TS Hà Hưng Quốc – ĐỂ LÀM SÁNG TỎ MỘT SỰ THẬT ĐÃ BỊ KHUẤT LẤP THEO THỜI GIAN: DỊCH LÀ VIỆT & DỊCH LÀ CỦA VIỆT

image017Chữ DỊCH được người Hoa ngày hôm nay viết là 易.  Để hiểu chữ này một cách tường tận, chúng ta cần lội ngược về nguồn khám phá ra sự thật đã khuất lấp theo thời gian.

Trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu về chữ TRỜI.  Chữ TRỜI (mặt trời) đã có từ rất lâu.  Những phát hiện chữ viết trên mai rùa và xương thú, gọi là Giáp Cốt Văn 甲骨文, cho thấy chữ TRỜI được viết như những hình khắc bên dưới, xem H1.  Người ta kết tập được ít nhất cũng khoảng 231 chữ TRỜI và những hình khắc trong H1 chỉ là một mớ trong số đó.  Giáp Cốt Văn đã hoàn chỉnh vào thời Vũ Đinh (1250 TCN -1192 TCN) và được coi là loại chữ xưa nhất.[1]

image001

Kim Văn kế thừa Giáp Cốt Văn.  Kim Văn 金文 hay Cát Kim Văn Tự còn gọi là Minh Văn 铭文 hay Chung Đỉnh Văn 钟鼎文 là loại văn tự được khắc hoặc đúc trên đồ đồng, xuất hiện vào thời Thương và trở thành loại văn tự chủ đạo của thời Chu và kéo dài tới Tần Hán.  H2 cho thấy một số chữ TRỜI Kim Văn.

image002

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, với chính sách thống nhất văn tự và đơn vị đo lường “thư đồng văn, xa đồng quỹ 书同文 车同轨” (sách viết cùng loại chữ, xe có cùng cỡ trục) thì loại chữ Tiểu Triện 小篆, còn gọi là Tần Triện 秦篆, đã được Thừa Tướng Lý Tư phụ trách đưa vào sử dụng trong các văn bản chính thức.  Tiểu Triện Văn được kiến tạo trên cơ sở chữ Đại Triện 大篆 của thời Tần qua tiến trình giản hóa và chọn lọc từ chữ viết của sáu nước lúc đó.[2]  H3 cho thấy một số chữ TRỜI Triện Văn.

image003

Và cuối cùng thì chữ TRỜI từ  image004được “vuông hóa” thành chữ 日 người Hoa vẫn đang sử dụng ngày hôm nay.  Từ Giáp Cốt Văn tới chữ vuông ngày nay là một hành trình dài hơn 3200 năm.[3]

Chữ 日 Hán Việt đọc là NHẬT.  Chữ 日 Bắc Kinh đọc là RỨƠ.  Chữ 日 Nôm Việt Cổ đọc là RỰC/RỎ và DIỆT.  Chữ 日 Triều Châu (Mân Việt) đọc là DIỀT.  DIỆT cũng là DIỀT do phát âm nặng nhẹ mà thành.  Âm RỨƠ là biến âm của chữ RỰC/RỎ của Nôm Việt Cổ.  “Diềt hay là Rực là Nôm ngày xưa của Bách Việt, và chỉ có người Việt có phát âm Diềt nầy”.  Âm DIỀT hay âm DIỆT cũng chính là âm VIỆT chữ quốc ngữ của người Việt chúng ta. “Tiếng Mân Việt – Việt Triều Châu là một phương ngữ rất xưa, được nhìn nhận bởi nhiều chứng minh là có cỡ ít nhất là 7000 năm lịch sử, xưa hơn âm Hán Việt thời nhà Hán hay nhà Đường . . . rất nhiều.  Chữ Nôm với âm Nôm có trước là Diềt日 chứ không phải là âm Nhật日 của Hán Việt có trước.”  (Nguồn: Chữ Nôm Cổ Xưa Và Ý Nghĩa Của Việt của tác giả Đỗ Thành).

Chữ thứ hai chúng ta cần xét tới là chữ TRĂNG.  Chữ TRĂNG (mặt trăng) cũng đã có từ rất lâu.  Những phát hiện chữ viết trên mai rùa và xương thú cho thấy chữ TRĂNG được viết như những hình khắc bên dưới, xem H4, và người ta đã kết tập được ít nhất là 74 chữ TRĂNG.

image005

Kim Văn kế thừa Giáp Cốt Văn và sau đó là Triện Văn, nên chữ TRĂNG  cũng biến đổi theo.  H5 cho thấy một số chữ TRĂNG Kim Văn và H6 cho thấy một số chữ TRĂNG Triện Văn.

image006

image007

Và cuối cùng thì chữ TRĂNG từ image008 được vuông hóa thành chữ 月người Hoa vẫn đang sử dụng ngày hôm nay.

Chữ 月 Hán Việt đọc là NGUYỆT.  Chữ 月 Bắc Kinh đọc là DUÊ.  Chữ 月 Quảng Đông đọc là DUYỆT.  “Tiếng Quảng Đông ngày nay vẫn đọc Nguyệt月 là Duyệt月 y như phát âm của chữ Việt粵 và Việt越. Tiếng [Hán] Việt ngày nay đọc là Nguyệt月 rất gần với âm Việt/Duyệt月. Tiếng ‘Nam Việt – Việt Quảng Đông’ cũng là phương ngữ xưa, xưa hơn âm Hán hay Đường . . rất nhiều… Chữ Nôm với âm Nôm là Duyệt月 có trước, chứ không phải là âm Nguyệt月 của Hán Việt có trước.”  (Nguồn: Chữ Nôm Cổ Xưa Và Ý Nghĩa Của Việt của tác giả Đỗ Thành).

Chữ thứ ba chúng ta cần tìm hiểu là chữ DỊCH.  Chữ DỊCH cũng đã có từ rất lâu.  Những phát hiện chữ viết trên mai rùa và xương thú cho thấy chữ DỊCH được viết như những hình khắc bên dưới, xem H7.  Người ta kết tập được ít nhất cũng khoảng 73 chữ DỊCH và những hình khắc trong H7 chỉ là một mớ trong số đó.

image009

Sau Giáp Cốt Văn là Kim Văn và Triện Văn.  H8 cho thấy một số chữ DỊCH Kim Văn và H9 cho thấy một số chữ DỊCH Triện Văn.

image010

image011

Và cuối cùng thì chữ DỊCH từ  image012 được “vuông hóa” thành chữ 易 người Hoa vẫn đang sử dụng ngày hôm nay.

Chữ 易 Hán Việt đọc là DỊCH. Chữ 易 Bắc Kinh đọc là YI.  Chữ 易 Triều Châu đọc là ÉCK.  Chữ 易 Quảng Đông đọc là DIỀT và DIỆK.  Chữ 易 Nôm Cổ Việt đọc là DIỀT và DIỆK.  DIỀT và DIỆK là do phát âm nặng nhẹ mà thành, cận âm với chữ Việt quốc ngữ của chúng ta ngày nay. “Tiếng Quảng Đông đọc chữ Việt易 nầy là Diềt 易/Diệk易 hoàn toàn như người Triều Châu đọc chữ Việt日 nầy là Diềt日/Diệk日.”  (Nguồn: Chữ Nôm Cổ Xưa Và Ý Nghĩa Của Việt của tác giả Đỗ Thành).

Khảo sát tiến trình biến đổi từ chữ Giáp Cốt cho đến chữ vuông ngày hôm nay, không khó để chúng ta nhận ra chữ DỊCH là một tổng hợp biểu ý image012 được hình thành từ hai chữ biểu hình là TRỜI 日image013 và TRĂNG 月image014.  Hai chữ TRỜI TRĂNG ngang nhau thì biểu ý là MINH 明, còn TRỜI trên TRĂNG dưới thì biểu ý là DỊCH易.  Phát âm của chữ TRỜI, chữ TRĂNG và chữ DỊCH theo Nôm Việt Cổ đều là âm VIỆT của chữ Việt quốc ngữ ngày nay.  Nói một cách khác, DỊCH chính là VIỆT.

image015

image016

Nói “hai chữ TRỜI TRĂNG ngang nhau thì biểu ý là MINH 明, còn TRỜI trên TRĂNG dưới thì biểu ý là DỊCH易” không phải là một phát biểu tùy tiện.  Nhìn vào Giáp Cốt Văn thì sẽ thấy sự khác biệt giữa kết hợp TRỜI TRĂNG ngang nhau để biểu ý MINH, xem H10 và H11, và kết hợp TRỜI trên TRĂNG dưới để biểu ý DỊCH, xem H7 bên trên, là một chủ ý quá rõ rệt.  Hai biểu ý riêng biệt với hai chủ ý rõ rệt này không những đã có ngay từ lúc ban sơ, tìm thấy trong đống Giáp Cốt, mà còn kéo dài và liên tục cho đến ngày hôm nay, kinh qua các giai đoạn Kim Văn và Triện Văn.  Cả thảy 19 chữ MINH Giáp Cốt Văn (100%) đều theo cấu trúc TRỜI TRĂNG đặt ngang nhau và không có những tia sáng.  Cả thảy 73 chữ DỊCH Giáp Cốt Văn (100%) đều theo cấu trúc TRỜI trên TRĂNG dưới và có những tia sáng.  [Xoay những hình trong H7 cho vòng tròn mặt trời nằm trên, vòng cung mặt trăng nằm dưới, và các tia ánh sáng nằm dưới cùng sẽ thấy rõ.  Thoạt nhìn thì thấy những hình này giống như là mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh đồi nhưng nếu là vậy thì ánh sáng phải tỏa ra từ mặt trời và tỏa lên phía trên chứ không nằm phía dưới vòng cung do đó giải thích nghe hợp lý hơn thì những tia sáng hoặc là (1) biểu hình cho ánh sáng của mặt trăng hoặc là (2) biểu hình cho ánh sáng của cả hai.  Từ đó có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa biểu ý Minh và biểu ý Dịch, dầu là cả hai đều từ sự kết hợp Trời và Trăng.  Trong khi bản thân biểu hình mặt trăng và mặt trời là hai chủ thể chính biểu ý cho chữ Minh thì bản thân của những vạch biểu hình ánh sáng của mặt trăng hoặc/và mặt trời mới là chủ thể chính biểu ý cho chữ Dịch.].

Hai chữ biểu tượng TRỜI TRĂNG dùng để biểu ý chữ DỊCH vẫn còn để lại “dấu vân tay” trong Hán Vuông ngày hôm nay.  Thông tin trong H12, lấy ra từ Hán Việt Từ Điển, tự nó đã giải thích đầy đủ sự liên hệ mật thiết giữa các thành phần làm nên chữ DỊCH.

image017

Nhưng theo Đỗ Thành, một nhà nghiên cứu người Việt gốc Hoa thành thạo nhiều phương ngữ Trung, thì:

Việt易” đây là chữ Dịch易 chính là chữ tượng hình vẽ mặt trời hình tròn O với các tia sáng chung quanh được mỹ thuật hóa và vuông hóa thành chữ Nhật日 được đặt ở phía trên, và các tia sáng chung quanh được gom lại biến thành chữ Vật勿 để ở phía dưới thành ra Việt易.  Chữ Việt nầy với chữ Việt cổ xưa nhất là vẽ hình mặt trời có tia sáng phát ra tứ phía là chung một chữ mà thôi. Thật ra Kinh Dịch易 là đọc trại âm từ chữ Kinh Việt易. Kinh của người Việt thì mới gọi là Kinh Việt = Mặt trời 日 + tia sáng 勿 = Việt/易.” 

Và Đỗ Thành còn khẳng định “Việt = Trời/Trăng soi sáng = Hình mặt trời các tia phát sáng trên trống đồng = viết bằng O với những tia sáng = 日 = 易 = 粵.  Hai chữ Việt nầy, 易 và 粵, đều là ‘mặt trời cháy sáng’.”  Ông giải thích:

“Việt粵 Chữ Nôm đọc là Duyệt粵 ở Quảng Đông [Nôm Cổ Việt].  Ngày nay Hán Việt và Việt đọc là Việt粵, âm Bắc kinh đọc là Yué粵 (ghi chú: bên Triều Châu dùng chữ “Việt越” thay chữ “Việt粵” nầy). Cách viết chữ Việt粵 nầy rất giống chữ Dịch易”.  Chữ Việt粵 nầy là Hướng向 về mặt trời Chiếu sáng với chữ Thể采 là ‘Bẻ’ để biểu hiện ý của âm ‘E’ là ‘Yue’ là ‘Việt’.  Bản thân của chữ Thể采 trong cổ văn thì đó là chữ Nôm nghĩa là Cháy采, chữ ‘Cháy’ là Mộc木 đang phát cháy bằng mấy nét phía trên là ngọn lữa., Tôi là người Mân Việt nên hiểu rỏ chữ Cháy采 nầy (Cháy采 còn 1 phát âm khác là Bẻ采 để nói nghĩa khác, và “Bẻ” hay “Bén” cũng lại quay về ấm Bén, cháy bén…) …Cháy采 sáng nguyên 1 vòng cầu tức là “Cầu vòng” mà ngày nay được viết bằng Thể Hồng-彩虹 tức là Cầu vòng…Nhiều người cứ tưởng rằng Việt粵 với bên trong chữ Hướng向 là Mễ米 là gạo…, không phải vậy đâu. Bởi vì nghĩa cuả Việt là Nhật- Nguyệt là Quang Minh-Soi sáng… như Trống đồng của Cổ Bách Việt tộc đã lưu dấu trong lịch sử.”

Như vậy thì luận điểm của Đỗ Thành tuy có hơi khác nhưng xét cho cùng thì cũng không khác vì theo ông (một cách gián tiếp) mặt trời/mặt trăng không là chủ thể chính [như trong chữ Minh] mà ánh sáng chiếu ra mới là chủ thể chính biểu ý của chữ Dịch.  Và điều này đúng với hình ảnh trên Giáp Cốt Văn biểu ý chữ Dịch.

Dầu chữ 易 là một tổng thể TRỜI trên TRĂNG dưới với những TIA SÁNG biểu ý DỊCH hay là một tổng thể chỉ có mặt trời với các tia ánh sáng được mỹ hóa thành chữ Vật để biểu ý DỊCH thì kết luận cũng vẫn như nhau: DIỀT = DIỆK = DUYỆT = DỊCH = VIỆT.

Và như Đỗ Thành đã kết luận: “Kinh Dịch易 là đọc trại âm từ chữ Kinh Việt.   Kinh của người Việt thì mới gọi là Kinh Việt.” 

Có hai vấn đề lớn nằm trong kết luận trên của Đỗ Thành.  Với sự khẳng định chữ Hán phát triển trên nền tảng của chữ Nôm Việt Cổ, sẽ có một số lượng không ít những nhà nghiên cứu Việt không đồng ý, nếu không muốn nói là “chống kịch liệt”.  Với não trạng “tự nô lệ hóa” và với thành kiến đảo lộn sự thật “lấy quả làm nhân” (ngôn ngữ của Hà Văn Thùy) cho rằng “hơn 70% tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán” nên họ luôn khẳng định tiếng Hán là chủ thể của tiếng Việt.  Không còn gì sai hơn!  Lấy một vụ khai quật mộ cổ nổi tiếng 馬 王 堆 vào đầu thập niên 1970 có liên quan đến Kinh Dịch làm thí dụ điển hình.  Tiếng Hán Việt đọc là Mã Vương Đôi.  Tiếng Anh dịch là “King Ma‘s Mound.”  Sự thật cho thấy chẳng có vị Vua Ngựa hay Vua Ma nào được chôn ở đó cả.  Qua khảo chứng người ta đã xác định ba ngôi mộ cổ này được chôn cất từ hồi thế kỷ thứ hai trước công nguyên.  Chủ nhân của ba ngôi mộ là Lợi Thương, vị thừa tướng Nước Trường Sa thời kỳ đầu Tây Hán, phu nhân Tân Truy của ông và con trai của hai ông bà.  Chỉ là vị “quan” họ Lợi thì làm sao lại được ghi là “Mã Vương”?  Sự thật không có gì kỳ bí.  Trường Sa, Hồ Nam phía Nam Trung Quốc là vị trí nằm ngay trung tâm của người Việt Cổ do đó nói bằng tiếng Nôm Việt Cổ thì những ngôi mộ đó nằm ở Đồi Mả Quan, tức là cái đồi có mả (mồ) của quan.  Địa danh Đồi Mả Quan tồn tại lâu dài trong cộng đồng Việt.  Khi người Hoa xuất hiện thì do không phát âm đúng tiếng Việt và không hiểu nghĩa của tiếng “mả” nên đọc trại thành “mã” còn “quan” thành “wan” rồi thành “Wang” theo đó Đồi Mả Quan biến thành “Má Wang Tui.”  Đến khi chuyển sang chữ vuông, người sau không còn hiểu lai lịch khu mộ mà chỉ “phiên ngang” theo âm nên ký âm bằng chữ vuông Mã Vương Đôi 馬王堆.  Bằng chứng này cho thấy tiếng Nôm Việt Cổ đã có từ rất xưa (trong trường hợp này thì mốc thời gian là 2200 năm trước) và Nôm Việt Cổ không phải là sản phẩm vay mượn từ tiếng Hán, ngược lại mới đúng “sự thật như nó đã là.”

image018

Nhìn lại lịch sử chữ DỊCH từ thời Giáp Cốt Văn xuyên suốt cho tới thời Trung Văn ngày nay, xem H13, có lý nào để nói ngược ngạo rằng tiền nhân sống trên đất Việt xưa đã vay mượn chữ viết và tiếng nói của người Hán?  Hay nói một cách khác, chẳng lẽ trước khi dân du mục phương Bắc tràn qua Hoàng Hà hòa huyết đẻ ra Hoa Hạ thì người Việt cổ sống trên đất Việt xưa không biết nói, không chữ viết và không văn hóa?  Chẳng lẽ nhóm dân du mục “phương Bắc bạo cường” đó có sẵn một nền văn hóa “tầm cao” mang vào đất Việt xưa để áp đặt và thành công với sự áp đặt văn hóa để từ đó tự hào với cái gọi là văn hóa Hán tộc?  Tuy người viết không phải là nhà ngôn ngữ học, cũng không phải là nhà khảo cổ, nhưng cũng có thể đủ sức để hiểu một điều là tiếng nói và chữ viết không thể từ trên trời bổng dưng rơi xuống đất Ân Thương để đám con lai Hoa Hạ lấy đó cho là của riêng Hán tộc.  Còn Việt cổ sống trên đất Việt xưa có phải là Việt hay không thì cuốn Tìm Lại Cội Nguồn Qua Di Truyền Học (2011) của Hà Văn Thùy đã giải thích rõ.

Vấn đề thứ hai, khẳng định Dịch là của Việt thì chắc chắn là số người đồng ý sẽ không nhiều hơn số ngón trên hai bàn tay.  Biết thực tế là vậy nhưng điều này không hề làm cho người viết nao núng.  Hà Hưng Quốc đã từng viết nhiều cuốn sách để giải thích vì sau Dịch là của Việt.  Không những Dịch mà luôn cả Âm Dương, Ngũ Hành, Hà Đồ, Bát Quái, Bảng Lục Thập Hoa Giáp, Ngũ Hành Nạp Âm, Tử Vi  cũng là của Việt.  Và đi xa hơn là cả nền văn hóa Trung Hoa hiện nay cũng được đẻ ra từ cái nôi văn hóa Việt cổ.  Nhưng dầu cho lý luận có “hàn lâm” đến mấy thì cũng không qua được sự thật rất “bình dân” của Đỗ Thành, đó là: “Kinh của người Việt thì mới gọi là Kinh Việt.”

Nếu chúng ta để ý thì sẽ thấy chữ DỊCH có nguồn gốc từ thiên văn.  Mà có nguồn gốc từ thiên văn thì không thể nào là sản phẩm của giống dân du mục phương Bắc.  Và nó phải là sản phẩm phát sinh từ cái nôi trồng lúa nước ở phương Nam, của Việt.  Căn cứ vào chi tiết trong Thuật Dị Ký 述異記 của sách Thông-chí 通志 (2AL, Q II, Ngũ Đế Kỷ Đệ Nhị, Chí #35, tr. 224) của sử gia Trịnh Tiều (1104-1162).  Sách chép:

Đào Đường chi thế, Việt Thường quốc hiến thiên tuế thần quy, bối thượng hữu văn, giai khoa đẩu thư, ký khai tịch dĩ lai, Đế mệnh lục chi, vi chi Quy-lịch. 陶唐之世, 越裳國獻千歲神龜,背上有文,皆科斗書,記開闢以來,帝命錄之,謂之龜歷。

Dịch: “Đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng thần quy ngàn tuổi, trên lưng có văn, đều là chữ khoa-đẩu [chữ nòng nọc], chép việc từ thuở khai thiên tịch-địa đến bấy giờ, Đế sai chép và gọi là Lịch Rùa.”

[Ngưng trích dẫn]

Sách Cương Mục Tiền Biên của Kim Lý Tường cũng có chép rằng, “năm 2361 trước Công nguyên, tức năm Mậu Thân thứ 5 đời Ðường Nghiêu Sứ thần Việt Thường Thị sang chầu dâng rùa thần“.  Theo Kim Lý Tường con rùa gọi là thần quy vì rùa to hơn 4 thước ta [khoảng 1.20 mét], trên lưng có chữ nòng nọc [đẩu văn], ghi tổng quát lịch sử cấu tạo vũ trụ và nhân loại từ thuở ban đầu cho tới đời vua Ðường Nghiêu.[4]

Giáo sĩ L.Wieger, một nhà thông thái dòng Tên, cũng ghi nhận “người Tầu đã dựa vào cống phẩm rùa thần mà làm ra Qui Lịch” (L.Wieger, Hisfoire des croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine, depnis l’ origine jusqu à nos jonrs./ Lịch Sử Tín Ngưỡng Và Quan Điểm Triết Học ở Trung Hoa, Từ Khởi Thủy Cho Đến Thời Đại Chúng Ta, trích dẫn bởi TS. Thái Văn Kiểm).[5]

Cũng trong Kinh Thư, về việc hiến thần quy, “Ðế Nghiêu nhà Ðường sai Hy Thúc giữ việc này suy trác khí hậu ở Nam Giao, điều hòa mọi việc thời tiết sớm muộn về mùa hè… Suy trác cẩn thận để tháng trong Hạ được đúng với thời tiết. Lại phải xem đến việc thay đổi của người và trời đất.” (Lịch Với Lịch Sử Kinh Tế Chính Trị Và Chiến Tranh của Nguyễn Thường, Nghiên Cứu Lịch Sử số 3 (262) tháng 5 & 6-1992, tr.51-59).[6]

Với người viết thì câu chuyện tặng rùa thần này là một sự kiện lịch sử rất quan trọng.  Nó là dấu công chứng đóng “trực tiếp” lên cụm chữ DỊCH LÀ CỦA VIỆT.

Đúng như học giả Zhou Jixu khẳng định: “Không giống như các dân cư Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ là những người đến từ miền Nam Trung Quốc, dân cư của Hoàng Đế đến từ phía Tây của Trung Quốc, từ phần phía Tây của lục địa Âu-Á. Họ chinh phục người dân của lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, những người thủ đắc nền văn hóa nông nghiệp phát triển . . .  Lịch sử được ghi trong tài liệu truyền thống chỉ duy nhất tính đến việc người của Hoàng Đế đi vào trong thung lũng Hoàng Hà và phát triển văn minh ở đó. [Còn n]hững người đã sống trước đó và tạo dựng nền văn minh tiền sử huy hoàng của hai con sông đã bị chìm sâu sau màn sương lịch sử. Họ đã bị loại trừ khỏi sử biên niên truyền thống, trong đó bao gồm hầu như tất cả các sách lịch sử Trung Quốc, từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký . . . Đây là một lịch sử mang xu hướng đảo lộn vị trí giữa chủ và khách.”[7]

Xin cảm ơn tất cả bạn đọc.  Chào thân ái.

Kính.

Hà Hưng Quốc.

Ngày 1 Tháng 3 Năm 2013


[1] “Giáp cốt văn hoàn chỉnh nhất là vào thời Vũ Đinh nhà Thương, và lượng văn tự được tìm thấy ngày nay cũng chủ yếu ở vào thời kì này.”  (Nguồn: Chuyên Trang của Diễn Đàn Hán Ngữ, www.tiengtrung.org, Lịch Sử Chữ Hán 3: Đại Triện)

[2] Khái niệm về loại chữ Đại Triện cũng không thống nhất. Có người cho rằng Đại Triện bao gồm Kim Văn và Lựu Văn, lại có người cho rằng Đại Triện là Lựu Văn. Cũng có khi người ta gọi tất cả các loại chữ cổ thời tiên Tần là Đại Triện.  (Nguồn: Chuyên Trang của Diễn Đàn Hán Ngữ, www.tiengtrung.org, Lịch Sử Chữ Hán 3: Đại Triện).

[3] “Hệ văn tự sớm nhất được phát hiện cho đến nay là chữ giáp cốt (giáp cốt văn 甲骨文) mà niên đại được xác định khoảng 1200 tcn.” (Nguồn: VietScience.  Thưởng Thức Thư Pháp Trung Quốc của Lê Anh Minh, 1/9/2006)

[7] Tái trích Zhou Jixu.The Rise of Agricultural Civilization in China: The Disparity between Archeological Discovery and the Documentary Record and Its Explanation. SINO-PLATONIC PAPERS Number 175 December, 2006.  Trong bản thảo Viết Lại Lịch Sử Trung Hoa của Hà Văn Thùy.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s