơ chi phí thấp đó là hiệu quả sản xuất cao, khi thực hành áp dụng người nông dân không phải tốn quá nhiều chi phí đầu vào  mà họ còn chủ động biết cách tự tạo ra phân bón hữu cơ sinh học, chủ động phòng trừ cỏ dại không dùng hóa chất, bảo vệ cây trồng bằng biện pháp sinh học.v.v, việc sử dụng  phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại có nguồn gốc hóa học đã được giảm tối đa và có xu hường loại trừ hẳn ở một số địa phương, điển hình như ở thôn Khe Su, thuộc xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, các nông hộ tham gia xây dựng các mô hình ở đây đã đoạn tuyệt với thói quen sử dụng hóa chất trong canh tác. Bản thân các biện pháp kỹ thuật, công nghệ được ứng dụng là sự tích hợp các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến được chia sẽ và cung cấp bởi các nhà khoa học nông nghiệp Nhật Bản, kết hợp với sự nghiên cứu điều chỉnh phù hợp với điều kiện địa phương bởi các nhà khoa học Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như chế tạo phân bón hữu cơ sinh học, công nghệ chế biến và ứng dụng đa mục đích của than và giấm gỗ, ứng dụng chiết xuất thảo mộc và chế phẩm sinh học trong phòng và trừ dịch bệnh hại cây trồng, phòng trừ cỏ dại không dùng hóa chất..vv.  mặt khác các công nghệ và thực hành được phát triển trên cơ sở có sự tuyển chọn và giới thiệu các loại cây trồng có giá trị cao cho nông dân  đã tạo nên động lực thúc đẩy bà con mạnh dạn thay đổi sang phương thức cánh tác mới , sạch hơn và hiệu quả hơn những thành công nói trên không chỉ tập trung ở những vùng sản xuất thuận lợi có điều kiện thâm canh mà còn thành công ở những vùng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn như trên các vùng đồi trơ sỏi đá, vùng đất cát ven đầm phá, vùng trũng thường xuyên bị ngập lụt.

Để bảo đảm an ninh lương thực nông hộ và phát triển bền vững thì vấn đề không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất trên đồng ruộng, các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao còn hướng đến hỗ trợ nông dân kỹ thuật thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch với chi phí thấp, nhằm  bảo đảm chất lượng nông sản, gia tăng thời gian bảo quản, tăng giá trị hàng hóa nông sản.

Tuy nhiên các kết quả đạt được từ các mô hình canh tác hữu cơ chi phí thấp ở Thừa Thiên Huế mới chỉ ở quy mô nhỏ. Để cho các thành quả đạt được có thể phát triển rộng khắp góp phần vào việc cải thiện đời sồng nông thôn, bảo tồn thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực và phát triển bền vững cho một vùng đất đầy tiềm năng như Thừa Thiên Huế thì, vấn đề là cần phải nghiên cứu thiết lập các chuổi giá trị, cần có sự liên kết và tham gia của các nhà khoa học, nhà nông, các nhà hoạch định chính sách và quản lý ở các cấp và các nhà doanh nghiệp nhằm để phát triển thị trường một cách hiệu quả. Nếu chúng ta làm được như vậy thì nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo,mới thực sự có năng lực bảo đảm an ninh lương thực cho chính họ, cho cộng đồng nông thôn, cho quốc gia và cho xuất khẩumột cách bền vững.

TS Lê Đình Hường, Đại Học Nông Lâm Huế, 102 Phùng Hưng Thành phố Huế

E-Mail: huong.ledinh@gmail.com

Tài liệu tham khảo

 

[1].  John Ingram, A food systems approach to researching food security and its interactions with global environmental change, Food Security, December 2011, Volume 3, Issue 4, pp 417-431

[2]. An ning lương thực là gì, Hội nghị hàng năm lần thứ 33 – Liên đoàn các hiệp hội khoa học kinh tế ASEAN, http://blogv.p-gis.com/2011/04/ninh-luong-thuc.html

[3]. Ánh Hồng, Diện tích đất canh tác của VN vào loại thấp nhất thế giới, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Dien-tich-dat-canh-tac-cua-VN-vao-loai-thap-nhat-the-gioi/65093271/157/

[4]. Hữu Hoài, Duy trì hợp lý diện tích đất trồng lúa: Yếu tố sống còn bảo đảm an ninh lương thực, http://baoangiang.com.vn/newsdetails/1D3FE18916F/

[5]. Minh Thùy, Dân số Việt Nam quá đông tạo nhiều sức ép xã hội,http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/dan-so-viet-nam-qua-dong-tao-nhieu-suc-ep-xa-hoi-2277412.html

[6]. Nguyễn Lân Dũng, Những vấn đề cấp bách đối với Nông Nghiệp nước ta, http://niemtin.free.fr/capbachnongnghiep.htm

[7]. Nguyễn Thế Huệ, Quan hệ giữa dân số với vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trung tâm KHXH và NVQG

[8]. Hội nghị chủ đề Rủi ro trong ngành lúa gạo ở châu Á , Cần đầu tư cho người nông dân để bảo đảm an ninh lương thực,  Diễn đàn quản lý rủi ro phát triển nông nghiệp (FARMD) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức.

 

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s