GS Tôn thất Trình – Lạm bàn về phát triễn mới ở tỉnh Lai Châu

laichau              Lai Châu là một tỉnh mới, chỉ bằng  phân nữa tỉnh Lai Châu cũ diện tích 16 919km2 , khi chia đôi làm thành tỉnh Lai Châu mới và tỉnh Điện Biên vào năm 2004.  Diện tích Lai Châu ( mới )  nay chỉ còn 9 059.4 km2 ( 3 497.9 dặm Anh vuông ). Lai Châu cũng không còn huyện cực tây nhất nước nhà, nay là huyện Mường Nhé ( Nhié ?  ) với làng cực tây A Pa Chải thuộc tỉnh Điện Biên. Tọa độ tỉnh này là 2200’  vĩ tuyến Bắc và 1030 kinh tuyến Đông. Lai Châu có một thị trấn tỉnh lỵ là thị xã Lai Châu  và  5 huyện : Mường Tè( thị trấn là Mường Tè), Phong Thổ ( thị trấn là Phong Thổ), Sìn Hồ (thị trấn là  Nậm Hàng), Tam Đường ( thị trấn là Tam Đường ) , Than Uyên và Tân Uyên ( năm 2008 huyện Than Uyên chia ra thành hai huyện là Than Uyên ( thị trấn làThan Uyên)  và Tân Uyên

* * *

                                                                                      .. Tây tiến đòan binh không mọc tóc

                                                                                           Quân xanh màu lá  dữ oai hùm

                                                                                           Mắt trừng gởi mộng qua biên giới

                                                                                           Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm .

                                                                                           Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                                                                           Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh .

                                                                                           Áo bào thay chiếu anh về đất,

                                                                                           Sông Mã gầm lên tiếng độc hành…

( Tây Tiến– Quang Dũng, 1918- 1988 )

Vị trí, diện tích , dân số, đơn vị,  hành chánh, thành phần các tộc dân…

Lai Châu là một tỉnh mới, chỉ bằng  phân nữa tỉnh Lai Châu cũ diện tích 16 919km2 , khi chia đôi làm thành tỉnh Lai Châu mới và tỉnh Điện Biên vào năm 2004.  Diện tích Lai Châu ( mới )  nay chỉ còn 9 059.4 km2 ( 3 497.9 dặm Anh vuông ). Lai Châu cũng không còn huyện cực tây nhất nước nhà, nay là huyện Mường Nhé ( Nhié ?  ) với làng cực tây A Pa Chải thuộc tỉnh Điện Biên. Tọa độ tỉnh này là 2200’  vĩ tuyến Bắc và 1030 kinh tuyến Đông. Lai Châu có một thị trấn tỉnh lỵ là thị xã Lai Châu  và  5 huyện : Mường Tè( thị trấn là Mường Tè), Phong Thổ ( thị trấn là Phong Thổ), Sìn Hồ (thị trấn là  Nậm Hàng), Tam Đường ( thị trấn là Tam Đường ) , Than Uyên và Tân Uyên ( năm 2008 huyện Than Uyên chia ra thành hai huyện là Than Uyên ( thị trấn làThan Uyên)  và Tân Uyên( thị trấn là Mường Kim ?). Huyện Than Uyên nguyên thuộc tỉnh Hòang Liên Sơn  gồm 3 tỉnh là Lào Cai , Yên Bái và Nghĩa Lộ .Than Uyên là một huyện tỉnh Nghĩa Lộ  một tỉnh thành lập  tỉnh  cuối năm 1962 , sau đó là một huyện tỉnh Lào Cai cho đến tháng 10 năm 1991 . Khi thành lập tỉnh Lai Châu mới ngày 01/01/2004 , Than Uyên tách ra khỏi tỉnh Lào Cai và trở thành một huyện tỉnh Lai Châu mới. Từ tháng 05/ 2008, Than Uyên lại tách ra thành hai huyện là Than Uyên và Tân Uyên, phía Bắc tỉnh Lai Châu là huyện Than Uyên, phía Nam tỉnh là huyện Tân Uyên   ).  Dân số năm 2007 là  330 500 nguời và năm 2010 là  382 400  người.  Nay có lẽ đã trên 400 000 người, vì mỗi năm dân số Lai Châu tăng lên trên 10 000 người.

Lai Châu gồm 23 tộc dân. Đông Nhất là  Thái Trắng năm 2000 chiếm khỏang 36 % dân số tỉnh , rồi đến Mèo – Hmong( 25 %)  và Kinh ( 19.5 %)  . tiếp theo là  Dao ( Mán ),  Khơ –Mú , Hà Nhì , La Hủ , Giáy , Lào , Lự, Mảng , Phù Lá, Kháng, Tày , Cống , Nùng , Si La , Mường , La Hủ và Lô Lô,   cùng môt số tộc dân thiểu số ít người khác.  Tiếng nói các tộc dân Lai Châu gồm các ngôn ngữ Hmong -Miến dân Hmông – Mèo nói , các ngôn ngữ Kra tộc dân Than Uyên nói , ngôn ngữ Miến Tạng – Tibeto Burman   các tộc dân Si La, Cống, La Hủ vùng Mường Tè,  và Hà Nhì Mường Tè- Phong Thổ nói, cùng các ngôn ngữ  Nam Á – Austroasiatic , tộc dân Kháng vùng Mường Tè, Phong Thổ, Than Uyên nói. Nhắc lại là tộc dân Thái thuộc họ ngôn ngữ Nam Á , nhóm Tày – Thái hiện có đến 2.5 triệu người ở Việt Nam gồm luôn cả tộc dân Tày đông nhất ở tỉnh Cao Bằng , tộc dân Thái đông nhất ở tỉnh Sơn La  và Nùng đông nhất ở tỉnh Lạng Sơn, Sán Chay đông nhất ở tỉnh Hà Tuyên ( nay là Hà Giang và Tuyên Quang )  và các tộc dân ít người là Giáy,  Lào, Lự . Còn tộc dân H’Mông ( đừng lầm với tộc dân M’Nông ở các tỉnh Tây Nguyên ) hay Mèo  cũng thuộc họ ngôn ngữ Nam Á và làm ra nhóm H’Mông – Dao ( Mán ) có đến 800 000 người ở nước nhà.  Tộc dân M’Nông  cũng ở họ Nam Á ,  nhưng thuộc nhóm Môn – Khmer ( Khơ Me ) , đông đến trên 1300 0000 người; ở miền Bắc Việt Nam là các tộc dân ít người Lai Châu như Mảng , Kháng .  Nhóm Thái Việt Nam chia ra làm ba :  Thái trắng ở Lai Châu   và ở huyện  Quỳnh Nhai – Sơn La, Thái đen  cư trú khắp tỉnh Sơn La, Thái đỏ   tập trung ở hai huyện Mộc Châu và Yên Châu tỉnh Sơn La .  Khác biệt giữa các nhóm Thái  là ở trang phục phụ nữ  và kiểu cách dựng mái nhà sàn.  Vạt thân trên đến tận eo áo phụ nữ Thái trắng màu trắng . Còn áo phụ nữ Thái đen  màu đen hay màu xanh dương đậm, thắt lưng và  khăn đội đầu cũng màu này. Nghệ thuật làm khèn bè ( khèn là bộ nhạc cụ thuộc bộ hơi , cấu trúc khá phức tạp , gồm nhiều ống trúc xếp cạnh nhau , hình bắp chuối làm hộp cộng hưởng ) là lọai khèn Thái  có 12 -14 ống bó thành hai hàng ( trong khi khèn H’Mông -Mèo chỉ có 6 ống) và trồng cánh kiến đỏ đã nổi tiếng vượt ra ngòai phạm vi tỉnh Sơn La.

Lai Châu cũ, trước năm 2004 (Điện Biên và Lai Châu mới ) là một tỉnh  miền núi Tây Bắc xa nhất phía tây bắc nước ta. Vùng Tây Bắc nước nhà gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình.  Phía bắc, Lai Châu cũ giáp với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc . Phía đông và đông nam  giáp các tỉnh Lào Cai , Sơn La , phía tây và nam giáp nước  Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào . Tỉnh Lai Châu mới không còn giáp  nước Lào nữa, vì huyện Mường Nhé )  có làng cực tây nhất nước nhà là A Pa Chải, gần biên  giới ba nước ( Lào , Việt và Trung Quốc ) nhất,  nay thuộc tỉnh Điên Biên . Miền tây nam và miền nam  tỉnh, nay giáp phần lớn tỉnh Điện Biên. Thị xã Lai Châu,  dân số 55 000 người năm 2010, cách thủ đô Hà Nội 402 km về phía Tây Bắc. Giao thông trong tỉnh chánh yếu là đường bộ vì Lai Châu không có sân bay, không có cảng sông . Quốc lộ số 12  nối thị xã Điện Biên Phủ  qua cửa khẩu biên giới Mã Lù Thàng  ngang qua Lai Châu và quốc lộ số 4D nối  thị xã Lai Châu  với thị trấn Sa Pa. Trạm xe bút liên  tỉnh chỉ cách  trung tâm thị xã Lai Châu chừng1 km phía trái đường bộ dẫn đến Sa Pa,  chở búyt đến nhiều nơi như Điện Biên Phủ, Hà Nội, Lào Cai, Mường Tè, Sìn Hồ …Chuyến búyt dân chúng hay đi nhất chở đến Lào Cai và ngừng ở Sa Pa. Từ Hà Nội cũng có thể lấy xe búyt đi Lào Cai ở các trạm Giáp Bật và Mỹ Đình.  Du khách thường đến Lai Châu bằng xe mô tô – xe gắn máy, tuy rằng đây là một thách thức lớn và một thú vui  thưởng lãm. Vì dọc đường  du khách có thể ngắm nhìn những cảnh quan đẹp đẻ và kỳ diệu và có thể ngừng  bất cứ lúc nào.

Suôi dòng thời gian

…  Trên Tây Bắc, ôi mười năm Tây Bắc !

                                                                                   Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng

                                                                                    Nơi máu nhỏ tâm hồn ta thấm đất

                                                                                    Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân …

                                                                             …   Anh nắm tay em, cuối mùa chiến dịch

                                                                                    Vắt xôi nuôi quân  em giấu giữa rừng,

                                                                                    Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

                                                                                    Bửa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương …

( Tiếng Hát Con Tàu, Chế Lan Viên 1920 – 1989 )

Khởi  nguyên văn minh Lai Châu có thể là  văn hóa Sơn Vi , cư dân sống trong các hang động đá vôi hay trên các gò đồi.  Công cụ  văn hóa Sơn Vi được chế tác từ đá cuội,  đá quarzit,  tuổi trên  20 000 năm đến 11 000 năm trước Công Nguyên – BC. Thành tựu  đáng kể nhất của các nhà khảo cổ người Pháp ở Việt Nam là đã phát hiện ra văn hóa Hòa Bình -Bắc Sơn vào những năm 1920 của thế kỷ thứ 20, tiếp tục trực tiếp văn hóa Sơn Vi . Như chúng ta đã biết qua,  con người cỗ Hòa Bình – Bắc Sơn ,  đã giã từ từng bước sinh sống bằng hái lượm, săn bắn qua  cuộc sống sản xuất nông nghiệp sớm nhất của nhân lọai, với những  công cụ được mài lưỡi; về sau nữa  là đồ gốm ra đời .  Từ năm 1960 đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện hàng trăm di tích, từ sơ kỳ thời đại đồng thau  đến thời đại sắt sớm trên lưu vực sông Hồng, thượng nguồn Hòang Liên Sơn( bao gồm cả tỉnh Lai Châu ) đến đồng bằng ven biển và  lưu vực sông Mã . Hệ thống các di tích này có sự diễn biến  liên tục từ giai đọan Phùng Nguyên mở đầu qua giai đọan  Đồng Dậu, Gò Mun đến đỉnh cao Đông Sơn,  đã được  một số nhà khảo cỗ học  gọi là văn minh Sông Hồng, văn minh của người Việt cỗ . Rồi dẫn đến cách đây 4000 năm  hình thành nhà nước đầu tiên của  Việt Nam  là  nước Văn Lang của các vua Hùng ở miền Bắc.

Tỉnh Lai Châu nguyên là một tập hợp  tự trị của tộc dân Thái trắng có tên là Sipsongchuthai. Sipsong là từ phát nguyên giọng Hán Việt thổ âm  là Thập- Mười và, Song- Một cặp Một đôi. Đọc theo tiếng Anh là “  Twelve Thái  Chiefdom- Mười hai Đầu mục, Thủ lảnh”. Chủ ( Chu,Châu ) có nghĩa theo  Hán Việt là Chủ – Master , phát âm theo  ngôn ngữ Thái là Lu .  Thập niên 1880(s ),  Pháp nhập Sipsongchuthai vào  Đông Pháp- French Indochina  và sau đó trở thành  một thành phần nước Việt Nam.  Những tộc dân Thái,  nguyên quán từ vùng cao  Dương tử – Yangzi ( ? )  tràn xuống tận châu thổ sông Menam và thung lũng sông Brahmapoutre  đến Biển Đông.  Trong khi tộc dân Kinh -Việt chiếm cứ châu thổ và các vùng bờ biển, các tộc dân Thái tiến chiếm các thung lũng  hậu phương,  đằng sau bán đảo Đông Dương.  Vương quốc Xiêm – Tiêm La  lớn mạnh ở miền trung bán đảo, lưu vực sông Menam.Ở miền Đông bán đảo , tộc dân Lào  xuôi dòng thung lũng sông Cửu Long, nhưng sau khi thống nhất một thời gian ngắn ngủi thành Lan Thương (?tên Hán Việt của Cửu Long ) –Lan Xang, phân chia ra thành 3 tiểu quốc  cạnh tranh nhau là vuơng quốc Lảo Qua – Luang Prabang , ở miền Bắc Lào, Viên Chăng – ( Vạn Tượng ) Vientiane ở miền Trung và Champassak ở miền Nam.   Thật ra theo Hồ Bạch Thảo, năm 1040 vua Lý Thái Tông đã  sai Phùng Trí Năng đi bình định vùng này và tiến thêm đánh  chiếm Ai Lao. Thời Trần Anh Tông (1301)  quân Ai Lao sang cướp phá miệt  sông Đà ( Đà Giang), tướng Phạm ngũ Lảo  giao chiến  bắt được nhiều giặc ở Mường Mai  , huyện Mai Châu , tỉnh Hòa Bình ngày nay . Năm 1479,  đời vua Lê Thánh Tông ,quân ta đánh Ai lao  đến tận vùng  “Tam giác Vàng ( thuốc phiện)”tỉnh Chiang Rai – Thái Lan, sông Trường Sa – Miến Điện ( vùng tộc dân Shan, Miến Điện ) và vương quốc Bắc  Lào  Lảo Qua – Luang Prabang .    Vụ đánh chiếm này bị  vua nhà Minh đưa văn sắc sang phản đối,  nhưng thời  vua  Lê Thánh Tông nước nhà cường thịnh , nhà Minh phải bỏ qua  chống chế của Vua Lê  rằng tổng binh và trấn thủ Vân Nam  báo tin sai.  Năm  1827 , nước Nam Chướng thông đồng với Tiêm La , thường  sang quấy nhiễu  đất Trấn Ninh. Tù trưởng Chiêu Nội xin đem đất  Trấn Ninh nội thuộc  Việt Nam . Vua Minh Mạng  phong cho Chiêu Nội làm  Trấn Ninh Phòng Ngự Sử.   Các đất Tam Động  và Lạc Phàn (  trước thuộc về Vạn Tượng ) Triều đình nhà Nguyễn Phước  chia những đất này ra làm 2 phủ : Trấn Tĩnh và  Lạc Biên .   Năm đó , các xứ Xà Hổ, Sầm Tộ, Mường Sọan , Mang Lan , Trinh Cố, Sầm Nưa , Mường Duy , Ngọc Ma  đều xin nội thuộc . Vua chia đất này ra làm  3 phủ :  Trấn Biên, Trấn  Định , Trấn Man . Thị xã Lai Châu nhỏ nhắn nằm ở ngã ba , nơi hội lưu của Ngòi Nậm Na với Sông Đà, trên một thung lũng dài ba mặt là núi , trên vách núi bên bờ sông Đà còn một bia đá từ năm 1432 ghi lại dấu tích của Lê Lợi trên đường đánh giặc.   Đời vua Lê Thánh Tông,  chúng ta vẫn còn giữ vững vùng này.  Khi  Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê năm 1527, An Thành Hầu  Nguyễn Kim đưa con em tránh sang Ai Lao, được vua  Ai Lao Sạ Đẩu   cho ở  Sầm Châu ( vùng Sầm Nưa, nay thuộc tỉnh Hứa Phan –Lào) và có lẽ thế lực tràn đến tỉnh Sơn La , Lai Châu và luôn cả tỉnh PhongSaLi – Lào ngày nay.

Người Thái gọi Điện Biên Phủ nguyên thuộc tỉnh Lai Châu cũ là Mường Then hay Mường Thanh , theo tiếng địa phương là Mường Trời . Nhiều tên đất đai  Điện Biên mang dấu vết thần thọai,  tộc dân Thái xem là tổ tiên Người Khổng lồ – Ải Lậc Cậc do Then ( Trời ) sai xuống Mường Thanh cứu vớt dân lành, sau nạn hồng thủy. Di tích lều nghỉ của Ải nay  là xã Đòan Kết. Dấu chân Ải quả mạ nay là cánh đồng Mường Thanh.  Vùng Ải đánh vãi than nay là núi Pú Thán, xã Mường Phăng . Trên đường đi đến của khẩu Tây Trang( thuộc tỉnh Điện Biên ) ở biên giới Lào – Việt, ngay giữa hồ Uva  còn di tích câu chuyện những khóm “Khau cút”vươn dài sợi dây làm thang nối liền trời và đất. Hơn hai trăm năm trước (1750?) ,  tướng giặc Phẻ ( Phạ, Trời ) là Tín Tòng khét tiếng tàn ác , từ phía tây tràn sang chiếm đóng Điện Biên. Tín Tòng tự xưng là  Chẩu Phạ (chúa Trời)  vơ vét , đàn áp dân lành , bắt trẽ con  quăng vào vũng bùn, tháo nước cho ngập chết . Nước cạn  xương phơi trắng cánh đồng nay gọi là Tồng Khao, có nghĩa là đồng trắng .  Dân chúng phải dời qua cánh đồng Hồng Cúm  phải vứt bỏ   các “ cúm “ ( các hòm đựng  đồ vật , của cải đan bằng tre mây)  quá nặng  để lo thóat thân . Từ đấy  cánh đồng này  được gọi là  Hồng Cúm – khe Cúm . Thời đó có  hai người dân thường ở Điện Biên tên là Ngãi  và Khanh không chịu sống nhục,  đứng lên hô hào trai tráng các bản Thái , Xá , Lào mài gươm , gia nhập   nghĩa quân Hòang Công Chất, và được  phái đi tiến công  giặc Phẻ Tín Tòng ở địa điểm trên đồi   Pú Vằng . Nghĩa quân  Hòang Công Chất là cuộc khởi nghĩa nông dân  các năm 1739- 1769 . Thời này ở xứ Đàng Trong là thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ( 1738- 1765 ) còn ở Bắc Hà – xứ Đàng Ngòai là thời Minh Đô Vương Trịnh Doanh, mất năm 1767 , con là  Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm  nối vị. Năm 1754,  nghĩa quân Hòang Công Chất đại thắng giặc Phẻ  chiếm thành Sam Mứn ( Thành Tam Vạn )  ở phía bắc Mường Thanh . Thành Sam Mứn   do người Lự đắp từ thế kỷ thứ 13 có thể chứa 30 000 gia đình bao gồm nhiều xã hiện nay mà trung tâm là  xã Sam Mứn. Thành nằm sát ba ngọn núi Nàng Nòn – Nàng Ngủ,  Tạo Nòn- Tạo Ngủ và Pú  Huồi Chọn- Suối Chọn, bên cạnh hồ U Va.   Hòang Công Chất mở rộng   hệ thống  thành lũy này ra tận   bản Phủ nay  gọi là  thành Chiềng Lê , nay còn di tích  ở xã Nong Hẹt.

Năm 1870, Đèo văn Trị thủ lảnh  của SipsongchuThai   cùng “ Giặc Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc” ( là Lưu Nghĩa bộ hạ của Ngô Côn, Thái Bình Thiên Quốc )   chống lại thực dân Pháp xâm lăng, đặc biệt ở huyện Than Uyên , nguyên là  một châu ( huyện ít dân )  thuộc tỉnh Hưng Hóa ( ? )  do triều đình  vua Tự Đức thiết lập. Ngày 20 tháng 11 năm 1886 , dân quân  nổi dậy  tấn công mảnh liệt quân xâm lăng Pháp tại  Cơ Mương Lay, nay thuộc tỉnh Điện Biên. Và Pháp thuộc địa  phải chấp nhận vùng tự trị Thái( ? )  ở Lai Châu – Điện Biên.  Năm 1909 , Pháp thành lập tỉnh Lai Châu , lúc đó gồm Châu Lai , châu Quỳnh Nhai( nay  thuộc tỉnh Sơn La )  và châu Điện Biên.  Ngày 20 /02/1920    Pháp    nhập Than Uyên vào tỉnh Yên Bái.  Bản Nà  – Mường Kim, huyện Than Uyên là một căn cứ quan trọng du kích  kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lăng  Việt Nam  sau 1945 , từ năm 1950 đến năm 1951 và Than Uyên được giải phóng ngày 15/10/ 1952 . Mường Kim cũng là   nơi Việt Minh  thiết lập  đầu tiên đảng tỉnh Lai Châu  ngày nay . Năm 1954,  rừng núi  Điện Biên Phủ , nguyên thuộc Lai Châu cũ,  đã ghi lại một chiến công  hiển hách thắng thực dân Pháp , nhưng  vì đã có nhiều người đề cập rồi , nên chúng tôi không nhắc tới ở  đây nữa.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s