GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn Phát triễn tỉnh Long An (Phần II A)

tananPhần A :     

Địa hình , đất đai , khí hậu, sông ngòi- kinh rạch

Đường vào Mộc Hóa  xa xôi

                                               Dầu cao đứt đọ, sao rơi cánh chuồn!  

                                                      Gió đưa hơi lạnh chiến trường

                                              Ngàn năm di hận, Kiến Tường còn trơ!

                                          …         Kể từ cải cách năm xưa

                                               Dụ  Năm – Mươi- Bảy có vừa lòng dân ?

                                                        Dinh Điền, Trù Mật còn không ?

                                               Ấp nào Chiến – Lược thù trong  giặc ngòai ?

                                                        Người Cày Có Ruộng trong tay

                                               Tấn công Bình Định, dựng xây oán hờn!

                                                        Để rồi lộng giả thành chơn

                                                Vùng Kinh Tế Mới, mồ chôn sống người!

                                                         Trại gì Cải Tạo nực cười

                                                  Kẻ  ngu vác mặt dạy đời người khôn! …

( “Bài Thơ Đồng Tháp”, Hòang Châu )

Địa hình , khí hậu, sông ngòi, kênh rạch .

Địa hình tổng thể LongAn chia ra làm nhiều vùng nhỏ hơn vì một hệ thống chằng chịt sông ngòi và kinh rạch trầm tích bùn – silt từ  hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây  làm cao thêm địa thế  và tăng gia mức phì nhiêu của Long An cho phát triễn nông nghiệp.  Địa hình  tỉnh nhà rất bằng phẳng, ngọai trừ vài đồi, gò ở phía Bắc tỉnh. Phần phía Tây là  Đồng Bằng Lau Sậy – Plain of Reeds, Plaine des Joncs, nhưng Việt Nam lại gọi là trũng Đồng Tháp  hay  (đồng của những “tháp” xưa cỗ thời văn minh Ốc Eo – Phù Nam ?) hay Đồng Tháp Mười ( tháp mười tầng Đốc binh Kiều xây dựng ) . Khí hậu tỉnh  thuộc khí hậu gió mùa vùng nhiệt đới.

Mùa mưa kéo dài  từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô  từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.  Nhiệt độ trung bình tỉnh nhà là 27.4 0 C . Lượng mưa trung bình mỗi năm là  1620mm. Ba sông chánh ở Long An là sông Vàm Cỏ Đông , sông Vàm Cỏ Tây và sông Rạch Cát ( còn gọi là sông Cần Giuột, sông Sòai Rạp, chảy ra cửa Sòai Rạp, biên giới hai tỉnh Tiền Giang và Long An ngày nay). Sông Vàm Cỏ phát nguyên từ Căm Bốt có 2 nhánh: sông Vàm Cỏ Đông còn có tên là  sông  Bến Lức , dài 300km, chảy xuống tỉnh Tây Ninh ( Trảng Bàng – Gò Dầu ) rồi Long An và đổ ra cửa Sòai Rạp , sông Vàm Cỏ Tây  chảy qua Mộc Hóa đến Thủ Thừa, qua cầu Tân An  tỉnh lỵ Tân An , rồi nhập cùng Vàm Cỏ Đông  để đổ  ra cửa Sòai Rạp , còn gọi là cửa Vàm Láng ( theo Thái công Tụng- 2005 ) .

Ngòai một số kênh đào thời chúa Nguyễn  (  Bảo Định Hà , An Thông Hà ), thời các vua Gia – Long Minh Mạng  đào tay các kinh  nhỏ và ngắn  là kinh Bà Bèo phía  sông Vàm Cỏ Tây, kinh Ông Hống, kinh Cái Cỏ  nối rạch Cái Cái với  Svay Rieng ( năm 1815) , đào sâu và kéo dài 20 km , kinh Bảo Định năm 1819, nối liền sông Vàm Cỏ Tây  với sông Tiền  và  kinh tên Pháp là Arroyo de la Poste, từ Tân An đến Mỹ Tho… Lúc còn an ninh, Đệ Nhất Cọng Hòa đã đào kinh Đồng Tiến giữa trủng Đồng Tháp ngang qua hai tỉnh Đồng Tháp và Long An ngày nay và chiến tranh đã cản trở công cuộc  phát triễn thủy nông thủy lợi ở tỉnh Long An. Từ năm 1981 đến năm 2000, riêng hai tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp  ( một phần ngang qua tỉnh Long An ) đào thêm 600 km  đường sông,  và trên 2300 km  đường kinh  dùng đất đào làm thành đường bộ đến các thôn xã . Sau năm 2001, tổng số chiều dài sông ngòi, kênh rạch hai sông Vàm Cỏ tăng gia đến trên 8912 km , nhiều nhất trên sông Vàm Cỏ Đông; đưa nước sông Đồng Nai – La Ngà ( đập Dầu Tiếng ) về rửa phèn , ngăn phèn trồi lên mặt đất mùa khô… thay vì chỉ lưu ý đến nước hạ lưu sông Cửu Long mà thôi, khai thác Đồng Tháp Mười  làm 2 – 3 mùa lúa cao năng, biến vùng dân thưa thớt thành những thị trấn đông đúc như thị trấn Mộc Hóa ở tỉnh Long An , thị trấn  Tân Phước tỉnh Tiền Giang và thị trấn  Mỹ An, tỉnh Đồng Tháp…

                                                                    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,

                                                                    Nước  Tháp Mười long lánh cá tôm.

                                                                    Muốn ăn bông súng mắm kho,

                                                                    Thì vô Đồng Tháp ăn no  đã thèm.

                                                                    Đồng xanh điểm trắng cánh cò,

                                                                    Thương em vì bởi câu hò có duyên .

                                                                    Đốt than  nướng cá cho vàng,

                                                                    Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi

(Ca Dao Miền Nam ,  Phan Tấn Tài sưu tập )

…    Đất đai dầu có linh hồn,

                                                                    Mấy lần đổi chủ  đất còn nhớ  chăng ? 

                                                                                Đất phèn vàng gốc cỏ năng

                                                                    Hởi nhà trị thủy , biết chăng … Tháp Mười !

(   Bài Thơ Đồng Tháp, Hòang Châu )

 Vùng trũng  Đồng Bằng Lau Sậy đất  ẩm thấp-wetlands, rộng chừng 1 300 000 ha ( 13 000 km2 ),  bao gồm ở Việt Nam  phần lớn đất đai tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Tiền Giang và  tỉnh Long An  và một phần vùng Svay Reang ( Pray Veng, Svey Rieng ) ở Căm Bốt. Diện tích ở Việt Nam là trên 700 000 ha ( ? ).  Phần  Đồng Lau Sậy Việt Nam  gọi là Đồng Tháp Mười chiếm 360 000 ha gồm tòan là đất phèn – acid – sulphat soils, trong tổng số 1 600 263 ha đất phèn nuớc nh( Đồng Tháp Mười , Tứ Gíác Long Xuyên,  Trũng Sâu Vị Thanh tỉnh  Cần Thơ – Hậu Giang, và trũng Vũng Liêm- Long Hồ tỉnh Vĩnh Long v.v…).  Theo Thái công Tụng ( Việt Nam môi trường và con người – 2005 ), đất phèn được hình thành trên các trầm tích ở các cửa sông vào giai đọan  biển lùi  thời kỳ Holocen muộn  với các sản phẩm  trầm tích đầm lầy nước lợ, giàu hửu cơ và có chứa một lượng lưu huỳnh khá lớn. Căn cứ vào tầng sinh phèn, tầng phèn và độ sâu  xuất hiện những tầng này trong phẩu diện đất, có thể phân biệt  ra hai lọai chánh.  Lọai thứ nhất là  đất phèn tiềm tàng ( tiềm thế ) Sulfaquents , gặp ở các địa hình  những vùng ngập nước sâu nhất như vùng trũng Đồng Tháp Mười ; đất thường bị ngập nước và dưới lớp đất mặt có một tầng đất nhiều xác bả và ống rễ thực vật: đó là tầng đất chứa vật liệu sinh phèn như pyrit  tức sulfite sắt( FeS2). Tầng sinh phèn xuất hiện không sâu, nên nếu mực thủy cấp trong đất bị hạ thấp hơn so với điều kiện tự nhiên  thì tầng đất sinh phèn sẽ bị oxyhóa, gây độc ( chất độc sắt, chất độc aluminium – nhom , chất độc  hửu cơ  do yếm khí- ngập nước tạo ra và những nơi thủy triều xâm nhập là chất độc mặn… ), cho cây trồng. Lọai thứ hai là đất phèn họat động, ( đất phèn Sulphat trẻ ) Sulfaquets,  pH thấp hơn đất phèn tiềm tàng ( acid, chua hơn ), tạo ra từ đất phèn  tiềm tàng bị thóat thủy hoặc ở địa hình hơi cao hơn, có  điều kiện để  phèn tiềm tàng bị oxyhóa mạnh mẽ  tạo ra tầng phèn nằm rất cạn và khá dày : đất bị oxyhóa nền tầng  pyrit chuyễn thành tầng jarosit  màu vàng rơm( “ sét cứt chuột”), pH dưới 3.5 . Khi phèn bốc lên  đất mặt mà màu trắng- vẫn xanh , nông dân gọi là phèn lạnh . Khi nổi váng đỏ vì có nhiều chất sắt, họ gọi là phèn nóng . Hàm lượng phèn biến đổi theo thời gian và không gian.  Nước phèn di chuyễn từ nơi cao xuống nơi trũng thấp,  kéo phèn xuống tích tụ ở các rốn phèn tức là những lòng chảo hứng phèn của các  nơi cao xung quanh. Như vậy các đất phèn  tỉnh nhà còn bị lũ  lụt Sông Cửu Long  thay đổi tình trạng ngập nhiều ít  mỗi năm. Lọai đất quốc tế gọi là đất phèn già , sulfic tropaquepts là lọai đất có tầng sulphuric sâu hơn 50 cm từ mặt đất như ở các cánh đồng Luzon – Phi Luật Tân và Bangkok – Vọng Các – Thái Lan cũng như ở những vùng đất khá cao Đồng Tháp Mười, ven biên giới Việt Miên từ  Mộc Hóa xuống Tân Châu ở các gò giồng là lọai đất phèn tương đối dễ xử lý, cải thiện hơn.

 Cũng theo Thái Công Tụng, nước lũ chuyễn về Đồng Tháp Mười  từ biên giới Căm Bốt chiếm đến 77 % khối lượng, nhưng chất lượng kém vì trước khi chảy vào nước ta đã phải chảy qua cánh đồng phèn Cam Bốt  và bị cây cỏ lọc gần hết phù sa. Nồng độ phù sa  sông Cửu Long là 0.250kg/m3 và thể tích hàng năm  lên đến hàng trăm triệu tấn. Nhắc lại là lưu lượng trung bình sông Cửu Long  là 10 700m3/giây, vào mùa lũ lụt cao có khi lên đến 53 000m3/giây;  vào mùa kiệt  tháng 3 -4  lưu lượng chỉ còn 2 000m3/giây . Khi lưu lượng nước trong sông  vượt 25 000m3/giây , 25 % đất đai châu thổ đã bị ngập nước . Vào mùa khô, khi lưu lượng sông Cửu Long  nhỏ hơn 6 000m3/ giây , nước ngọt đã bắt đầu khan hiếm và dòng chảy  sông đã yếu , nên  nước biển theo thủy triều  lấn sâu vào nội  địa, các vùng ven biển  nhiễm mặn. Ủy Ban sông Mê kông ( NIAPP- 1989 ) đã chia ra  6 vùng thời gian ngập nước ( xem hình)   từ không ngập nước đến  ngập nước ít hơn 3 tháng,  ngập nước 3-4 tháng, 4-5 tháng và lâu hơn 5 tháng. Thị xã Tân An, các vùng Long An  dọc theo Vàm Cỏ Đông  đến Mộc Hóa thời gian ngập nước ít hơn 3 tháng , phía trên Cao Lảnh  ở các trũng “tứ giác” giữa  Đồng Bắc Chiên , Cái Cái , Vĩnh Hưng , Mộc Hóa  ngập lâu nhất từ 4-5 tháng đến trên 5 tháng. Ngòai  ngập lụt , điều kiện khai thác đất đai còn bị trở ngại vì nước mặn xâm nhập  mùa khô sâu xa, quá Bến Lức trên sông Vàm Cỏ Đông và Thủ Thừa trên sông Vàm Cỏ Tây ( xem hình ). Trên sông Cửu Long nước triều  mùa khô lên đến Kong Pong Cham trên nhánh sông Mê Kông giữa Nam Vang – Pnom Penh và  Kratie  ở Căm Bốt. Long An có chế độ  nhật triều không đều, có nghĩa là số  ngày bán nhật triều ( một  ngày có hai lần thủy triều lên  xuống )  nhiều hơn số ngày nhật triều ( một ngày chỉ có  một lần thủy triều lên, một lần thủy triều xuống). Mực nước thủy triều có ảnh hưởng lớn đến đồng bằng Long An, Đồng Tháp Mười, từ  chuyên chở trên sông, kinh, rạch đến rút nước phèn, đưa nước vào ruộng tưới tiêu … Cũng vì vậy mà  NIAPP, Ủy Ban Ban sông Mê Kông, năm  1989, đã chia  đồng bằng Vàm Cỏ – Châu Thổ sông Cửu Long Việt Nam   ra thành 15 tiểu vùng sinh thái đất đai và thủy tính- agro ecological zonation , tùy thuộc độ phèn , độ mặn , ngập nước sâu cạn và lượng mưa thấp hay cao .  Đất đai dọc biên giới Việt Miên  từ Tân Châu ( tỉnh  An Giang ) đến Mộc Hóa, Nông Trường Đồng Tháp , Đức Huệ…   thuộc nhóm 4 nghĩa là ít cản trở về phương diện đất ,  mực nước ngập cạn: vùng Bến Lức thuộc nhóm 12 mùa khô bị mặn, đất đai không mấy phèn, lượng mưa thấp;  vùng trũng Bắc Chiên, Vĩnh Châu,  Bắc Hòa, Tân Thạnh , Nam Mộc Hóa…  thuộc nhóm 5 , đất đai khá phèn, ngập sâu; Vùng Lương Hòa , kinh Bo Bo phía Bắc Thủ Thừa thuộc  nhóm 6, đất  rất phèn và ngập sâu; vùng từ Tân An xuống Mỹ Tho, bến đò  Mỹ Thuận , thuộc nhóm 8   đất không phè , ngập cạn …Thế nhưng phân chia sinh thái này hầu  giúp qui định dinh  chánh sách khai thác  Đồng Tháp Mười,  sau các năm 2001- 2003,  đều tỏ ra có phần bi quan.

Thực vật và động vật

Đồng Tháp Mười nguyên là một vùng  rừng cây cỏ rậm rạp um tùm,  nhưng nay  phần lớn đã được khai thác trồng lúa; chỉ còn  lại hai vùng thiên nhiên nhỏ được bảo vệ.   Ở tỉnh Long An là Láng Sen ,  còn sót lại một khu rừng tràm bán thiên nhiên dọc theo một rạch thiên nhiên vì vậy còn gía trị đa dạng sinh học quan trọng. Diện tích  bảo vệ ở Láng Sen  là 3280 ha , trong đó rừng tràm thiên nhiên chiếm khỏang  700 ha.  Nhũng liếp hoa sen- lotus và trảng  cỏ  cùng chiếm chừng 700 ha. Diện tích còn lại ở Láng Sen cũng đã trở thành ruộng lúa . Đồng Tháp Mười kiểm kê được 127 lòai thực vật , theo 3  sinh thái chánh :

_-  Trảng cỏ ngập  theo mùa lũ chia ra nhiều thứ . Thứ cỏ  ngự trị là lòai cỏ năng( spike rush ) Eleocharis dulcharis ? – dulcis  họ Lác Cyperaceae làm  đồ ăn chánh cho Sếu , đặc sắc cho vùng đất phèn nặng  mùa nước nổi , một thực vật đa niên nhờ củ nhỏ, thân có thể cao vài mét  ( không nên lầm với  cũ mã thầy hay năng củ – water chesnut, chataigne d’eau ,trồng nhiều ở miền Bắc và nay cũng trồng bán siêu thị Á Đông, Hoa Kỳ tên la tinh là E. dulcis var. tuberose )  và  lúa ma- lúa trời Oryza rufigopon ( tên cũ là O. sativa f. spontanea), một loài lúa thiên nhiên nhưng đa niên thay vì hàng niên như lòai lúa hoang dại gần gủi là Oryza  nivara , hột dễ rơi rụng , xen lẫn  vài đám tràm.  Lúa trời là một lòai lúa hoang dại hiếm có  của tông chi   Lúa Oryza, một lòai cỏ hòa bản mọc theo nước lũ được, thân lá có khi dài hơn  4m và trấu có   chóp lông gai- awn dài11cm.  Lòai cỏ năng  khác  thấy nhiều ở Đồng Tháp là cỏ năng nĩ , bụi thưa chỉ cao 20- 50cm, thân xốp dùng làm nệm , tên la tinh là Eleocharis ochrostachys.

– Các đồng lầy sen súng – lotus swamps cũng là một đặc điểm thực vật của Đồng Tháp, nhưng nay diện tích sinh thái này càng ngày càng eo hẹp. Lòai sen hoang dại Đồng Tháp là Nelumbo nucifera họ Nelumbonaceae  hoa trắng hay hường -tim tím  căn hành- củ, cuốn là tròn, có gai nhỏ, phiến lá hình lọng to, bế quả ăn được,tiểu nhụy  mũi cong cũng dùng ướp trà hột đen , mầm- ngòi  màu lục đậm dùng làm thuốc trấn an , làm ngũ .  Các lòai súng. họ Súng Nymphaeaceae  thường thấy là lòai súng lam ( Blue  Lotos of India, Indian Blue Water lily )  Nymphaea  nouchali, căn hành tròn tròn,  cuống dài  cả 2m  mặt dưới lá màu đỏ , hoa rộng 7- 15cm  màu lam lợt hay trắng nở từ  sáng đến trưa, lòai súng trắng (  night lotos ) Nymphaea pubescens , phiến lá xanh đậm láng mặt trên ,mắt dưới đầy lông mịn màu nâu ( khác với lòai sen súng Ai Cập- Egyptian Sacred Lotos mặt dưới lá không lông ) , hoa trắng hay hường, chỉ nở sáng sớm;  và lòai súng chỉ -súng vuông- súng co Nymphaea tetragona là lòai hoa súng cây nhỏ nhất trong tông Nymphaea .

Các rừng ngập nước  gồm những đám  rừng tràm rải rác bán thiên nhiên  liên kết với những lòai trâm Sygysium spp. họ Sim Myrtaceae, lòai năng ẩm thấp Eleocharis hygrophilus , lòai sung gừa đại mộc Ficus microcrpa , họ dâu tằm Moraceae ,và lòai Ô môi Cassia grandis họ-phụ Điệp  Caesalpinoideae và   các rừng tràm trồng lại ở nhiều giai đọan tăng trưởng,  từ cây tràm  con đến cây trưởng thành đốn được rồi, thân cao đến 9m.  Rừng tràm Đồng Tháp như vậy không  còn ngút ngàn như thời xa xưa nữa, khác với rừng tràm nay  còn mênh mông vùng U Minh Thượng – U Minh Hạ hai tỉnh Kiên Giang – Rạch Gía và Cà Mau. Tràm  ( cajeput tree, paper bark tree, Niaouli )  theo Phạm Hòang  Hộ, Cây Cỏ Việt Nam – 2003 ) tên la tinh là Melaleuca  cajuputi Powel, không phải là Melaleuca  leucadendron L.f. là lòai tràm lá hẹp hơn, gié ở nhót chánh chỉ tìm thấy ở  Úc Châu, Tân Ghi nê và Molucca ( theo Blake từ năm 1968 ) M. cajuputi là một đại mộc cao đến 20m , thân to 30cm, vỏ trắng xốp làm nguyên liệu sản xuất giấy tốt, lá rất thơm  chưng cất cho tinh dầu màu lục, phiến lá thon không lông, mùa hè hoa nở trắng xóa, huơng hoa tràm quyến rũ ong từ các nơi về hút mật hoa. Cũng xin nhắc lại là ở  rừng tràm mọc  um tùm các cây mốp  và nhất là  dây chọai  ngâm nước có độ bền bỉ không kém song mây, khác với rừng đước  nền là bải sình trống trải. Chọai – Chại  tên la tinh là Stenochlaena- Polypodium palustris là  một dây ráng – fern, fougère,  thân leo rất dài có khi đến 20m, phiến là  lưỡng hình dài đến 1m. Ngòai vấn đề  rạch, kênh mương bị  bèo lục bình- bèo Nhật Bổn ( water hyacinth, jacinthe d’eau ) Eichornia- Pontederia crassipes , nguồn gốc Brasil không phải  gốc Nhật xâm  chiếm Việt Nam từ năm 1902,  cản trở giao thông như trên khắp thế giới, đáng lưu ý là một lòai trinh nữ đầm lầy thay vì là Trinh nữ – Mắc cỡ ( lòai Mimosa pudica ) phát hiện đã xâm nhập Đồng Tháp Mười từ năm 1995 , năm 2005 đã lan rộng trên  2000 ha ở Tràm Chim  và  gần Mộc Hóa, tỉnh Long An.  Cỏ Trinh nữ nhọn hay bèo Mai dương tên la tinh là Mimosa nigra L.  là một cây cứng cao 2- 3 m, bụi  có khi cao đến 4m , sóng lá  mang một gai đứng cao 1.5cm giữ mỗi cặp thứ diệp, lá khi đụng tới cũng xếp lại, nhưng chậm hơn Mắc cở M .pudica,  hoa đầu vàng không màu hường như hoa Mắc cỡ…

Cách Láng Sen khỏang 23 km phía Tây Nam là Công viên Quốc gia Tràm Chim(  huyệnTam Nông ) rộng  7 740 ha, có 53 km kinh rạch, chia công viên ra làm 6 nhóm sinh thái. Phần lớn thuộc tỉnh Đồng Tháp. Nguyên thủy  thiết lập năm 1885 là một khu bảo tồn có mục đích  bảo vệ sinh thái đất ẩm thấp- wetland ecosystem  vùng Tam Nông và Sếu Sarus Crane. Tháng 12 năm 2012, Công viên Tràm Chim được  Tổ chức Qui ước Ramsar về Đầm Lầy-  Đất Âm Thấp- Ramsar Convention on Wetlands công nhận có tầm quan trọng quốc tế, vì đây là một trong những mảnh đồng thiên nhiên còn sót lại của 700 000 ha vùng Đồng Tháp Việt Nam. Vị trí này cũng là một vài địa điểm đặc sắc có   Lúa Ma Trấu Râu, mũi trấu nhọn dài- Brownbeard  Rice ( Oryza rufipogon). Công Viên Tràm Chim còn giúp bảo tồn 9 lòai chim và 5 lòai cá có nguy cơ tuyệt tích trên thế giới là cá Bengal Florican, Houbaropsis bengaliensis, và cá chép khổng lồ – Giant Barb – Catiocarpio siamensis. Tràm Chim cũng nhận mùa khô mỗi năm 20 000 chim nước – water birds  mà hơn 1% sĩ số là  lòai Sếu đông phương- Eastern Sarus Crane, Ngỗng ( ?)-  Grus antigone sharpii, và đặc biệt là Cò Trắng –White herons, Storks …Đáng tiếc là theo quan sát các nhà khoa học Việt Nam, năm 1988 đếm được hơn 1050 con Sếu Đông Phương Sarus Crane, năm 2011 chỉ còn đếm được 100 con thôi, có lẽ vì diện tích  cỏ năng Eleocharis dulcis,củ nhỏ thực phẩm chánh cho sếu, giảm nhiều. Như vậy cần tăng gia bảo vệ Cò( Sơn ) Trắng – Painted Stork, một lòai cò lớn nặng đến 10 kg, đứng cao hơn 1m  và cánh mở rộng đến 1.5 m . Cò Trắng Đồng Tháp cũng đã được xếp vào lọai bị hiểm nguy tuyệt tích. Thêm vào đó nên chú ý thêm đến  đàn Bồ Nông – Cormorants lòai chim to lớn Đồng Tháp, cùng Sếu Sarus và Cò ( Sơn ) Trắng là những động vật đặc sắc thu hút khách thăm viếng. Ban quản lý Công viên  vùng Tràm Chim kiểm kê được 231 lòai chim ( trong đó có 32 lòai chim hiếm có, 130 lòai cá nước ngọt, 110  động vật  sống  nước nổi – floating animals, trong đó 23 lòai sống dưới đáy nước, cùng nhiều lòai lưỡng cư,  ếch nhái – amphibians  bò sát – reptiles. Tháng 7 năm 2005, Việt Nam khám phá ra lòai cá sấu xiêm hoang dã – siamese wild crocodile  Crocodylus  siamensis tưởng đâu là đã tuyệt tích ở nước  nhà và được xem là động vật đang bị hiểm nguy tuyệt tích trên thế giới.

Mùa khô, nước vùng Tràm Chim chỉ còn sâu 40 -50 cm. Mùa lũ nước ngập 1- 1.2 m. Cũng như  bèo Mai Dương, cỏ Trinh nữ nhọn,  ở nhóm động vật đất ẩm thấp, lọai ốc bưu vàng – golden snail  nguồn gốc Nam Mỹ xuất hiện năm 1986,  khởi đầu  phá hại sinh thái ẩm thấp Đồng Tháp – Tràm Chim rồi lan rộng khắp đồng ruộng miền Nam.  Lúa ma Oryza rufipogon,  cỏ hội đòan cỏ  Mồm Ấn Ischaemum indicum  Merr. họ hòa bản Gramineae – Poaceae, một thực vật có căn hành –củ  cao 0.5 -1m, phát hoa hình trụ gồm 2 gié, hột dài 5 cm vỏ trấu dưới có có cánh, các củ  cỏ năng Eleocharis spp., các đám cỏ Môi, Bấc- rice cut grass Leersia hexandra, một lọai cỏ đa niên có chồi dài mọc thành đám, phiến lá hẹp và dài có bìa rất sắt,cắt đứt da,  nhưng trâu bò rất thích ăn, hột trấu tương tự các giống lúa trồng trọt… là những thực phẩm chánh cho ốc bưu vàng, lọai ốc cạnh tranh mảnh liệt với các ốc địa phương. Sau vụ lúa hè thu, ruộng ngập nước và mùa lũ kéo dài, ốc bưu vàng sinh trưởng và phát triễn mau chóng. Trung bình sau mùa lũ, mỗi ha ruộng  sau khi bơm nước ra làm vụ lúa đông – xuân, bắt  được cả tấn ốc lớn, ngòai vô số kể ốc con. Nếu không diệt được ốc bưu vàng, chúng sẽ ăn sạch lúa. May mắn là từ năm 2009, thay vì phải dùng thuốc trị ốc, tốn kém và tai hại môi sinh,  nông dân vùng  Đồng bằng Củu Long phát hiện là dùng thịt ốc bưu vàng ( 2kg ốc vỏ cho 1kg thịt ốc )  làm nguồn thức ăn nuôi cá tra, cá trê ,tôm càng xanh , cua đồng… thay thế cá tạp, cám, thức ăn công nghiệp- tổng hợp thì thấy tôm cá cua  ăn nhiều và mau lớn hơn .  Vịt đẻ cũng rất thích ăn ốc bưu vàng hơn là lúa, cho tỷ lệ trứng rất cao.    

Du lịch Long An

  

         Cheo xuồng ba lá giữa rừng tràm

         Chèo xuồng ba lá thăm viếng rừng tràm rất địa phương hấp dẫn. Xuồng  ba lá làm bằng ba mảnh gỗ  ráp lại.  Thường do một cựu nữ quân nhân du kích  miền Nam từ thời Kháng chiến, mặc áo quần bà ba đen miền Nam, đầu đội mủ vải mềm ,  chèo với mái chèo, mau lẹ đẩy  xuồng lướt  băng băng trên kinh rạch sâu, nhưng khi rạch cạn thi chống  xuống tiến tới bằng một sào tre dài.  Xuồng  có thể chở 2-3 người tùy cân lượng nặng nhẹ .Muốn  du ngọan vườn tràm thì nên  khởi hành từ  Xẻo Quýt tỉnh Đồng Tháp, hơn là từ một vị trí rừng tràm Long An. Xẻo Quýt là một căn cứ chiến khu Đồng Tháp thời kháng chiến chống Pháp và thời chống  quân đội VNCH và quân đội Hoa Kỳ (  từ năm 1964- 69 là sư đòan 9( ? ) bộ binh  Hoa kỳ đóng ở căn cứ Đồng Tâm và rút đi năm 1969 ? )  sau đó. Rừng tràm là một nơi giữ  nước ngọt lớn,  chống lại xâm nhập nước mặn thủy triều và nguồn trồi phèn chua- acid lên mặt đất , điều hòa ẩm độ đất vào mùa khô.Thời kỳ chiến tranh, đây là vùng đất lý tưởng cho “quân giải phóng” và bộ đội miền Bắc.  Kinh chằng chịt, xây dựng từ đầu thế kỷ thứ 19,  nay đã trở thành những  đường chuyễn vận, giúp dân gian địa phương  khai khẩn đất hoang, trồng lại rừng tràm và ngừa lữa cháy rừng. Phát triễn “văn hóa, xã hội , kinh tế rừng tràm “ được khuyến khích mạnh mẽ sau 1986, liên kết cùng lịch sữ quốc gia  khai khẩn hoang địa và bảo vệ lảnh thổ quốc gia. Rừng tràm  ngập nước đỏ nâu đầu mùa mưa là một sinh thái  điển hình miền nhiệt đới cho chim chóc, cá và động vật hoang dã vừa kể trên.  Gỗ tràm mềm dẻo, kháng mục nát hay dùng xây cất nhà cửa, làm sàn nhà. Cho nên ngày nay Việt Nam thiếu gỗ trầm trọng, rừng tràm hay bị tàn phá, lạm thác trong một nền kinh tế chuyễn động về thị trường theo trào lưu hội nhập quốc tế, nếu chánh sách bảo tồn và trồng lại rừng yếu kém, quản lý không mấy hửu hiệu. Hơn nữa mùa khô, cây tràm dễ cháy, gây ra những đám lữa rừng lớn khó chửa, như đã xảy ra năm 1984. Mùa mưa, thăm viếng rừng tràm vô tận, mênh mông khu Đồng Tháp Mười là một chuyến du lịch hi hửu. Chèo ghe, xuồng trong rừng tràm Xẻo Quýt cần phải khéo léo.  Muốn tiến tới xuồng phải lướt đi giữa các hàng cây tràm rễ  chắc nịch  và võ  nhiều  lớp  mỏng màu nâu.  Nhưng  khí  trời mát lạnh, ẩm ướt và hương hoa tràm thơm ngát. Thỉnh thoảng lại được nghe chim hót và tiếng động cá nhảy vọt vang dội trong bầu không khí yên tĩnh.  Rừng tràm trông  tựa một phong cảnh  vẽ trên mặt nước nổi. Ánh dương làm sáng chói những hàng cây tràm đầy dây chọai leo quấn, tạo dựng một sắc khí đầy sống động, hoang sơ.

Di tích Bình Tạ ( ?) cỗ xưa    

        Một trong những điểm  chưa hút dẫn  nhiều du khách vào tỉnh Long An là  giá trị nhân sinh của nền văn hóa Ốc Eo, phát huy ở Châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ I- 1 đến thế kỷ VI- 06 sau công nguyên, mang  nhiều đặc tính văn hóa Ấn Độ.  Như chúng ta ít biết , trên các đồi đất đỏ miền Đông Nam bộ cũng như trên các giải đất cao ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, các nhà khảo cổ đã phát hiện  một hệ thống di tích thời đại  đồng thau  đến sơ kỳ thời đại sắt, tương đương niên đại Phùng Nguyên – Đông Sơn  văn minh Sông Hồng và  văn minh Sa Hùynh – Quảng Ngãi.  Các nhà khảo cỗ Pháp, từ những kết quả thu lượm được qua các khảo sát bằng máy bay các luồng nước trong vùng Tứ Giác Long Xuyên và các khai quật  di tích Ốc Eo đầu thập niên 1940 của Malleret, đã làm sống lại một nền văn hóa  một thời tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á : đó là văn hóa Ốc Eo. Trước đây người ta chỉ  mới biết đến các di tích ở vùng Ốc Eo cạnh chân núi Ba Thê thuộc tỉnh An Giang và vùng bìa rừng U Minh với di tích Trăm Phố , sau Chiến tranh Tương tàn Nam Bắc, ngày nay chúng ta được biết  là văn hóa Ốc Eo   đã vượt qua Sông Hậu  sang tận Đồng Tháp- Long An, tới thượng du Sông Đồng Nai. 12000 đồ vật đã được thu thập từ 20 vị trí di tích tiền sử và gần100 di tích thời Ốc Eo.  Ngòai ra, ngay ở tỉnh  Long An cũng có đến  trên 40 đền đài công sự kỷ niệm  quan trọng cách mạng và lịch sử quan trọng đất nước, những cơ cấu và viễn cảnh danh tiếng như  nhóm di tích Bình Tạ ( Đức Hòa ), các  đền đài kỷ niệm vùng Vàm Nhựt Tảo, nhà Trăm Cột …Di tích  cỗ xưa Bình Tạ  nằm ở xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa  tỉnh Long An, cách thị xã Tân An chừng 40 km về phía Đông Bắc, trên con đường Tân An- Bến Lức- thị trấn Đúc Hòa và cách đường tỉnh lộ  mới số 824 ( nguyên là  tỉnh lộ số 9 ) 800m về phía Đông.  Đây là một trong số hơn 60 di tích  khảo cỗ tập trung ở huyện Đức Hòa.  Di tích Bình Tạ thuộc nhóm 16  kiến trúc cổ tích có hồ xưa cũ bao quanh,  như  Gò Xòai , Gò Nam Tước , Gò Đồn.

Di tích Gò Xòai

      Gò Xòai là một đền thờ xây bằng gạch, hình thể có phần vuông vức , mỗi cạnh dài 20m. Cấu tạo nền đền thờ rất chắc chắn và rất phức tạp vì những vật liệu xây dựng rất khác nhau tỉ như basalt, sỏi đá cuội, sạn đỏ, cát trắng, cát hồng v.v… Kiến trúc Gò Xòai chứa một lỗ hổng vuông làm nơi thờ phụng, mỗi cạnh dài 2.2 m  và sâu trên 2. 5m  cho tro xương cốt người quá cố và  trưng bày  những  thu thập đồ vật có giá trị, gồm các  vật thể  khắc chạm linh thiêng lốm đốm hạt vàng kim như rùa , rắn, voi và đá quý hiếm đặt trong những vòng –kiềng và kim khí, cùng bảng ghi  văn hóa Sanskrits – Pa Li  gần dưới đáy lỗ mồ chôn. Cấu trúc Gò Xòai được liệt vào  lại tháp – chùa chứa thi hài sư sải Phật Giáo, vào thời kỳ xưa cỗ sớm nhất ở Đồng bằng Công Cửu Long, mang đậm nét phong cách Tây Phương Thiên Trúc.

Đền thờ Gò Nam Tước

Là một  đền thờ kiến trúc bằng gạch  dài 17.2m và rộng 11.1 m. Phần trên đền thờ đã  đổ nát , nhưng  vẫn còn tiêu biểu cho kiến trúc của văn hóa Ốc Eo .Tỉ như  cơ cấu góc cạnh bẻ gãy, gạch rất thẳng hàng ở các đường nền và  cổng vào ba cửa hình bán nguyệt nữa tròn về phía Đông chứng minh là cơ cấu đền thuộc về Ấn Độ Giáo.

Tháp đền thờ Gò Đồn

Cũng là một kiến trúc xây bằng gạch, dài 78.5 m  theo hướng Đông Tây, rộng 60m theo hướng Nam Bắc, trước khi khai quật, tổng thể là một ngôi mộ, phần  mộ gần mặt đất nhất  sâu 0.4 m. Các đồ vật bằng đá trưng bày  trong mộ là tượng  Thần giữ đền -Dvarapala genie, đầu tượng Thần Ban Phước Lành-  Ganessa genie , nhiều vật thể thờ phụng gồm linga , yoni, mi, cửa vào  khắc đẻo những hình hoa-lá, ống dẫn nước thánh (somasutra) cùng nhiều vật thể đồ gốm bình -chậu thu thập khi khai quật. Ở lỗ chôn  thờ cúng, trung tâm di tích , sâu 3m là một vật thể  đã bị bễ vở linh thiêng yoni và rất nhiều đá cuội, nghi là đá thờ phụng.

Viện Bảo Tàng Long An

Thiếp lập ở  trung tâm Thị xã Tân An, thuộc phường 4. Rất nhiều cỗ vật giá trị và hiếm có, nhiều ý nghĩa văn hóa, nghệ thuật được trưng bày ở đây, đa số là đồ vật khai quật từ các di tích  văn hóa địa phương, rất hấp dẫn cho tham quan và khảo cứu . Đặc biệt  tượng Quan Thế Âm Bồ Tát – Goddess of  Mercy có  một ngàn tay, một ngàn mắt là  một cỗ vật  khắc trên gỗ  duy nhất được trưng bày, đã được nghệ nhân tỉnh nhà sao chép lại  từ tượng Quan Âm chùa Bút Tháp ngòai Bắc.

Nhà trăm cột

Đây cũng là một  cơ cấu xưa cỗ khắc đục, thường có tên là nhà trăm cột – one hundred column house,  vì đã được dựng lên trên hơn một trăm cột, do dân gian  xã Long Hửu Đông làm ra. Diện tích là 882m2, nhà trăm cột được xây cất trong một khu vườn  rộng 4 044m2 , mặt tiền nhà  hướng về  Tây Bắc. Tòan thể nhà làm bằng gỗ lọai quý như gỏ mật- rose wood , gỏ đỏ, gỏ vua- barian king wood, mái lợp hai lớp ngói và tầng ( ? ) xây  bằng đá khắc  đẻo , cao 0.9 m ,  mặt sàn nhà lớp bằng gạch lục giác. Trên họa đồ nhà trăm cột có hình chữ “ Quốc”    gồm  ba gian – compartments , hai chái- lean -tos. Nhà chia ra làm hai: phía trước là căn thờ phụng  và phòng khách ngoại, phía sau dùng cho gia đình ở. Toàn thể hệ thống giàn, vì kèo – trusses  chạm nổi và điêu khắc tỉ mĩ! Đề tài là những đám mây hóa rồng, cây cỏ bốn mùa : dây leo –  song mây, lá và hoa theo đặc điểm  điêu khắc Huế. Gian thờ phụng và khách ngọai  điêu khắc theo phương thức cổ điển  nghệ thuật  đa lọai và phong phú,  tỉ như bốn  siêu nhân –tứ bất tử thần thông, 8 trái cây- bát bửu tượng trưng cho  Phúc – Lộc – Thọ  và cây trái miền Nam  như mảng cầu, bình bát, khế, măng cụt … đều được  nghệ nhân địa phương  tỉ mĩ, khéo tay biểu hiện  kỷ thuật nhà nghề trên bao lơn- ban công, khung rầm đơn vị, tường vách, bàn thờ, ghế, bàn tròn ,bàn dài.

           Núi Đất , một di tích đẹp tỉnh nhà

Từ thị xã Tân An dọc theo  tỉnh lộ số 49 cách thị trấn Mộc Hóa chừng 65 km, sau khi đến ngã rẽ Biên Phòng  , quay qua phía trái chừng 500m, bạn sẽ thấy Núi Đất -Earthy Mountain . Mặt mày bạn sẽ cảm giác gió núi  nhẹ, mát mẽ thổi qua khi đến gần núi. Từ xa, Núi Đất tưởng như  một hòn đá lớn  mọc lên giữa một hồ  xanh ngắt, trong sáng, yên tĩnh và thơ mộng. Núi Đất chia ra làm đảo nhỏ . Đảo nhỏ đầu tiên là một núi  cao 10m, đảo nhỏ nhất chỉ cao 5m. Đa số đá lớn các đảo phủ đầy rêu, gió núi thổi qua vi vu, xói mòn đá : những cổ thụ đã trăm tuổi chen lẫn  trên đá, tỏa bóng  lối mòn bậc thang. Quanh Núi, những lối mòn  trải đất, có đê đá chắn sóng  dọc theo bờ nước hầu bảo đảm an tòan cho du khách.  Đảo nhỏ  thứ hai là một núi xây dựng từ mặt đất có một cầu nhỏ, dài  bắt qua đảo lớn nhất.  Đảo nhỏ thứ ba ở phía  trái  một hồ sen  có hình dạng một chuông tuyết- snowbells  đá. Giữa hồ có hai đình tạ  nổi để du khách  hưởng không khí tươi mát và trò chuyện.  Bên bờ hồ là những nhà làm việc, phòng tiếp khách, khách sạ, vùng trồng hoa, cây kiểng bonsai, chim chóc và động vật Long An.

Di tích lịch sử  Vàm  Nhựt Tảo

Khúc cắt ngang  sông Vàm Cỏ Đông và sông  Nhựt Tảo  là Vàm  -cửa sông nhỏ Nhựt Tảo , một vùng  yên tĩnh và an lành của xã  An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.  Ngày nay, khi  đi tàu – ghe  từ  Sông Vàm Cỏ Đông xuống  địa phận xã An Nhựt Tân, du khách có thể thưởng ngọan vẽ quyến rũ của Vàm Nhựt Tảo.  Sông Nhựt Tảo tuồng như khá rộng, trong như  pha lê, rất đẹp nhờ những nhà thu mình núp dưới  các hàng  dừa nước Nipa sp. và vài lòai hoang dã  như cây rừng sác đại mộc Bần chua Sonneratia caseolaris L. Sương đang tan dần,   trải khắp mặt nước dòng sông ửng hồng vì ánh sáng mặt trời  mọc và giọng hò khoan  ngư dân vọng lại từ xa.

Vùng Miếu Bà Cố

Đây là một ngôi đền nhỏ đã hiện diện hơn 150 năm nay ở thôn Bình Trị,  xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành .

Nơi đây  vào ngày 24/02/1954,  tiểu đòan 309 và bộ đội  Châu Thành đã phục kích đánh tan tành một tiểu đòan và một đại đội địch quân, sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp.

Vườn hoa và kiểng bonsai Thành Tâm

Thiết lập ngay giữa trung tâm thị xã Tân An. Vườn trưng bày nhiều hoa mới cũ và  kiểng, có  chậu đã trên 100 tuổi thọ. Rất nhiều  chậu đã đọat giải thưởng ở hội thi đua hoa- kiểng miền Nam, vào mỗi mùa Xuân. Nhiều nghệ nhân tài ba tỉnh,  đã có tầm nhìn xa xăm,  nhắm vào các nghệ thuật  núi Phú Sĩ ( Nhật ), đền đài Angkor ( Cam bốt), Kim tự tháp Ai Cập , thành  quách nội ngọai Huế …

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s