Lẩm Cẩm – TẾT CON RẮN

Vèo một cái, lại sắp Tết! Rồng sửa soạn bay đi để cho Rắn bò tới.

Tết là tên gọi của ngày hội đầu năm âm lịch. Ngày trước, ông bà ta ăn Tết cả tháng:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc

Tháng ba hội hè…

Khi còn cắp sách đến trường, Lẩm Cẩm nhớ đại khái là được thầy giảng cho nghe là “Tết” từ chữ “Tiết” trong tiếng Hán mà ra. Như vậy là bà con ta lại mượn thêm một chữ nữa của Tàu! Thế nhưng, gần đây Lẩm Cẩm được đọc một bài viết của bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, qua đó ông chứng minh chữ “Tết” không phải từ chữ “Tiết” của Tàu ra, mà là tên dùng để gọi ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc trong vùng Đông Nam Á; còn “Tiết” là chữ Tàu để gọi những thời tiết thay đổi trong một năm.

Ông thày thuốc tây này cho biết:

 

-Chỉ người Việt mới gọi Tết là “Tết”, còn nguời Tàu gọi ngày đó là “Nguyên

Đán” [duỳn tản] hay “Tân Niên” [xin nển] và lý do rất dễ hiểu: “Tết” không phải là tiếng của họ. Khổng Tử từng nói trong kinh Lễ Ký là “Ta không biết Tết là gì. Nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn người Man. Họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ đặt tên cho ngày đó là “TẾ SẠ”.

-Có cả chục dân tộc ăn mừng ngày đầu năm của họ mà cái tên họ dùng để chỉ

ngày này đều giống với tiếng “Tết” của dân Giao Chỉ.

-“Tết” là tên gọi cái ngày ăn mừng đầu mùa mưa, và sau này trở thành ngày ăn

mừng đầu năm âm lịch của các dân Mường, Nùng, Thái, Zhuang, Chàm, Mon, Khmer, Vùng đông bắc Ấn độ, Nepal, Mustang, và Munda.  Ở xứ Nepal, bên đông bắc Ấn độ, thì ngày lễ đầu mùa mưa được gọi là “Teetj”. Trong mấy ngày đó, dân Nepal ăn mừng, ca hát, nhảy múa, uống ruợu và tạt nuớc vào nhau để chúc lành cho nhau. Các xứ chung quanh Nepal như Sikkhim và Bhutan thì người ta gọi ngày đầu mùa mưa là “Tiitj”

 

Trong bài viết của ông, bác sĩ Vọng cũng liệt kê những từ đồng nguyên ở trong khắp vùng Đông Nam Á có dính líu với chữ “TẾT”:

 

Nùng: Tết; niên Tết là năm Tết.

 

Muờng: Thết; ăn Thết là ăn Tết

 

Thái: Thêts là lễ mừng năm mới [New Year celebration]; Thêts khal là Mùa Tết, những ngày Tết; Thêts Thày là Tết Thái [Thai New Year’s celebration]; Thrếts là Tết [theo Từ Điển Francais-Thái của Pallegoix]; Thrếts Chìn là Tết Tàu / Chinese New Year [Chìn là Tàu]; Chêtr là Tết của Thái [fifth lunar month / mid April festival]; Đết là tên thần mưa [rain god, monsoon deity].

 

Chàm: Tít là lễ tháng năm theo lịch xưa của Chàm [tháng gió mùa bắt đầu thổi]; Băng Tít là ăn Tết; Chêt là Tết, bu-lăn Chêt là tháng Tết [bu lăn là tháng]; Ktêh là lễ hội lớn nhất trong năm của nguời Chàm.

 

Mon: Kteh là ngày đầu năm của dân tộc Mon ở Miến Điện; o-Teh là lễ hội lội bùn đầu năm; k-Tât là nghi lễ đầu năm.

 

Khmer: Chêtr là Tết, lễ mừng tháng năm theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á [tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm]; khae Chêtr là tháng Tết [khae là tháng], khoảng 13 tháng 4 dương lịch, hay 23 tháng ba âm lịch; Chêtr khal là thời gian có lễ Tết [khal là thời gian].

 

Ấn Độ: Chêtr là tên tháng tư và tháng năm trong cổ lịch Ấn Độ, tên của tháng giao mùa đem mưa đến [mois du début de la mousson].

 

Mustang: Tidj / Tidji là lễ đầu năm của xứ Mustang, bên cạnh xứ Nepal nơi miền đông bắc Ấn Độ.

 

Munda: Teej là lễ hội gió mùa, các nữ sinh hát những bài hát cổ Teej để đánh dấu gió mùa trở lại và sự hứa hẹn thịnh vượng [National Geographic magazine].

 

Ngoài ra, tác giả còn lưu ý chúng ta là Từ Điển Khai Trí Tiến Đức không hề cho rằng «Tết» là «Tiết» của Tàu. Tóm lại, theo bác sĩ Nguyễn Hy Vọng thì nhất định Tết là chữ của Việt Nam.

 

Rắn đứng hàng thứ sáu trong mưòi hai con giáp và sau rồng. Lẩm Cẩm

không biết tại sao, nên chỉ đoán mò một cách rất bình dân giáo dục là vì rồng luôn bay bổng trên cao, còn rắn thì bò sát mặt đất, chi nên Ngọc Hoàng Thượng Đế xếp cho chúng kế cận nhau cho đủ bộ trên dưới! Ước mong có bậc cao minh viết ít dòng giải thích thứ tự của 12 con giáp cho Lẩm Cẩm đọc thì thú vị biết chừng mô!

Nhân vừa nói tới 12 con giáp, Lẩm Cẩm nhớ là đã có lần được Lốc Cốc Tử tiên sinh ở gần nhà kể một cách chung chung cho biết về đặc tính của người cầm tinh mỗi con vật như sau:

 

Tuổi Tý: những người tuổi Tý là những người lịch lãm, thông minh và rất duyên dáng. Cách sống của họ khá tích cực, không hay hoài nghi, coi trọng gia đình và bạn bè, nên thường có rất nhiều bạn. Người tuổi Tý cũng khá giỏi trong việc chi tiêu, nên cuộc sống có thể được coi là dư dả.

Tuổi Sửu: luôn hiểu lẽ phải, sống ngăn nắp, chăm chỉ, nghiêm túc, kiên quyết và khá lặng lẽ là những đức tính nổi bật nhất của những người tuổi Sửu. Tuy không biểu lộ ra ngoài nhiều nhưng với họ, gia đình luôn là ưu tiên số một. Nếu có cơ hội làm bạn với người tuổi Sửu, bạn sẽ thấy họ là người bạn trung thành và đặc biệt yêu âm nhạc.

Tuổi Dần: đa số người tuổi Dần sống một cuộc sống đầy đam mê, cuốn hút. Nhờ có lòng quả cảm và tính hào phóng, họ luôn nhận được nhiều sự tôn trọng, kính nể. Với bạn bè, người tuổi Dần là người bạn chân thành, dễ nhờ vả. Với gia đình, họ là trụ cột vững chãi, nhưng đôi khi hơi có vẻ gia trưởng.

Tuổi Mão: nếu thích sự ấm áp, thích được vuốt ve là những đặc tính nổi bật của con mèo, thì người tuổi Mão cũng gần như vậy: luôn sống rất trìu mến, tràn ngập tình cảm, yêu thích tiệc tùng, và rất hiếm khi buồn rầu hay cáu gắt. Với bạn bè, họ nổI bật trong những cuộc vui; còn với gia đình, họ luôn biết cách tạo ra không khí hạnh phúc.

Tuổi Thìn: vì đây là con vật duy nhất trong bộ tứ linh “Long Lân Quy Phụng” có mặt trong 12 con giáp, nên tuổi Thìn thường được coi là tuổi may mắn nhất trong 12 năm tuổi. Người tuổi Thìn là người rất quyết đoán, mạnh mẽ, đầy nghị lực và rất tài ba. Họ có thể thành công ở hầu hết mọi lĩnh vực. Người tuổi Thìn cũng may mắn vì thường có sức khoẻ tốt.

Tuổi Tỵ: những người tuổi Tỵ có rất nhiều kỹ năng nổi bật, đặc biệt trong số đó là sự thông minh, sắc sảo và trực giác tốt. Họ thường thích đọc sách, nghe hay chơi nhạc và may mắn về chuyện tiền bạc. Người tuổi Tỵ không thích bị thử thách.

Tuổi Ngọ: được xem là vui tính, nên những người tuổi Ngọ có thể là nhân vật nổi bật trong đám đông hay các bữa tiệc. Đôi khi họ hơi nóng nảy, ích kỷ và thiếu kiên nhẫn. Nói chung, bạn sẽ thấy những người tuổi Ngọ là những người bạn và cộng tác viên tuyệt vời.

Tuổi Mùi: người tuổi Mùi nổi bật với phong cách duyên dáng, tính tình lạc quan, tốt bụng và dễ tính. Họ cũng là những người tài năng và có óc sáng tạo. Nếu bạn lập gia đình, hay có bạn bè là người tuổi Mùi, bạn sẽ thấy họ luôn biết cách giúp bạn nhận ra được điều sau đây: bạn là người rất quan trọng trong cuộc đời họ.

Tuổi Thân: giống như đặc tính của con khỉ, những người tuổi Thân rất nhanh nhẹn, hoạt bát, năng nổ, suy nghĩ nhanh và vui tính. Họ hay cả thèm chóng chán, nên khó có thể “yên phận” với việc gì. Hầu hết những người tuổi Thân có tham vọng và thường thành công trong việc đầu tư tiền bạc. Cuộc sống của người tuổi Thân được coi là khó đoán nhất trong 12 con giáp.

Tuổi Dậu: những người tuổi Dậu là những người rất quảng giao, sống khá phong lưu và có óc sáng tạo cao. Họ là những người bạn rất trung thành và luôn hết lòng giúp đỡ người khác. Đối với người tuổi Dậu, gia đình là cả thế giới.

Tuổi Tuất: được mô tả như những nhân viên cần mẫn, người tuổi Tuất yêu thích sự hoàn hảo nên thường để ý tới đến từng chi tiết trong mọi công việc. Họ còn được coi là người chân thành và đáng tin cậy nhất trong 12 con giáp. Nếu có người bạn tuổi Tuất, bạn sẽ thấy họ là người biết lắng nghe và đưa ra nhiều lời khuyên hữu ích.

Tuổi Hợi: những người tuổi Hợi được xem là ngọt ngào, vô tư và đáng yêu. Họ thích tham dự các bữa tiệc, không quan tâm quá nhiều đến chuyện tiền bạc. Đằng sau vẻ bên ngoài rất thích vui chơi, người tuổi Hợi là người rất thông minh và may mắn trong chuyện tiền bạc.

 

Tỵ thuộc tháng tư âm lịch. Ông bà ta nhận xét là vào tháng này rắn bắt đầu lột xác và cũng là lúc âm khí tàn để cho dương khí trồi lên. Vì thế, Tỵ thuộc hỏa, rắn tượng trưng cho dương khí, sinh ra khí dương. Trong ngày, thì giờ Tỵ là 10 giờ sáng; nói về mùa thì Tỵ là mùa hè; còn nói về phương hướng thì Tỵ là hướng nam, đông nam. Lẩm Cẩm có một ông bạn chuyên nghề bói toán, xem luôn phong thủy, và bạn hiền cho Lẩm Cẩm biết là theo các nhà phong thủy thì nói chung năm Quý Tỵ ni là năm của lạc quan, của thịnh vượng, đồng thời là năm có nhiều thay đổi, đổi mới.

Đông phương cũng vậy, mà tây phương cũng rứa, đều quan niệm rắn tượng trưng cho sức mạnh, cũng như tưởng lầm nó là loài bất tử vì rắn lột xác. Nhân nói tới chuyện “rắn bất tử”, Lẩm Cẩm hết sức phiền lòng ông Thiên Lôi, vị sứ giả của Ngọc Hoàng Thượng Đế! Tại sao? Xin thưa: theo truyền thuyết thì hồ xửa hồi xưa, khi mới dựng lên trời đất, Ngọc Hoàng Thượng Đế không muốn cho con người bi chết, nên phú cho người khả năng lột xác để sống hoài và bắt rắn già thì phải ngủm cù tỏi. Vì thế, Ngọc Hoàng sai Thiên Lôi xuống trần gặp con người để ra lệnh thế này: “Người già thì lột; rắn già thì chạy tuột vô săng”. Thiên Lôi tuân lệnh, tà tà xuống trần, vừa đi vừa lẩm nhẩm lời phán của Ngọc Hoàng. Ấy thế mà chẳng hiểu ông thần này đầu óc ấm ớ thế nào mà lại nhớ lộn, nên khi  khi xuống trần gặp con người lại nói: “Rắn già thì lột ; người già thì chạy tuột vô săng”! Hậu quả của việc ni là bây giờ Lẩm Cẩm mất tiêu nó cái khả năng lột da để sống đời! Thế có đau không chứ!

Nếu rồng được người Á đông coi là con vật linh thiêng, thì rắn cũng đâu có kém, bằng chứng là rắn cũng được dân Syria bên Trung đông tôn thờ vậy. Với bà con bên Syria thì rắn tượng trưng cho cả sự khôn ngoan, nhanh nhẹn lẫn sự nguy hiểm và nếu cần thì có khả năng trả thù một cách độc địa. Dân Syria xem rắn như một vị thần có thể phù hộ cho họ. Người ta thấy tại các đền thờ ở Syria có tạc hình đầu rắn vì bà con Syria tin tưởng là thần rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lăng đất nước họ, cũng như giúp họ không bị bệnh tật nghèo. Hồi xưa, ở bên Ai-cập thì hình rắn hổ mang của sông Nile được dùng để trang điểm cho vương miện của pharaoh, rắn được thờ như một vị thần, được dùng trong việc giết chết đối phương hay trong nghi lễ tự vận (ví dụ như trường hợp Cleopatra). Dân Cao Mên tin rằng vương quốc Khmer của họ do vua rắn lập ra. Ở trên những bức tường dọc theo con đường dẫn vào đền ở Ankhor Wat, người ta thấy nhiều hình rắn được tạc trên đó. Bên Hy Lạp có rất nhiều vị thần và huyền thoại liên quan tới rắn. Thần Zeus – vị thần tối cao – xuất hiện vào mùa xuân dưới dạng môt con rắn khoanh tròn cùng với nữ thần cai quản trái đất là Rhea cũng mang hình rắn. Người Hy Lạp coi rắn là biểu tượng của đất. Một loại nữ trang rất thông dụng hồi xưa tại Hy Lạp cũng mang hình rắn khoanh tròn. Hiện nay bên Hy Lạp vẫn còn các đền thờ Thần Rắn. Trong thần thoại Hy-lạp, con quái vật giống rắn có chín đầu Hydra được coi là thần giữ cửa của Diêm Vương. Đất nước đầy mùi cà-ri Ấn-độ thường được gọi là đất của rắn. Ở đây, rắn cũng được thờ như vị thần. Bà con Ấn tin là rắn mang lại sự trù phú. Trong hình thần Shiva, người ta thấy rắn hổ mang quấn ở cổ ngài, và trong hình thần Vishnu thì người ta thấy ngài ngủ trên một con rắn cuộn tròn và có bảy đầu. Hàng năm, ở Ấn Độ có ngày lễ Nag Panchami để vinh danh rắn. Bà con người Việt ta thì tin là rắn có trí nhớ và khả năng trả thù. Chúng ta đều nhớ chuyện Nguyễn Trãi giết cả một tổ rắn hổ mang, rồi sau này bị rắn trở lại báo oán (tru di tam tộc).

Tính hiểm độc, độc địa của rắn được phản ảnh trong ngôn ngữ. Trong tiếng Phú Lang Sa, “serpent” là con rắn, nhưng bà con người xứ Đại Pháp cũng dùng chữ này để chỉ ngôn ngữ hiểm độc khi họ nói “langue de serpent”, hay để chỉ sự nguy hiểm được che dấu bởi bề ngoài đẹp đẽ khi họ nói “serpent caché sous fleurs”, hay để chỉ việc nuôi ong tay áo khi họ nói “réchauffer un serpent dans son sein”. Bà con người Ăng-lê cũng có những cách nói không đẹp về rắn: “snake in the grass” đồng nghĩa với “serpent sous fleurs”, hay “lower than a snake’s belly”. Tục ngữ Việt Nam có câu “cõng rắn cắn gà nhà” để chỉ bọn làm đầy tớ cho ngoại bang, cõng giặc về chiếm nước, hại dân.

 

Trong một bài viết mới đây của sĩ quan tầu ngầm Trần Đỗ Cẩm, ông kể lại một vài chuyện khó tin nhưng có thật về rắn:

 

-Ta thường chỉ nghe nói người bị rắn cắn chứ hiếm khi nghe nói người dám cắn

rắn. Ấy vây mà vào hồi tháng 5 niên 1997, anh Valentin Grimalo đã làm chuyện này! Bữa hôm đó, khi đang lê buớc trên lề cỏ dọc theo một con đường tại thị xã Edinburg thì Valentin bị rắn cắn. Lập tức, Valentin nắm lấy con rắn, rồi dùng miệng cắn đứt đầu rắn, sau đó lột da rắn để dùng làm giây cột bên trên vết thương để chặn nọc độc truyền vào tim. Theo báo «Beaver County Times» thì sau đó có người lái xe chở Valentin tới bệnh viện để cho bác sĩ cho thuốc. Kết quả là chàng Valentin nhà ta hoàn toàn bình phục.

– Thông thường thì chỉ có người đi săn rắn và đôi khi cần dùng súng để bắn chết rắn, chứ bao giờ có chuyện rắn bắn chết người? Ấy thế mà vài năm trước đây tại Iran có một anh thợ săn bị rắn bắn chết bằng súng! Chuyện thế này: anh thợ săn toan bắt sống một con rắn bằng cách dùng báng súng đè đầu rắn xuống khiến mình rắn phải co lại rồi cuốn quanh báng súng, nhưng chẳng may đuôi rắn cuốn trúng cò súng, khiến súng khai hỏa và đạn bay trúng đầu thợ săn làm cho anh này chết tốt !

– Vào năm 1973, một người đàn ông 42 tuổi ở bên đất nước xã hội chủ nghiã của đống chí Mao Xếnh Xáng đời đời vĩ đại cho biết anh đã ăn khoảng chừng mười ngàn con rắn sống trong vòng hai chục năm! Anh cho biết bữa nào mà chàng không “xực” ít nhất một con rắn thì cảm thấy buồn bực, khó chịu lắm! Ăn rắn, tuy đối với chàng là rất «hẩu xực», là cực khoái, nhưng cũng hại cho chàng lắm: chẳng một chị em phụ nữ nào muốn làm bạn đời với chàng, cho nên suốt đời chàng bị «phòng không bóng chiếc»!

Nhân vừa đề cập tới anh chàng khoái ăn thịt rắn, Trần tiên sinh cũng bàn qua về chuyện ăn và uống có liên quan tới rắn:

 

– Trước hết, xin nói chuyện ăn. Bà con người Việt mình ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh hay bắt rắn để làm món nhậu! Qúy ngài nào từng có dịp qua lại vùng Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Cao Lãnh… chắc khó quên những quán nhậu thịt rắn nổi tiếng vớI nhiều món ngon mà giá cả lại rất nhẹ nhàng. Rắn đủ loại, kể cả trăn, được bán ở các chợ Tân Châu, Hồng Ngự, An Long, Phuớc Xuyên… cùng với lươn và chuột. Theo lời các tay nhậu đầy kinh nghiệm thì tuy rắn bông súng là món nhậu phổ thông nhất, nhưng ngon nhất thì phải kể tới thịt rắn hổ. Lý do: rắn càng độc, thịt càng ngon! Bắt rắn về, người ta cắt cổ lấy máu hòa với rượu uống để trị bệnh phong thấp; sau đó, đem đốt trên lửa rồi cạo vẩy, mổ bụng, lấy mật. Làm rắn xong phải bỏ đầu, bỏ đuôi vì trong đó có chất độc. Riêng mật rắn thì có người dám nuốt sống vì mật rắn hổ vừa trị được nhiều bệnh vừa bổ. Với mật rắn hổ đất thì người ta đem phơi khô, để dành tới khi trong nhà có ai vừa sinh con thì đem mật khô ra mài, hay ngâm với nước, rồi cho uống để giúp người mẹ không bị hen xuyễn. Có nhiều cách nấu rắn, nhưng ở vùng quê thì người ta hay đem rắn ra nấu cháo với đậu xanh. Cháo này vừa ngon vừa bổ. Cháo rắn hổ ngon ba chê, ăn vào thì tối ngủ thấy mình mẩy mát lạnh, sức khỏe tăng lên. Một cách ăn thịt rắn công phu hơn là bắt rắn về nuôi trong một óng tre vài lóng, một đầu để mắt, đầu kia để trống, bỏ rắn vào rồI bịt lại. Đằng mắt tre xuyên một lỗ nhỏ, rồI giã hành thun tẩm que tre để vào lỗ. Vì rắn ta sợ hành nên co mình lại. Một tuần lễ sau, người ta thay que cũng đã tẩm hành và đẩy que vào xâu thêm bên trong óng tre, mục đích là khiến cho rắn ta càng co mình thêm. Lâu dần, rắn chỉ còn ngắn bằng con chạch, có vảy trắng và rất béo, nên khi lấy ra ăn ngon đã điếu!

– Bây giờ, xin chuyển sang nói chuyện uống. Ngoài việc được dùng làm món nhậu khoái khẩu, rắn còn được dùng để ngâm rượu thuốc. Tại vùng biên giới Miên-Việt như Tịnh Biên, Châu Ðốc, Tân Châu, Hồng Ngự…, có hai loại rượu thuốc rất nổi tiếng vì có tác dụng “bách chiến bách thắng” trong chuyện ấy là rượu con “cắc kè bay”, tức là ba xi đế ngâm với con cắc kè có mang xòe ra như cặp cánh, và rượu thuốc ngâm rắn hổ mun. Hai loại rượu này thuộc loại “ông uống, bà khen”. Chẳng hiểu rượu này có sánh được với loại “nhất dạ ngũ giao sinh lục tử” không? Ở bên xứ của Mao Xếnh Xáng cũng bầy bán những bình rượu thuốc ngâm ba hoặc năm loại rắn gọi là “Tam Xà Tửu” hay “Ngũ Xà Tửu. Nghe đồn đây là loại rượu “chàng uống, nàng khen” của các chú Ba. Như vậy, nếu nó thực sự công hiệu như thần, thì rượu rắn rất hữu ích cho qúy ông nào ở vào hoàn cảnh được mô tả trong bài thơ vui dưới đây:

 

Lời Cầu “Xuân Mới”

Ngày Xuân con lạy Phật Trời
Sao cho con bỏ được người con thương
Không phải tại nó bất lương
Mà vì nó bắt “Mười Thương” tối ngày
Một thương giựt tóc đuôi gà
Hai thương tay lắc, lưỡi rà phía trên
Ba thương bịt miệng cấm rên
Bốn thương con phải leo lên đầu giường
Năm thương con tựa vách tường
Sáu thương nằm dưới, hết đường, bó tay
Bảy thương tiếp tục loay hoay
Tám thương qua núi vác cày gẫy xương
Chín thương phải thở bình thường
Mười thương bãi cát, sấu trường sấu nhai
Chúa ơi con sáu mươi ngoài
Mà làm kiểu đó có ngày con “die”!
Xuân nầy nàng mới hai hai
Con hơn nàng tới bốn hai xuân thì!

 

Cá nhân Lẩm Cẩm thì biết rõ là hai người bạn của mình, khi về thăm quê hương, hay trong lúc du lịch sang xứ Chú Ba, đã uống thử rượu rắn và sau đó trở lại Bắc Mỹ bị gặp vấn đề về sức khỏe! Chẳng biết trong ba cái chai rượu rắn ni có cái gì không được tốt cho lắm mà đã gây bệnh cho bạn của Lẩm Cẩm?!

Nhân vừa nói tới bệnh tật, Lẩm Cẩm chợt nghĩ tới hai ngành y và dược khoa, vốn là hai ngành giúp bà con ta diệt trừ bệnh tật. Và rồi Lẩm Cẩm chợt nhận ra là hình ảnh con rắn được dùng trong dấu hiệu chỉ cả hai ngành này: rắn cuốn trên cây gậy là biểu hiệu của ngành y, còn rắn cuốn trên cái ly và đầu hướng vào miệng ly là biểu hiệu của ngành dược. Theo truyền thuyết Hy Lạp, biểu hiệu của y khoa có dính dáng tới một ông thần tên là Asclepius, vị được tôn xưng là ông tổ của ngành chữa bệnh cũng như chế thuốc. Asclepius là con của thần Apolo và bà vợ tên là Coronis, một vị nữ thủy thần. Khi có thai Asclepius, Coronis bí mật léng phéng tù ti với một người tình hạ giới, cho nên khi Apollo biết được, Apollo đã ra lệnh giết Coronis, sau đó ông cứu thai nhi còn sống trong bụng của Coronis và gửi cho Chiron – một quái vật có đầu người mình ngựa – nuôi dưỡng. Chiron rất rành y thuật và đã truyền hết nghề cho Asclepius. Asclepius trở thành y sĩ và hành nghề để cứu nhân độ thế. Cách chữa bệnh của Asclepius rất lạ: ông thường cho bệnh nhân vào ngủ qua đêm trong một đền thờ rắn thần; đến khuya, bầy rắn bò ra liếm vào mình người bệnh và đến sáng hôm sau mọi người đều hết bệnh! Vì lý do đó, dân Hy Lạp thời cổ đã dùng hình ảnh con rắn cuốn quanh cây gậy để làm biểu tượng cho đại danh y Asclepius. Tài chữa bệnh của ông cao siêu đến độ có lần Asclepius đã “cải tử hoàn sinh” cho một hoàng tử! Tuy nhiên, việc làm này trái ý Trời, nên thần Zeus tức giận, dùng một tia sét để đánh chết Asclepius. Sau này, y thuật của Asclepius được các đệ tử truyền qua La Mã và được Hippocrates hệ thống hóa.

Nói đến Tết mà không đề cập tớ chuyện cờ bạc là nhất định thiếu. Lẩm Cẩm nhớ hồi còn nhỏ, cứ đến Tết là Lẩm Cẩm thích chơi trò đen đỏ với Bầu Cua Cá Cọp. Cái màn chơi lắc bầu cua ni sao mà nó hấp dẫn, hào hứng cách chi, chơi rồi là không muốn nghỉ!

Trong ba ngày Tết, tuy rất nhiều bà con ta  chơi Bầu Cua Cá Cọp, nhưng không biết có mấy ai thắc mắc rằng thì là trong trò chơi này, chỉ có hình vẽ Bầu, Cua, Cá, Hươu, Tôm và Gà chứ không hề có hình Cọp; như thế tại sao ta lại gọi trò chơi ni là Bầu Cua Cá Cọp? Cọp ở chỗ mô hè?

Bầu Cua Cá Cọp bắt nguồn từ tỉnh Phúc Kiến bên Trung Quốc và được gọi là Hoo (Cá) Hey (Tôm) How (Cua). Trò chơi này tương tự với một trò chơi của các thủy thủ người Anh có tên gọi là Crown and Anchor. Vào những lúc rỗi rảnh, buồn chán khi ra khơi đánh cá, các thủy thủ bày cái «game» này ra chơi ở trên bon tàu. Hồi đó, Crown and Anchor chỉ phổ biến ở các nước phương tây như Anh, Bỉ, Hòa Lan, và Pháp.

Bàn Bầu Cua Cá Cọp của các chú Ba không có hình cọp, mà thay vào đó là hình đồng tiền xu; nhưng bàn Bầu Cua Cá Cọp của Thái Lan thì có hình con cọp. Vì lý do này, chỉ dân Thái mới có quyền gọi trò chơi cờ bạc này là Bầu Cua Cá Cọp. Như vậy, tại sao bà con người Việt mình vẫn gọi là Bầu Cua Cá Cọp? Ba giả thuyết sau đây được đưa ra để giải thích:

-Có người cho rằng vì dân ta sùng bái cọp, tôn xưng cọp là «Chúa Tể Rừng

Xanh», có nơi gọi cọp là «Ông Ba Mươi», chi nên sau này trên bàn cờ bạc không dám dùng hình ảnh của cọp.

-Hình ảnh các thú vật và trái bầu trên bàn bầu cua đều hiền hòa và chỉ những

thứ gần gủi với cuộc sống của dân quê nơi làng xã; bây giờ, nếu để hình cọp vào thì e không hợp bởi lẽ cọp là loại thú dữ, sống trên rừng núi và có thể hại người. Hình ảnh cọp, vì thế, không thích hợp cho bàn bầu cua.

-Khi ta nói “Bầu Cua Cá Cọp” là ta nói sai. Đúng ra phảI nói là “Bầu Cua Cá

Cọc”. Lý do: Trong tiếng Việt cổ, chữ “Cộc” có nghĩa là nọc, đực, dương, vật nhọn. Các con thú biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời đều gọi chung là con “Cọc”, hay có tên biến âm của “Cọc”, hay có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt, đực. “Cọc” mang trọn nghĩa của chữ “Nọc” trong chữ “nòng nọc”. Ở thế gian này, con hươu đực, hươu nọc (tức con hươu có sừng) có bốn chân đi trên mặt đất là con hươu cọc, con cọc. Sừng (có đầu nhọn) là một thứ cọc nhọn, một thứ nọc nhọn mang dương tính. Vì thế, khi nhìn vào bàn bầu cua, ta thấy con hươu, tức chính là con cọc, ở góc trên bên trái. Tóm lại, chúng ta phải nói “Bầu Cua Cá Cọc” mới đúng, còn nói “Bầu Cua Cá Cọp” là sai bét!

Cứ nói đến Tết, là Lẩm Cẩm lại nhớ tới bài thơ năm chữ trứ danh của Vũ Đình Liên, qua đó nhà thơ tả cảnh ông đồ ngồi viết thuê câu đối Tết:

 

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tầu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay…

 

Mà đã nhớ cảnh ông đồ viết câu đối, thì mần răng không nhớ đến chuyện câu đối được. Câu đối được sáng tác vào nhiều dịp khác nhau, dài ngắn khác nhau. Trong loại câu đối xuân xuất hiện vào dịp Tết, Lẩm Cẩm rất thích đôi câu đối “dán chuồng lợn” mà cụ nghè Nguyễn Khuyến sáng tác khi còn là một cậu học trò nhỏ. Chuyện thế này: cậu Khuyến học giỏi và được thầy yêu bạn quý, nhưng lại bị anh trưởng tràng học dốt hơn ganh ghét. Một hôm gần Tết, trưởng tràng bắt Khuyến làm câu đối “dán chuồng lợn” với dụng ý hạ nhục cậu vì có ai làm câu đối để dán chuồng lợn bao giờ! Khuyến thấy ngay là trưởng tràng xỏ mình, nên lập tức trả đũa bằng cách viết cả đôi câu đố mà chỉ dùng hai chữ:

 

“Trưởng trưởng, tràng tràng, tràng trưởng trưởng

Tràng tràng, trưởng trưởng, trưởng tràng tràng”

 

nghĩa là: “Lớn lớn, dài dài, dài lớn lớn / Dài dài, lớn lớn, lớn dài dài”. Với hai chữ “trưởng tràng”, rõ ràng là câu đối “dán chuồng lợn” của Khuyến  mang trọn lời cầu cho lợn trong chuồng chóng lớn, và như vậy là hay quá rồi, cũng như làm sao ai có thể chê trách gì được? Thế nhưng, mọi người đều thấy rõ là cùng lúc Khuyến đã dùng câu đối này để đá giò lái anh trưởng tràng một cú đau điếng!

Về loại câu đối cực ngắn, Lẩm Cẩm nhớ chuyện này: ngày Tết, hai ông đồ ngồi

nhắm rượu và làm câu đối vui xuân. Ồng đồ A gắp miếng chả, bỏ vào miệng, nhai tóp tép rồi tung ra một vế đối: “Chả ngon”. Trong lúc ông đồ B còn đang bí vì hai nghiã khác nhau của chữ “chả” và chưa biết đối làm sao, thì thật may cho ông là từ gầm giường có một con cóc nhảy ra, miệng cũng nhai tóp tép. Đồ B lập tức đối ngay: “Cóc sướng”. “Cóc” mà đối với “Chả” thì tuyệt vời vì cũng có hai nghĩa như vậy. Đồ A chịu là đồ B đáp giỏi, nhưng muốn ra câu đối nữa, nên giả bộ cắn phải lưỡi của mình rồi kêu lên: “Ái!” (vừa là tiếng kêu vì bị đau, lại vừa có nghĩa là yêu). Tiếng kêu làm đồ B giật mình, đánh rớt miếng thịt xuống quần khiến quần bị hoen bẩn, và việc này đã gợi ý cho đồ B, nên đồ B đối ngay: “Ố!” (vừa có nghĩa là hoen ố, vừa có nghĩa là ghét). Kết quả là hai đồ hoà nhau, không chơi trò câu đối nữa, mà chỉ tiếp tục đánh chén cho “mềm môi tít cung thang”!

Hồi trước, Lẩm Cẩm cũng đã đọc được câu đối chơi song ngữ, nghiã là chơi cả

chữ Việt lẫn chữ Phú-Lang-Sa:

 

Hai chân duỗi thẳng đơ (deux = hai)
Sáu cỗ ngồi xúm xít (six = sáu)

 

Và “last but not least”, Lẩm Cẩm còn nhớ được chuyện câu đối vừa toán học vừa song ngữ như thế này:

Ông bố vợ nọ là một cụ đồ sống vào buổi giao thời nên thông hiểu cả tây học. Cụ quý chàng rể biết ngoại ngữ và ham đọc sách. Một ngày nọ, người nhà bắt được con ba ba, nên cụ định gọi chàng rể đến để cùng lai rai ba sợi, nhưng lại ngại làm mất thời giờ đọc sách của rể. Tuy vậy, sau khi nấu nướng xong, cụ quyết định sang kêu chàng rể qua nhậu vớI mình. Đến nhà rể, cụ đồ phán: “Ham đọc sách như thế là tốt, nhưng đọc rồi thì phải biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Bây giờ, tôi ra vế đối, nếu anh đối được, thì sang nhà đánh chén thịt ba ba; còn nếu không đối được, thì bị ăn đòn.” Rể tuân ý bố vợ nên thưa: “Dạ, xin thầy ra vế.” Cụ đồ hắng giọng nói: “Hầm ba ba đã chín”.  Vế đố ni quả là khó bởi lẽ “ba ba” là con ba ba, nhưng cũng là ba lần ba là chín; và “chín” vừa là tính từ (đã được hầm chín), lại vừa là con số 9! Phải đối sao đây? Nhức đầu thiệt! Ngay lúc chàng rể đang “bờ i bi sắc bí”, thì bỗng có một chiếc xe bò chở cát đi qua và nó đã kịp thời gợi ý cho rể, nên rể ta mừng hết lớn, rõng rạc đối ngay: “Chở cát cát đầy xe”. Cụ đồ nghe xong, bèn vỗ đùi đét một cái, rồi khen rể mình giỏi! Tại sao vậy? Tại vì khi chàng rể dùng chữ “cát” trong câu đối thì “cát” nghĩa là hạt cát, đồng thời trong tiếng Pháp là số 4 (quatre); thế rồi, khi rể chơi luôn hai chữ “cát cát” thì có nghiã là 4 x 4 = 16, mà trong tiếng Pháp thì số 16 đọc là xe (seize), cho nên “xe” ở đây vừa là cái xe bò, lại vừa là số 16. Thiệt là tài tình! Thực ra, nếu công bằng mà xét, thì bà con ta thấy chàng rể còn ngon lành hơn cả ông già vợ bởi vì vế đố của cụ đồ chỉ chơi tiếng Việt, còn vế đáp của tế tử chơi luôn cả tiếng Việt và tiếng Pháp!

Nhân Tết sắp đến, Lẩm Cẩm vừa tạm làm xong việc “tùm lum chắp nhặt rông dài” để hy vọng giúp qúy vị “mua vui cũng được một vài sơ-gông”! Tết nhất cũng là dịp để mọi người chúc tụng, tặng quà nhau đặng lấy hên; ngặt một cái là Lẩm Cẩm chẳng có cái chi đáng giá làm quà gửi qúy vị; cho nên chỉ xin mạo muội chuyển đến qúy vị ba lời nhắn nhủ của ai đó mà Lẩm Cẩm đã đọc được:

– Trong đời này, không có chuyện làm biếng mà có thể có một thân thể khỏe mạnh.

– Đối với những việc không vui trong dĩ vãng và nghịch cảnh, không thấy khó chịu; đối với những ngày sắp tới không có ước vọng quá cao mà luôn cầu bình an, hạnh phúc.

– Nóng giận ít thêm tí nữa, mĩm cười nhiều thêm chút nữa.

Làm theo mấy điều trên đây sẽ giúp bà con ta có sức khỏe tốt hơn và tránh được ưu phiền để cho đời mình buồn ít vui nhiều. Qúy vị nào đã làm theo các đề nghị ni rồi, thì xin tiếp tục; còn nếu chưa, thì chúng ta có nên bắt đầu từ ngày mồng Một Tết Qúy Tỵ này không, hả qúy vị?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s