Lẩm Cẩm – Ngày Lễ Tình Yêu, Ngày Lễ Gia Đình

ValentineHôm nay là ngày 18 tháng Hai 2013. Hàng năm, trong tháng Hai mà nói đến ngày 14 là người người biết ngay đó là ngày lễ Tình Yêu, tiếng Anh tiếng u kêu là “Valentine’s Day”. Ngày này là để cho các cậu, các ông tha hồ làm việc nịnh đầm bằng cách bầy tỏ, hay khẳng định lại, tình yêu thắm thiết “đời đời bền vững” với người tình, với vị nội tướng của mình. Các cậu, các ông thi nhau mua hoa, mua sô-cô-la, mua quần áo lót cực kỳ sexy của phụ nữ, mua dầu thơm… để tặng các mợ, hoặc đưa qúy mợ đi ăn nhà hàng, đi coi show tá lả, đồng thời không quên thủ thỉ với các mợ lời âu yếm “I love you!”

Với chư vị không cư ngụ tại bốn tỉnh bang Ontario, British Columbia, Alberta và Saskatchewan tại miền xứ lạnh tình nồng Canada của Lẩm Cẩm, thì qúy ngài thường chỉ biết đến Valentine’s Day trong tháng Hai, nhưng với bà con nhân dân ở bốn tỉnh bang kể trên thì họ còn được nghỉ để ăn mừng Ngày Lễ Gia Đình, tiếng Anh tiếng u kêu là “Family Day”. Và hôm nay là Ngày Lễ Gia Đình tại nơi Lẩm Cẩm ăn dầm nằm dề trong vài chục niên qua.

Tại ba tỉnh bang Ontario, Alberta và Saskatchewan thì “Family Day” được kỷ niệm vào ngày Thứ Hai thứ ba trong tháng Hai, còn ở tỉnh bang British Columbia thì “Family Day” là ngày Thứ Hai thứ nhì trong tháng Hai. Ý nghiã của ngày lễ này là gì? Xin thưa là để nhắc nhở mọi người về sự quan trọng của gia đình và đời sống gia đình. Ngày Lễ Gia Đình đầu tiên tại Canada diễn ra tại tỉnh bang Alberta vào năm 1990, đến năm 2007 thì nó lan sang tỉnh bang Saskatchewan, và một năm sau đó (2008) thì tỉnh bang Ontario bắt đầu có “Family Day”. Riêng tại tỉnh bang British Columbia nằm trên bờ biển Thái Bình Dương bên phía tây Canada, “Family Day” được chính thức công nhận là ngày lễ kể từ năm 2013 này. Vì “Family Day” luôn luôn được kỷ niệm vào ngày Thứ Hai thứ ba trong tháng Hai, cho nên cái cuối tuần thứ ba trong tháng Hai luôn luôn là một “long weekend” và đa số mọi người khoan khoái được nghỉ bắc cầu từ Thứ Bảy đến Thứ Hai!

Như Lẩm Cẩm vừa thưa ở phần trên, tuy lý do chính thức để có Ngày Lễ Gia Đình là nhằm đề cao sự quan trọng của gia đình và đời sống gia đình, cũng như để cho bà con dân chúng được nghỉ đi cày một ngày để có thời giờ vui thú với gia đình; nhưng thật ra thì lý do nhà nước tạo ra ngày lễ này là để cho nhân dân có được thêm một ngày nghỉ trong mùa đông lạnh giá đặng cho mọi người đỡ rên! Trước khi “Family Day” ra đời, bà con Ca-na-điên ở Ontario, British Columbia, Alberta và Saskatchewan phải làm việc suốt từ sau ngày nghỉ Tết Dương Lịch tới lễ Phục Sinh (thường là cuối tháng Ba hay trong tháng Tư) mới lại được nghỉ lễ, nên người người than trời như bọng! Ngoài miền đất lạnh nhưng tình luôn nồng Canada, Lẩm Cẩm nghe nói là ở trong vùng thủ đô của xứ Úc đầy “căng-gu-ru” Ngày Lễ Gia Đình rơi vào ngày Thứ Ba đầu tiên của tháng Mười Một mỗi năm; và ở bên xứ Nam Phi thì “Family Day” là ngày sau ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Tại Úc, ngày lễ ni còn nhằm mục đích đề cao tính quan trọng của cộng đồng, cho nên nó được gọi là “Family and Community Day”.

Trở lại với “Valentine’s Day”, thì hình ảnh thường được gắn liền với nó là hình một nam thiên thần trẻ giương cung bắn mũi tên vào một trái tim. Hình thiên thần và trái tim này liên quan tới một trong những chuyện tình thần thoại Hy-Lạp hay nhất, được nhiều người biết đến nhất: chuyện tình của Cupid và Psyche. “Love Story” này được kể lần đầu tiên trong cuốn “The Golden Ass” của một văn sĩ người La Mã tên là Lucius Apuleius vào thế kỷ thứ hai. Chuyện kể rằng:

Hồi xưa, một ông vua kia có ba công chúa. Trong ba ái nữ này của đức vua thì hai cô chị nhan sắc bình thường thôi, nhưng cô út, tên là Psyche, thì đẹp lắm. Tiếng đồn nơi hạ giới về sắc đẹp chim sa cá lặn của Psyche vang lên tận thiên đình, khiến nữ thần sắc đẹp Venus (tên trong tiếng Hy Lạp là Aphrodite) ghen tức. Vì thế, Venus sai con trai mình là một cậu thần trẻ và có đôi cánh trắng tên là Cupid xuống hạ giới trừng phạt Psyche. Cupid sẽ bắn mũi tên yêu đương vào Psyche để nàng phải yêu một quái vật, hay kẻ xấu xí nhất trên đời.

Cupid vâng lời mẹ, mang cung tên và hai bình nước đắng và nước ngọt vào phòng Psyche để hành động. Sau khi nhỏ vài giọt nước đắng vào môi Psyche, Cupid cúi  xuống nhìn mặt nàng và ngẩn người vì sắc đẹp của Psyche. Trong lúc bị sắc đẹp của Psyche hốt hồn, Cupid đã vô tình để cho một mũi tên cắm vào chính mình, khiến Cupid đâm ra yêu Psyche. Thế là, Cupid vội vàng nhỏ vào môi Psyche với vài giọt nước ngọt rồi bay đi.

Thời gian trôi qua, mọi người vẫn ca tụng sắc đẹp của Psyche, nhưng không ai muốn lấy nàng làm vợ. Hai người chị của Psyche đã lần lượt lấy chồng. Đức vua cùng hoàng hậu lo lắng lắm, nên đi xin lời sấm của thần Apollo. Apollo phán rằng Psyche sẽ không lấy người thường, mà sẽ làm vợ một quái vật! Thần còn cho biết thêm là chồng tương lai của Psyche đang ở trên một ngọn núi cao.

Không muốn cha mẹ buồn phiền quá độ, Psyche xin đức vua và hoàng hậu cho nàng lên núi như lời sấm dạy. Khi Psyche chỉ còn một mình trên đỉnh núi, thì thần gió Zephyrus nâng Psyche lên và đưa nàng tới một thung lũng thần tiên, nơi có một lâu đài tráng lệ. Tại đây, Psyche được phục dịch chu đáo cho đến khi đêm xuống. Trong màn đêm tối đặc, người chồng tương lai của Psyche đã đến và sống với nàng trọn vẹn như vợ chồng rồi ra đi khi trời gần sáng. Kẻ đến với Psyche hàng đêm chính là Cupid. Cupid luôn luôn dặn Psyche phải hoàn toàn tin tưởng vào chàng, không được tò mò thắp đèn lên để biết mặt chồng. Nói tóm lại, Psyche không được phép thấy mặt chồng!

Ssống như thế một thời gian thì Psyche nhớ nhà, nhớ cha mẹ và hai chị, nên xin phép Cupid cho hai chị được đến thăm nàng. Cupid buộc lòng phải chấp thuận. Sau khi dặn dò Psyche một lần nữa là phải tin tưởng chồng, phải nhớ lời căn dặn của mình, Cupid sai thần gió Zephyrus đón hai chị của Psyche đến thăm cô em.

Hai người chị đến nơi, chứng kiến cảnh sống sung sướng, thần tiên của Psyche nên sinh lòng ganh tị, rồi khi nghe Psyche kể là nàng chưa hề thấy mặt chồng, thì hai người chị nhắc lại lời sấm ngày trước rằng Psyche đã lấy phải một quái vật, và quái vật này có thể là một con rắn khổng lồ đã biến thành tinh và có thể nuốt chửng Psyche! Lại được Psyche cho hay là đang mang thai, hai cô chị khuyên Psyche nên dấu một con dao và một cái đèn, rồi rình lúc chồng ngủ thì soi đèn lên mặt chồng để xem cho biết. Nếu thấy chồng là quái vật thì Psyche phải trừ khử ngay để bảo vệ chính mình và bào thai trong bụng.

Sau khi hai người chị đã ra về, Psyche bị lòng tò mò thúc đẩy, nên vào một đêm nọ, sau khi đợi chồng ngủ say, Psyche đã thực hiện lời hai chị xúi giục. Khi Psyche đốt đèn lên để nhìn mặt chồng thì nàng vô cùng ngạc nhiên vì quái vật đâu không thấy, mà chỉ thấy một khuôn mặt thiên thần rất đẹp đang ngủ say. Mê mải nhìn mặt chồng, Psyche lỡ tay cầm nghiêng cái đèn, khiến dầu nóng rớt xuống vai Cupid và làm cho Cupid sực tỉnh,.

Thấy vợ trái lời mình, không tin tưởng chồng và đã khiến cho mình bị thương, Cupid giận dữ xoè cánh bay đi. Trước khi bay đi, Cupid cho Psyche biết sự thiếu tin tưởng của Psyche đã chấm dứt cuộc sống vợ chồng giữa chàng và nàng, rồi bảo Psyche hãy trở về nhà với hai người chị. Psyche cố giữ Cupid lại mà không được.

Sau khi Cupid bay đi thì đền đài cũng biến mất và Psyche thấy mình nằm ở một cánh đồng gần nơi hai người chị ở. Buồn rầu quá đỗi, Psyche muốn tìm cái chết ở giòng sông nhưng không được, nên về nhà kể cho hai chị nghe mọi chuyện. Hai người chị động lòng tham, nghĩ rằng họ sẽ có cơ hội để làm vợ thiên thần nếu lên đỉnh núi khấn thần gió Zephyrus đến đón họ và đưa họ đến với Cupid truớc khi nhảy xuống vực. Nghĩ là làm, hai cô này trèo lên đỉnh núi cao rồi làm đúng những điều dự tính. Thế nhưng, thần gió đâu chẳng thấy, chỉ thấy hai người chị rơi xuống vực thẳm chết nát xương!

Trong khi đó Psyche tiếp tục lang thang đi tìm chồng! Một ngày nọ, nàng đến một ngôi đền tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi cao thì thấy thóc lúa bừa bãi nên Psyche đã ra công thu dọn cho gọn gàng. Vị thần của ngôi đền đó là nữ thần Ceres thấy vậy, rủ lòng thương hại Psyche nên khuyên Psyche đến quy thuận nữ thần Venus để lấy lòng bà,và  từ đó có thể có cơ hội được tái hợp cùng chồng.

Psyche nghe lời thần Ceres, đến cầu cạnh nữ thần Venus. Dù giận dữ, nhưng Venus không đuổi Psyche đi, mà cho phép nàng ở lại chuộc lỗi.

Venus dẫn Psyche ra kho lúa và bảo Psyche sàng lọc đống hạt đã trộn lẫn vào nhau vốn để làm thức ăn cho đàn chim của bà, và công việc này phải làm xong trong chiều hôm đó. Psyche buồn bã vì biết không cách chi làm được một việc như thế trong một thời gian quá ngắn ngủi! May thay, Cupid vẫn theo rõi Psyche để giúp đỡ nàng, nên Cupid đã huy động đàn kiến đến giúp Psyche phân loại các thứ hạt trong hạn thời gian do Venus đặt ra. Khi thấy Psyche hoàn tất đúng thời hạn công việc được giao phó, Venus giận dữ vì biết là Psyche được con trai bà giúp, nhưng Venus không thể trách nàng được.

Sáng sớm hôm sau, Venus lại sai Psyche đi ra khu rừng ven sông để thu thập lông trừu từ cả một đàn trừu lông vàng rất hung hăng và đang đọ sức rất mạnh với nhau dưới ánh mặt trời. Lần này, Psyche lại được thần sông khuyên hãy chờ đến trưa, khi thần sông hát ru đàn trừu ngủ dưới bóng mát, thì Psyche có thể lượm lông trừu rơi rải rác rồi gom lại mang về nộp cho nữ thần Venus.

Nhiệm vụ thứ hai hoàn tất, Venus lại sai Psyche mang một hũ pha lê đi đến sông Styx để lấy nước cho bà. Sông Styx là sông biên giới giữa người sống và kẻ chết. Nước trên núi Aroanius đổ xuống vực thẳm, đường lên xuống rất cheo leo, khó khăn lại thêm nhiều rắn rết nên người trần không thể nào xuống lấy nước ở sông Styx được. Trong lúc nàng tuyệt vọng, thì Psyche lại được chim đại bàng Ganymedes của thần Zeus lấy nước giúp nàng.

Dù Psyche đã qua được ba thử thách lớn, nữ thần Venus vẫn muốn hành hạ nàng thêm một lần nữa, nên nữ thần ra lệnh cho Psyche mang cái hộp của bà xuống âm phủ để xin bà Persephone, vợ của Diêm Vương Hades, một chút kem nhan sắc mang về cho Venus. Công việc này làm sao Psyche có thể làm được vì Psyche là người hạ giới, làm sao xuống âm phủ được, trừ khi nàng chết đi. Quá buồn nản, Psyche muốn nhảy xuống sông Acheron (một nhánh của sông Styx) để tự tử, nhưng cũng như ba lần trước, Psyche lại được quý thần phù trợ, khuyên bảo, dẫn dắt nàng vượt qua những cửa ải khó khăn như qua mặt con chó ba đầu Cerberus canh giữ cửa vào âm phủ, thuyết phục thần Charon chở nàng qua sông âm phủ Archeron rồi đưa về. Điểm quan trọng nhất là thần phù trợ căn dặn Psyche tuyệt đối không được mở hộp đựng kem làm đẹp mà Persephone sẽ trao cho Psyche mang về để dâng cho nữ thần Venus. Theo đúng chỉ dẫn của thần phù trợ, Psyche đã hoàn tất sứ mạng, mang được hộp chứa kem thoa mặt mà Persephone đã trao cho ra khỏi âm phủ.

Trên đường trở về, lòng tò mò và ước muốn được thêm chút sắc đẹp với kem nhan sắc đã khiến Psyche không cưỡng lại được ý muốn mở hộp đựng kem để ăn trộm một ít. Nhưng trong hộp sắt không chứa kem thoa mặt, mà lại là âm khí lạnh của con sông âm phủ Styx. Âm khí lạnh toát ra làm Psyche ngã bất tỉnh.

Kể từ khi Psyche bị nữ thần Venus hành hạ bằng những sai bảo nghiệt ngã, Cupid đều biết và theo rõi nàng. Lúc này cũng là lúc Cupid không còn giận dữ Psyche nữa, nên với lòng thương yêu nàng, chàng đã bay đến với Psyche, ra tay thu thập âm khí đang tản mát trong cơ thể nàng để bỏ lại vào hộp sắt, rồi dùng mũi tên của chàng đánh thức Psyche dậy. Sau khi dặn Psyche mang hộp sắt về nộp cho mẹ mình là nữ thần Venus, Cupid vào thiên đình tìm gặp vị thần chủ tể Zeus (tên trong tiếng la Tinh là Jupiter) để trình bày câu chuyện, rồi cầu khẩn Zeus giúp cho mình được xum họp với Psyche. Cupid thưa thật với thần chủ tể Zeus là mình thật sự yêu thương Psyche và không thể xa nàng được nữa. Thần Zeus cảm động trước tình yêu của Cupid và Psyche, nên chấp thuận lời cầu khẩn. Zeus thuyết phục Venus chấp thuận cho Psyche làm vợ Cupid, cũng như sai nữ thần Hermes xuống đón Psyche lên thiên đình rồi cho nàng uống một chén rượu bồ đào để Psyche trở nên bất tử để xum vầy mãi mãi với Cupid. Từ đó, Cupid và Psyche sống hạnh phúc bên nhau, và Psyche sinh được một con gái đặt tên là Voluptas. Voluptas là nữ thần của khoái lạc.

Nhân đang nói chuyện vợ chồng, Lẩm Cẩm được biết là nhà thơ lớn của Việt Nam là cố thi sĩ Bùi Giáng, người mà ta nghĩ chỉ có những tình yêu viễn mộng. đã có một người vợ đẹp, và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm. Vũ Đức Sao Biển là người kể cho mọi người biết chuyện này sau khi ông về thăm lại quê của Bùi Giáng ở làng Thanh Châu thuộc xã Duy Châu, Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trong tháng Bảy năm 2012.

Vũ Đức Sao Biển cho biết là khi ông ghé thăm nhà thờ họ Bùi, thì ông được người phụ nữ chăm lo hương khói nơi đây cho xem gia phả của họ Bùi. Vũ Đức Sao Biển kể:

Qua câu chuyện, tôi khẳng định một điều mới mẻ: nhà thơ Bùi Giáng đã có vợ. Hình tượng của bà và tình thương yêu, tiếc nuối ông dành cho bà là nội dung chủ đạo trong bốn tập thơ của ông: Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột và Màu Hoa Trên Ngàn (in tại Sài Gòn từ năm 1962 – 1964). Người phụ nữ chăm lo hương khói tại nhà thờ  họ Bùi nhớ là Bùi Giáng được cha mẹ cưới vợ cho năm 1945, khi ông vừa 19 tuổi. Hôn nhân ngày trước thường do cha mẹ đôi bên sắp đặt. Có lẽ, cuộc hôn nhân của Bùi Giáng cũng không đi ra ngoài quy ước đó. Người phụ nữ giữ nhà thờ họ Bùi xác nhận: “Chị Bùi Giáng về làm dâu nhà ông bà bác tôi (cụ Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền – cha mẹ ông Bùi Giáng) năm 18 tuổi. Chị là người Duy Xuyên, đẹp lắm, tóc dài da trắng, cái chi cũng đẹp. Tên thật của chị là Vạn Ninh”. Tất cả thành viên trong gia đình đều yêu qúy bà chị dâu trẻ. Ông Bùi Luân – em ruột Bùi Giáng – tỏ lòng quý mến của mình với người chị dâu trong tập thơ Chớp Biển của Bùi Giáng in tại Canada năm 1996: “Phải nhận là chị xinh đẹp, cởi mở, vui tính, hồn nhiên… Gương mặt chị, hình ảnh chị đã nổi bật, sáng ngời mãi trong ký ức tôi. Duy có điều bất cứ ai, dù không biết gì nhiều về tướng số, gặp chị là cũng nhận ra ngay: chị không thể ở lâu với chúng ta trên cõi đời này, dù cõi đời vốn đã ngắn ngủi. Lấy chồng được ba năm, chị đã đột ngột lìa đời lúc mới ngoài hai mươi tuổi. Chị trút hơi thở một cách bình thản”. Vợ chồng Bùi Giáng được cha mẹ cho một khu vườn đẹp ở làng Trung Phước để lập nghiệp. Trung Phước là thung lũng trù phú ven sông Thu, kế cận mỏ than huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Làng Trung Phước cách Thanh Châu trên dưới ba chục cây số. Có lẽ cuộc hôn nhân của lứa đôi trẻ trung này giữa miền đất Trung Phước không được êm ấm cho lắm. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cưới, người vợ trẻ đã phải lặn lội từ cái thung lũng ngoạn mục nhất đó, xuôi sông Thu Bồn êm đềm với ngàn dâu xanh ngát, về nhà bố mẹ chồng ở Thanh Châu cách hàng mấy chục cây số. Trên chiếc đò bé nhỏ, chàng trai nói với người vợ trẻ: ‘Nếu em không đổi ý quay về, không bỏ qua chuyện cũ thì tôi sẽ nhảy ra khỏi đò!’ Khách xuôi đò tưởng người con trai đùa dọa người vợ mảnh dẻ. Để nguyên quần áo, ngay lập tức anh mình gieo xuống giữa dòng sông Thu. Và bơi theo đò. Để rồi thả trôi theo dòng nước hết chỗ mấy chục cây số đó, tới tận bến nhà”. “Bỏ qua chuyện cũ” là chuyện gì? Đó là một chuyện hết sức tức cười và trẻ con. Ông Bùi Luân tiết lộ: “Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi: ‘Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”. Thì ra, Bùi Giáng đã đi trước thời đại chúng ta về chủ trương ăn chay. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho cô vợ ăn rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn gà, bò – hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước. Người vợ qua đời năm 1948 khi Bùi Giáng vắng nhà. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Phút lâm chung, chị không thấy mặt chồng. Tôi chỉ biết là anh có mặt vào phút chót của buổi tiễn đưa chị về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh đứng bên cạnh chiếc quan tài với vành khăn trắng trên đầu”. Bùi Giáng yêu vợ nhưng vẫn muốn bỏ nhà đi chơi. Cũng bình thường như bao nhiêu người đàn ông Quảng Nam lãng mạn khi xa vợ, Bùi Giáng có thể gặp gỡ, giao lưu với những người phụ nữ khác và nhận ra họ vượt trội vợ ông về một vài phương diện nào đó. Thế nhưng, tình yêu và nỗi xót xa dành cho người vợ ở quê nhà thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết:

“Mình ơi, tôi gọi bằng nhà

Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”.

 

Hai năm sau cái chết của người vợ trẻ, ông dẫn một bầy dê lên Nông Sơn chăn thả, ngao du qua những đồi núi, suối khe mơ màng để nhớ thương vợ. Hai năm sau đó nữa, ông gửi bầy dê lại cho chuồn chuồn và châu chấu, bỏ quê nhà đi chơi tiếp. Ở đâu, ông cũng phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Bài thơ nhớ vợ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm:

“Em chết bên bờ lúa

Để lại trên lối mòn

Một dấu chân bước của

Một bàn chân bé con!

Anh qua trời cao nguyên

Nhìn mây buồn bữa nọ

Gió cuồng mưa khóc điên

Trăng cuồng khuya trốn gió

Mười năm sau xuống ruộng

Đếm lại lúa bờ liền

Máu trong mình mòn ruỗng

Xương trong mình rả riêng

Anh đi về đô hội

Ngắm phố thị mơ màng

Anh vùi thân trong tội lỗi

Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang.”

 

Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi biền biệt. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ đến tha thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc ông nghĩ đến tình yêu của người vợ khổ. Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác, nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi mình bà, đặc biệt những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình:

“Đùa với Tuyết, giỡn với Vân

Một mình nhớ mãi gái trần gian xa

Sương buổi sớm, nắng chiều tà

Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?”

 

Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng:

“Mọi em là mọi sương xuân

Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh”

 

Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu:

“Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc

Nào phải không? Lệ chảy có vui gì?

Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc

Nước xuôi dòng, ngàn thu hận ra đi.”

 

Ông phong tặng người vợ của mình – con mọi nhỏ – lên thành mẹ của giang san:

“Em thành Mẹ của giang san

Em là thần nữ đoạn trường chở che.”

 

Thơ ông viết cho vợ càng lúc càng trang trọng. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà vụt trở thành hình tượng cao quý nhất trong lòng ông, trong thơ ông:

“Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê

Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề

Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ

Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ.”

 

Lắm khi ở phương xa, ông nhớ cố quận. Qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện trước mắt:

“Trung niên thi sĩ uống trà

Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?”

 

Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s