Võ Quang Yến – MAI NGŨ PHÚC, MAI VẠN HẠNH

mai-1Thú chơi mai tao nhã, trồng mai cầu kỳ, tạo dáng nghệ thuật ngày nay vẫn còn. “Cạy cục ương hạt mai vàng trên đất phù sa, sau đó ông neo mai vào núi đá. Hai mươi tuổi, thân mai chỉ roi roi bằng ngón tay út người lớn. Ngày Tết chỉ nở chừng năm bảy cánh hoa. Vì sống trên đá nên cánh hoa mai cực mỏng như tờ giấy cuốn thuốc lá… Lão huynh Lê có những bí quyết riêng để làm cho hoa mai trên đá sống và ra hoa. Ông muốn chứng minh cho sự can trường của hoa mai. Hoa có thể sống chỉ với vài chiếc rễ bám vào đá núi. Kham khổ bần hàn là vậy mà xuân về vẫn nhớ lời hẹn ưóc, cố gắng nở những hoa vàng nhung mịn trên đá.

* * *

                                                                                  Đừng tưởng xuân tàn mai rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Thiền sư Mãn Giác, Ngô Tất Tố dịch

Trước nhà ba mẹ tôi ở làng Mỹ Cang, bên bờ sông Ô Lâu, có hai cây mai hoa vàng. Lúc nhỏ tôi rất phục thấy mai hằng năm đúng hẹn nở ngay vào dịp Tết, trừ những năm đầu chinh chiến 46-47 như mai đã hiểu thấu lòng người chẳng còn bụng dạ nào nữa để vui xuân, mừng năm mới. Thật vậy, như anh đào bên Nhật, hoa đào ngoài Bắc, bông mai là biểu tượng mùa xuân ở miền Trung. “Hoa nở trong sương mù, trong nắng ấm ban mai, trong giá rét mà sắc vẫn vàng như tơ lụa. Ôi sắc vàng của hoa mai là một kỳ tích của tạo hóa. Như nắng mà không phải là nắng, như gió mà không phải là gió, như sương mù mà cũng không phải là sương mù. Sắc vàng của hoa mai là tích số của trời và đất. Những chuyển biến của thái hư đã sinh thành nên một màu hoa lụa là ” (4). Trong thơ văn, hoa mai xuất hiện từ lâu. Mai và hạc là bạn tri âm được danh sĩ Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) đề cao hình dáng, điệu bộ từ thế kỷ 14 :

Dã mai cốt cách, nguyên : phi tục,

                 Hải hạc phong tư, tự : bất quần.

(Cái cốt cách của mai rừng vốn không thô tục, phong tư của loài hạc biển tự nó không thích họp bầy) (5).

Qua thế kỷ sau, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) (2) ca ngợi hoa mai qua 6 bài thơ Cây mai, Cây mai già, Hoa mai đầu xuân, Bóng mai trong nước, Hoa mai vẽ, Lại vịnh hoa mai vẽ, trong đó có câu :

Trội cành Nam chiếm một chồi,

                 Tin xuân mãi mãi điểm cành mai.

Nhà ngoại giao Hi Doãn Ngô Thời Nhiệm (1745-1803) cho mai vinh dự đón nhận những hột nước mắt của Huyền Trân :

Huyền Trân sái tận u sầu lệ

                 Hoa tác xuân mai dạ vũ thanh.

(Huyền Trân nhỏ hết nước mặt u sầu, hoá thành những tiếng mưa đêm trên cành mai mùa xuân).

Đằng sau những cánh mai thanh thoát, mỹ miều còn ẩn chứa một ý nghĩa tâm linh, một niềm tin và khát khao thanh bình (3). Thảo nào nhà thi hào Tố Như Nguyễn Du (1765-1820) trong cảnh thiên nhiên rừng núi chỉ biết có mai và hạc :

Nghêu ngao vui thú yên hà,

                 Mai là bạn cũ hạc là người quen.

Trong những hòn non bộ, mai bị uống xoắn như được khổ luyện, lặng lẽ cam chịu những đau đớn và vất vả trước khi sinh thành cái đẹp bất tử (4). Có phải vì vậy mà một người cao ngạo như Chu Thần Cao Bá Quát cũng chịu cúi đầu trước hoa mai :

Thập tải luận giao cầu cổ kiếm

                 Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.

(Mười năm giao du tìm thanh kiếm cổ, một đời chỉ biết cúi lạy hoa mai).

Mùa thu năm 1868, nhà văn Đặng Huy Trứ (1825-1874) đã đặt làm một loạt đồ sứ để cúng tế tại nhà thờ. Hiện nay còn tồn tại 7 dĩa, tô, chén, bình hoa vẽ cá, nai, lên, hoa, đặc biệt dĩa bàn trà vẽ tích “Đạp tuyết tầm mai” ghi câu thơ :

Tuyết trung vị vấn điều canh sự

      Tiên cú bách hoa đầu thượng khai.

(trong tuyết giá chưa hỏi đến việc nhà vua giao phó, câu đầu tiên để thưởng thức hoa mai nở trước trăm hoa) nói lên sự phấn khởi, hứng thú của thi nhân được thưởng thức hoa mai nở trước mọi hoa khác. Dĩa nầy hiện nằm trong bộ sưu tầm của nhà khảo cứu Trần Đình Sơn (2).

Hoa mai thưòng có năm cánh nhưng cũng có thể có ít hay nhiều hơn. “Các cụ xưa kia thích mai năm cánh vì đó mới là mai truyền thống. Năm cánh hướng về một tâm điểm tạo thành vòng tròn như mặt trời và các nhụy hoa giống như những tia nắng rực rỡ ban mai. Mai là thời điểm bắt đầu của một ngày mới, là bình minh, là hy vọng tốt lành. Ngày nay, bà con lại thích những cây mai, cành mai có hoa to rực rỡ, nhiều cánh, nở lâu tàn và coi đó là những cành mai ngũ phúc,với hy vọng năm mới sẽ phát tài, gia đình đại cát, đại lợi. Mai nhiều cánh tượng trưng cho kiết tường, cho kiết hạnh” (3). Đứng đầu trong tứ hữu mai-lan-cúc-trúc, trong tứ thời mai-liên-cúc-tùng, mai cũng là thành phần của tam ích hữu tùng-mai-trúc (trượng phu tùng, ngự sử mai, quân tử trúc) được thể hiện trong bài ngũ ngôn cổ phong 16 câu trên một ống tranh :

Tùng mai trúc kết nạp

                 Bút đoan miêu tam bằng.

                 Thể dị nại tuế hàn,

                 Tâm phù tiện cổ thu.

Lập nhân đường ngẫu đề, Ất Dậu niên chế 1765.

(Tùng cúc mai họp lại, lấy bút vẽ ba chàng, thể khác chung chịu rét, nếp xưa lòng cử hoài) (3). Lẽ tất nhiên những cây mai được miêu tả, kê dẫn trong thơ văn không phải cùng một loại và khác nhau tùy tác giả, thời gian và không gian..

Mai có nhiều loại. Về mặt cấu trúc, mai được chia ra mai sẻ, mai châu, mai liễu, mai chùm. Dựa vào màu sắc, mai được sắp thành hoàng mai, bạch mai, thanh mai, hồng mai (2). Trong sách Cây cảnh, hoa Việt Nam (**), ông Trần Hợp kê năm loài hoa mai thuộc ba họ. Cây mai tứ quý tức mai đỏ Ochna atropurpurea DC, cây huỳnh mai tức mai vàng O. integerrima (Lour.) Merr. (còn có tên O. harmandii H. Lec) và cây mai vàng thơm Ouratea lobopetala Gagnep. thuộc họ Mai tức Lão mai Ochnaceae. Cây mai chấm thủy Wrightia religiosa (Teijeims. et Binn.) Hook.f., hoa màu trắng xoè rất thơm, chủng lá nhỏ trồng làm cảnh trong chậu gọi là cẩm mai, thuộc họ Trúc đào Apocynaceae. Còn cây mai gốc Nhật Prunus mume Sieb. et Zucc. (hay Armaniaca mume Sieb.) thì thuộc họ Hoa hồng Rosaceae. Cây nầy rất phổ biến ở Á Đông. Bên Nhật Bản gọi cây là ume, từ đấy có tên rượu umeshu, dưa umeboshi. Người Trung Quốc có tên mei tương tự mai của ta, và rễ cây yemeigen. Tên cây mai nầy bên Hàn Quốc là maesil. Anh Mỹ có danh từ Japanese apricot. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ (***), ngoài ba cây mai vàng O. integerrima, mai đỏ O. atropurpurea và mai chấm thủy Wrightia religiosa, ở Việt Nam còn có bốn cây : mai cánh lõm Gomphia serrata (Gaertn.) Kanis, mai sọc G. striata (V. Tiegh.) C.F. Wie, mai mù u tức bạch mai Ochrocarpus siamensis var. odoratissimus Pierre và mao lai Bon Sinosideroxylon bonii Anbr. đều thuộc họ Mai Ochnaceae. Ở Huế, những cây thuộc họ Mai, ngành Thực vật có hoa Anthophyta, chỉ thu thập và định danh được ba loài mai vàng O.integerrima (với hai biến dạng : mao hồng diệp và mai trắng), mai tứ quý O. atropurpura và mai núi Indosinia involucrata (Gagnep.) Vid. (1).

Trong các loài mai, cây mai Nhật Prunus mume được khảo cứu nhiều nhất. Những nhà khảo cứu Hàn Quốc đã xác dịnh được 72 hóa chất mà những chất thơm nhiều nhất là benzaldehyd, terpineol, hexadecanoic acid. Cũng góp phần vào mùi hương là những chất dễ bốc hơi như acetaldehyd, ethanol, butanol, methyl acetat, ethyl acetat, ethyl butyrat, butyl butyrat tìm được trong trái. Khi trái bắt đầu chín, số lượng butyl acetat tăng gia nhưng chất thơm nổi trội lúc ấy lại là ethanol và ethyl acetat. Trong trái tươi, đã được xác định những citric, malic, oxalic, succinic, tartaric, fumaric acid bên cạnh vitamin C (24). Khi trái chín, những amin acid, arginin, serin, glutamic acid, glutamin, alanin, aspaeragin tăng lên nhiều. Những nhà khảo Cứu Nhật Bản đã chiết ra những chlorogenic, neochlorogenic, caffeoyl quinic acid. Dầu ép từ trái tươi chứa đựng một số aliphatic hydrocarbon C14-C24 cùng a-terpineol, guaiacol, o-cresol, p-cresol, eugenol, c-hexenol, linalool, t và c-linalool oxyd, furfural, methyl furfural , valeric, isovaleric, caproic acid. Từ hột, benzaldehyd, ethyl benzoat, sitosterol, amygdalin đã được chiết xuất cùng nhiều acid : valeric, isovaleric, caproic, caprylic, benzoic, lauric, palmitic, stearic, oleic, linoleic succinic, citric, oleanolic acid.

Thân cây khô đem chiết nước cống hiến những triterpenoid như ursolic, oleanolic acid. Dùng methanol chiết gỗ cây thì được những chất phenolic như epicatechin, genkwanin, leucoanthocyanin, với chút ít các chất đường như glucose, trehalose, mannitol (8), những flavonoid như prudomenin, dihydro prudomenin. Cũng dùng methanol chiết hoa thì được hai flavonol oligoglycosid : acetyl rutin và methyl rutin cùng những chất đưòng sucrose, prunose. Rễ cây (yemeigen) chứa đựng catechin, epicatechin. Những nhà khảo cứu Đài Loan xác định được 92 trong 181 hoá chất phát hiện qua phép sắc ký trên trái cây ướp muối làm dưa umeboshi. Dưa chứa đựng những chất thơm aldehyd, alcool cùng những monoterpen và những dẫn xuất của chúng, những chất đường, những malic, citric acid và amin acid như glutamic acid, glycin, alanin. Ở hãng kỹ nghệ Nhật Bản Masuda Perfumery Co, dưa đem chưng cho phát hiện 89 hoá chất mà 48 đã được xác định, nhiều nhất là những những ester : hexyl acetat, butyl hexanoat, hexyl butyrat, những lacton : d và g–decalacton bên cạnh những acid : acetic, hexanoic, methyl butyric acid cùng những chất carotenoid : b-ionon, trimethyl phenyl butenon. Trái cây còn non đem làm rượu umeshu đã được tích trữ trong bóng tối, trong máy lạnh và trong ánh huỳnh quang : ethyl carbamat tăng gia với ánh sáng và nhiệt độ. Đem bao với  giấy cellophan thì số lượng ethyl carbamat có nhiều trong giấy xanh hơn là trong giấy đỏ hay vàng.

mai-2

Cây mai Nhật chứa đựng nhiều chất có tính chất dược lý. Những chất hydroxy methyl furfural và hydroxy tetramethoxy flavon có hoạt động trừ giun sán loại Clonorchis sinensis (9). Những oleic, linoleic, linolenic acid chiết từ trái cây ức chế những tác nhân gây đột biến như furyl nitro furyl acrylamid, benzo-a-pyren và aflatoxin B1 trong những cuộc thử Ames với Salmonella typhimurium TA100 và TA98 (11). Chất rutin cũng chiết từ  trái cây có hoạt động kháng oxi hóa (20). Những flavonol glycoside và prunose chiết từ hoa ức chế aldose reductase, riêng những prunose có khả năng cản trở sự kết tụ tiểu cầu do thrombin gây ra (26). Những catechin, epicatechin chiết từ rễ cây có tính chất lợi mật (21). Mai được dùng trong những liều thuốc gồm có nhiều cây khác điều trị bệnh lao phổ (40), chữa tinh dịch bị kháng thể gây vô sinh (16), xử lý ngoài da bệnh mồ hôi nặng mùi (22). Nó là thành phần môn thuốc Cangwu chống viêm, có tính chất ức chế cuộc thâm nhập những phản mao mạch và dị ứng (17), thuốc xử lý bệnh nghiện ma túy (6). Uống nước chứa đựng mai maesil bên Hàn Quốc đưa đến thành quả đào thải trong nước tiểu nhiều dimethyl amin, triethyl amin là những chất có khả năng kết hợp với những nitrat thành nitrosamin gây ung thư (23). Nhờ có tính chất loại bỏ những gốc oxi, hột mai được dùng trong dược liệu và mỹ phẩm chống già, kháng oxi hóa (50). Mai còn được dùng trong thuốc kích thích tóc mọc (27), làm thuốc viên nhỏ sủi bọt con trẻ (28) hay làm chất thơm cho thuốc lá (7). Bên Nhật Bản, hoa đuợc ngâm vào ruợu sake (24). Phấn hoa chứa đựng nhiều mỡ, vitamin C cùng khoáng chất có thể cho vào món ăn bổ ích sức khỏe (18). Trộn với chất ngọt isomalto oligosaccharid, mai được dùng làm bánh dòn crisp mei (13,21).

Cây mai vàng Ochna integerrina tương đối ít được khảo cứu hơn. Chất biflavonoid thường được nói đến nhiều là ochnaflavon có khả năng khử hoạt tính của những enzym như phospholidase A2 (12), arachidonate release đem lại tính chất chống viêm (15), có hoạt động ức chế những tế bào ung thư từ đấy được dùng để điều trị ung thư máu như bệnh bạch cầu và bạch huyết (14). Những biflavonoid khác đã được tìm ra là dihydro ochnaflavon, dihydro ochnaflavon methyl ether, hydroxy lophiron, hydroxy lophiron glucosid. Về glucosid còn có demethyl allyl taxifolin glucosid. Bên phần cây mai đỏ O. atropurpurea cũng cống hiến ochnaflavon từ lá tươi bên cạnh palmitoleic acid (25,6% tinh dầu hột). Nói chung, hầu hết các bản báo cáo cây mai gốc Nhật là của các nhà khảo cứu Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc, những phòng thí nghiệm Thái Lan có vài nghiên cứu trên cây huỳnh mai và Ấn Độ trên cây mai tứ quý.

mai-4

Thú chơi mai tao nhã, trồng mai cầu kỳ, tạo dáng nghệ thuật ngày nay vẫn còn. “Cạy cục ương hạt mai vàng trên đất phù sa, sau đó ông neo mai vào núi đá. Hai mươi tuổi, thân mai chỉ roi roi bằng ngón tay út người lớn. Ngày Tết chỉ nở chừng năm bảy cánh hoa. Vì sống trên đá nên cánh hoa mai cực mỏng như tờ giấy cuốn thuốc lá… Lão huynh Lê có những bí quyết riêng để làm cho hoa mai trên đá sống và ra hoa. Ông muốn chứng minh cho sự can trường của hoa mai. Hoa có thể sống chỉ với vài chiếc rễ bám vào đá núi. Kham khổ bần hàn là vậy mà xuân về vẫn nhớ lời hẹn ưóc, cố gắng nở những hoa vàng nhung mịn trên đá. Tôi nghĩ là những đóa mai trên đá của lão huynh Lê còn nói nhiều hơn những gì muốn nói. Đó là khát vọng sống mãnh liệt của con người gửi vào hoàng mai hoa ước muốn duy trì một cuộc sống thanh bạch, bình dị như cỏ cây vô danh trong khu vườn lớn của cuộc đời” (4).

Ở Pháp hiếm có hoa mai, nhưng phi mai bất thành xuân, Tết mà không có mai thì còn gì là Tết ? Trừ phi đặt gởi từ bên nhà qua, người Việt ở trên đất khách nầy chạy kiếm một loại hoa gì tương tự để thay thế và họ đã tìm ra cây hoa forsythia tức cây liên kiều, còn gọi trúc  căn, hoàng thọ đan, hạn liên tử, cao 2-4m, nở hoa vàng như mai vào đầu xuân, có khi cả cuối đông nếu trời ít lạnh. Nguồn gốc Nhật, Tàu, nay nó được trồng nhiều trong các vườn ở Pháp, nhiều nhất là hai loài Forsythia suspensa  F. viridissima, thuộc họ Lài Oleaceae (*). Cách đây hai năm, nhân lên viếng chùa Trúc Lâm ở làng Villebon (ngoại ô nam Paris), thầy Phước Đường biếu cho vợ chồng chúng tôi một chậu cây nhỏ mà thầy bảo là cây mai. Về nhà chăm sóc chu đáo, tưới nước nhiều, hai năm sau cây lớn lên chút ít và Tết vừa qua nở một bông hoa vàng độc nhất, đặc biệt bốn cánh. Tôi chạy hỏi khắp nơi, mai thường năm cánh, sao mai nhà tôi lại chỉ có bốn cánh ? Ai cũng lấy làm lạ. Khi hoa rụng, tôi cẩn thận ép nó vào giấy báo cho khô rồi nâng niu cho kẹp nó vào trang “Hoàng hoa mai” cuốn Phú Xuân hương sắc của Trụ Vũ, được anh Trần Đình Sơn gởi tặng. Tình cờ một cô cháu lật sách thấy : thì ra chỉ là hoa cây forsythia, cây mai hoa vàng trên đất Pháp, nhìn thấy từ lâu mà không để ý đến số cánh hoa. Cứ đến dịp Tết đồng thời với hoa forsythia trong vườn, hàng hoa chợ Tàu ở Paris cũng rực vàng hoa forsythia và thơm mùi xuân, nhắc nhở phần nào đứa con xa hương trong một mùa ngắn nhớ về cảnh tượng xứ sở thân yêu.

Trích Nghiên cứu và Phát triển 3 (51) (2005) 92-99

Tham khảo

(*) Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 118-20

(**)Trần Hợp, Cây cảnh, hoa Việt Nam, nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh (1993) 359-61

(***) Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Montréal (1993) (I) 510, 559, 804, (II) 890

1- Mai Văn Phô, Các loại mai ở Huế, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ (1) (1995) 68-70

2- Trần Đình Sơn, Hoàng Anh, Tản mạn Phú Xuân, nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh (2001) 28-31, 173-4, 217-21

3- Huỳnh Văn Nguyệt, Mai vàng, biểu tượng của mùa xuân, Nhớ Huế 12, nxb Trẻ , Tp Hồ Chí Minh (2002) 8-11

4- Hồn Mai :Nguyễn Xuân Hoàng, Thương nhớ ngàn mai, Nhớ Huế 16, (2003) 4-6 ; Hồn Mai,Nhớ Huế 20 (2004) 8-10;

5- Phương Huy, Cốt cách một loài hoa, Nhớ Huế 20 (2004) 36-9

6- B.W. Wu, S.P. Lee, Anti-narcotic medicine, Brit  GB 1096708  (1967) 3 tr.

7- H. Matsushita, M. Shinosaki, Tabacco flavorant containing Japanese plum extract, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 54062336 (1979) 8 tr.

8- Y. Takizawa, M. Saito, K. Okuhara, T. Mitsuhashi, Studies on the constituents of Prunus mume Sieb. and Zucc. form purpurea Mak; phenolic compounds and sugars, Tokyo Gakugei Daigaku Kiyo, Dai-4-bumon : Sugaku, Shizen Kagaku 31 (1979) 137-41

9- B.Z. Ahn, J.K. Rhee, Anthelmintic activity of natural products and their analogs against Clonorchis sinensis, Yakhak Hoechi  30(5) (1986) 253-65

10- Z. Chen, S. Sun, Q. Xu, G.Liu, S.Hu, Z. Wu, Active choleretic principle in Yemeigen (root of Prunus mume), Zhongcaoyao 17(11) (1986) 482-3

11- C. Dogasaki, H. Murakami, M. Nishijima, K. Yamamoto, T. Miyazaki, Antimutagenic activities of hexane extracts of the fruit extract and the kernels of Prunus mume Sieb. et Zucc. Yakugaku Zasshi J. Pharm. Soc. Jap. 112(8) (1992) 577-84

12- H.W. Chang, S.H. Baek, K.W. Chung, K.H. Son, H.P. Kim, S.S. Kang, Inactivation of phospholipase A2 by naturally occuring biflavonoid, ochnaflavone, Biochem. Biophys. Res. Commun. 205(1) (1994) 843-9

13- D.I. Tzen, D.S. Tzeng, A.O. Chen, Effects of packaging, light blanching and benzoic acid on the sanitation quality of Crisp Mei during storage, Shipin Kexue (Taipei) 22(5) (1995) 596-605

14- S.S. Kang,, H. Jang, K.H. Sonn, H.P. Kim, Anticancer agents of biflavonoids from Ginkgo biloba and Lonicera japonica, Rep. Korea KR 9609183 (1996)

15- S.J. Lee, K.H. Son,  H.W. Chang, S.S. Kang, H.P. Kim , Inhibition of arachidonate release from rat peritoneal macrophage by biflavonoids, Arc. Pharm. Res. 20(6) (1997) 533-8

16-Lingyuan Meng, Ruoyun Meng, Ruosong Men, Ruomo Meng, Granules for treating sperm antibody-induced infertility, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu  CN 1161220  (1997) 5 tr.

17- D. Su, G. Li, F. Pu, Study on pharmacodynamics of Cangwu complex, Huaxi Yaoxue Zazhi  13(4) (1998) 240-1

18- J.Q. Liu, Q.Q. Zhang, W.S. Wu, X.Q. Li, Analysis of nutritional components of the pollens of Prunus salicina and P. mume, Yingyang Xuebao 22(1) (2000) 92-4

19- J. Ma, Compositions containing herbal madicines for pulmonary tuberculosis, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu  CN 1265315 (2000) 4 tr.

20- J.T. Han, S.Y. Lee, K.N. Kim, N.I. Baek, Rutin, an antioxidant compound isolated from the fruit of Prunus mume, Hang’guk Nonghwa Hakhoechi  44(1) (2001) 35-7

21- S.D. Lin, A.S.M. Ou, Manufacture of crisp mei by using isomaltooligosaccharides, Taiwan Nongye Huaxue Yu Shipin Kexue 39(4) (2001) 312-21

22- J. Chen, Medicine for external use to treat sweaty feet with bromhidrosis, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu  CN 1321481 (2001) 4 tr.

23- S.Y. Choi, M.J. Chung, N.J. Sung, Volatile N-nitrosamine inhibition after intake Korean green tea and Maesil (Prunus mume Sieb. et Zucc.) extracts with an amine-rich diet in subjects ingesting nitrate, Food Chem. Toxic. 40(7) (2002) 949-957

24- Z. Chen, J. Lu, Simultaneous and direct determination of oxalic acid, tartaric acid, malic acid, vitamin C, citric acid, and succinic acid in Fructus mume by reversed-phase high-performance liquid chromatography, J. Chrom. Sci. 40(1) (2002) 35-39

25- M. Tajima, M. Izume, T. Fukuhara, Singlet oxygen scavenger from Prunus mume seed for cosmetics and pharmaceuticals, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2002284633 (2002) 15 tr.

26- M. Yoshikawa, T. Murakami, T. Ishiwada, T. Morikawa, M. Kagawa, Y. Higashi, H. Matsuda, New flavonol oligoglycosides and polyacylated sucroses with inhibitory effects on aldose reductase and platelet aggregation from the flowers of Prunus mume, J. Nat. Prod. 65(8) (2002) 1151-5

27- S. Oka, Y. Osaki, M. Nakauchi, S. Ikemoto, H. Yamanishi, H. Taniguchi, O. Nakaguchi, T. Sokano, Hair growth stimulant composition, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2002284648  (2002) 7 tr.

28- F. Zeng, Y. Zhang, S. Chen, Effervescent product for children, Shipin Gongye Keji  23(1) (2002) 41-3

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s