GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triễn Phú Thọ (Phần II)

  thitran-tamnong     Thiết lập Thị trấn Ước Mơ Tam Nông với Hàn Quốc

Năm 1999,  Phú Thọ khởi đầu thực hiện quy họach khu di tích Đền Hùng, xây dựng khu  đầm Ao Châu huyện Hạ Hòa, công viên Văn Lang ở Việt Trì. Với 11 doanh nghiệp kinh doanh  du lịch và 12 điểm kinh doanh quốc doanh, 12 điểm lưu trú với 321 phòng , phục vụ  49 620 lượt khách trong nước và  1040 lượt khách quốc tế. Năm  2002, tổng số doanh nghiệp thương mãi, khách sạn nhà hàng, du lịch và dịch vụ đã tăng lên đến 143,   24 là quốc doanh – nhà nước và 119  ngòai quốc doanh. Từ năm 2006 đến năm 2010, ngành du lịch Phú Thọ tiến mau, trung bình  tăng 18.37 % một năm, nhờ Đền Hùng được công nhận là di tích quốc gia năm 2009, song song với lễ hội Đền Hùng, với Hát Xoan, Ca Trù hai  lọai ca hát  dân tộc Kinh miền Bắc cải thiện và phong phú thêm theo tinh thần dân tộc như Hát Quan Họ, tiến lên hòa điệu cùng các lọai ca hát  cổ truyền quốc tế …  Các nguồn tài nguyên du lịch khác được  mở mang như Công viên Quốc gia  Xuân Sơn năm 2002  đã nói trên, một trong số  30 công viên quốc gia nước nhà, đầy đa dạng sinh thái, sinh học và địa hình thắng cảnh.  Phú Thọ còn là nơi có nhiều di tích lịch sử cách mạng cận đại  thời kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng, như  các căn cứ Hiền Lương, Vạn Thắng, Hạ Hòa 10… Năm 2012 , Phú Thọ có 1372 di tích văn hóa và lịch sử  phần lớn liên quan đến các đời vua Hùng trong đó 74 di tích được liệt vào kho tàng quốc gia và 202  vào kho tàng tỉnh nhà. Số lượt du khách đến tỉnh năm 2006 là 3 triệu, năm 2010 lên 5.89 triệu. Số khách sạn cũng tăng nhanh, từ số 75 năm 2006  lên 158 năm 2010. Cho đến năm 2010, ngành du lịch đã tạo ra được 12 700 công ăn việc làm địa phương.  Các sản phẩm  du lịch thọat tiên chỉ là thăm viếng danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa lịch sử,  lễ hội, du lịch tinh thần  văn hóa nước nhà, các vùng  sinh thái, nghĩ dưỡng y tế. Nay các dịch vụ du lịch thường xuyên được kiện tòan hơn, bao gồm luôn các làng nghề thủ công đặc thù tỉnh nhà : nón sông Thao, dệt da – may mặc cổ truyền xuất khẩu ở nhiều làng các huyện Thanh Ba và Tam Nông, thực phẩm đặc sản  như  nghệ thuật thổi xôi- nếp Mỹ Lung, huyện Yên Lập,  các  xưởng trà ở các làng huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Hạ Hòa, đồ gỗ – đồ mộc, mành tre  ở làng  các huyện Hạ Hòa, Lâm Thao, Cẩm Khê …. Các công nghệ nông thôn đề xướng, năm 2007, nâng cấp cả phẩm lẫn lượng  và hướng về môi sinh sạch, năm 2008, đã đạt 3.29 ngàn tỉ đồng VN và năm 2011 đạt 6.46 ngàn tỉ . Số lượng cơ sở kinh doanh công nghệ nông thôn đã  tăng trừ 20 168 đến 21 100 đầu năm 2012 ( theo Nguyễn tiến Tri, giám đốc Thương Mãi và Công Nghệ tỉnh Phú Thọ ngày 12/2 /2012). Đồng thời năm 2012 cũng  đem lại cho tỉnh nhà 61 832 công ăn việc làm, lương bổng cao hơn, so với 58 391 năm 2008. Phú Thọ dự trù trong thời gian 2012 đến 2015, du khách đến thăm viếng tỉnh sẽ tăng mỗi năm  17.4 % và  du khách quốc tế  tăng 15 % vào năm 2015. Ngòai  việc xây cất  thêm khách sạn 4- 5 sao, các  nơi nghĩ dưỡng xa hoa ở thành phố Việt Trì và  các vùng khu du lịch, suối nước nóng Thanh Thủy, đặc biệt  là Thành phố Mơ ước – Dream City  Tam Nông( Hưng Hóa ) Phát triễn Thể Thao và  Du lịch Sinh Thái, do công ty Địa ốc và Xây cất Việt Hàn ( Hàn Quốc- Nam Hàn) thực hiện , các tiệm ăn cao phẩm đề xướng  cách nấu nướng đặc sản điạ phương ( ? ). Đề án Thành phố Mơ Ước  trị giá ước lượng trên 1. 5 tỉ đô la Mỹ  ( trên 5800 tỉ đồng VN ) vào cuối năm 2011, khởi sự  công tác năm 2013 (? ) sẽ có diện tích tổng cọng là 2069 ha, cách Hà Nội  60km , phía tây thành phố Việt Trì 20km,  giáp biên giới đường bộ  dẫn đến đền  Hùng Vương -Công viên  Rừng Quốc gia Xuân Sơn và gần Sông Hồng. Đề án  nằm ở vị trí  vùng giao điểm  đường sông và đường bộ  đi các tỉnh miền Bắc và Đông Bắc và cũng ởtrong  vòng đai kinh tế của thủ đô Hà Nội. Thành phố Mơ Ước  Tam Nông sẽ giúp nối kết dễ dàng với những dự án  khác trong cụm công nghệ, giúp nó trở thành một điểm du lịch sinh thái lớn nhất tỉnh : theo điều kiện tham quan Tam Nông  – các thể thức thể thao  sông trên khu Thanh Sơn –  Thanh Thủy và Yên Lập, sẽ gồm  nhiều lọai tiêu khiển sinh thái đa dạng  kiểu mẩu: từ sân gôn cao cấp  chí đến  hệ thống công viên thú sống tự nhiên – safari park bán  hoang dã, công viên tiêu khiển hạng quốc tế -Disneyland class với khách sạn 5 sao phối hợp các cơ sở thể thao phức tạp ( ? )v.v… Cùng lúc,  còn tạo thêm các cơ sở dịch vụ liên hệ , kể cả các trung tâm triễn lãm,   khu thương xá cận đại, theo những đột khởi – breakthroughs ( ? )  kỷ thuật hiện hửu.

 

Thực hiện đúng hạn kỳ hơn các hệ thống  Giao thông vận tải cận đại

Năm 2000,  Phú Thọ cố làm mới và  nâng cấp 329.2 km đường bộ, huy động  240 tỉ  đồng làm đường nông thôn,  100% số xã có đường ô tô đi đến trung tâm. Tổng chiều dài đường bộ tỉnh nhà năm 1999  khoảng 4650km. Quốc lộ có tổng chiều dài là 263 km, quan trọng nhất  là quốc lộ 2 Hà Nội – Hà Giang tới biên giới Việt – Trung, qua thành phố công nghiệp Việt Trì. Tổng chiều dài tỉnh lộ khỏang 310km. Tổng chiều dài huyện lộ và nội thị là 338km. Tổng chiều dài đường liên xã, liên thôn là 3240 km. Nhìn chung, chất lượng đường bộ năm đó thấp kém. Trong tổng số  4650km, chỉ mới có  240 km là đường nhựa và bê tông, 65 km là đường đá, gạch; còn lại là đường cấp phối và đường đất ( 3840 km  đường đất ). Đến  tháng 12 năm 2012, hệ thống đường bộ đã được nâng cấp, cận đại hóa, nhất là đường Quốc lộ số 2 nay là xa lộ cao tốc  chạy dài  từ Côn Minh – Vân Nam đến Phi trường quốc tế Nội Bài, ngang qua hai tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ. Tiếp nối với Xa lộ cao tốc  số 5 đến Hải Phòng  và Xa lộ số 18 nối Hải Phòng đến cảng Cái Lân, tỉnh Quảng Ninh.  Quốc lộ 32 A chạy từ Hà Nội  ngang qua Phú Thọ và chấm dứt  ở thị xã Hòa Bình và quốc lộ 32C cũng chạy dài từ Hà Nội, ngang qua Phú Thọ và Yên Bái , nhiên hậu sang Lào. Đường Xuyên Á phía Bắc – Trans-Asian road và xa lộ” đường mòn Hồ Chí Minh trail” cũng sẽ chạy qua ngang tỉnh.

Xa lộ Nội Bài – Lào Cai cao tốc 4 lằn rộng 24 m, dài 244 km  trị giá 20 ngàn tỉ đồng VN, khỏang 1 tỉ đô la Mỹ  vay tiền của Ngân Hàng Phát triễn Á Châu –ADB, phần Đối giá Việt Nam do Công ty Phát triễn xa lộ Việt Nam – VEC đài thọ và 3 công ty lớn Nam Hàn là Posco EC,  Doosan, Keangnam Enterprises  và Công ty  Cầu – Đường Quảng Tây- Guangxi Bridge and Road Co. trúng thầu xây cất.  Khởi công xây dựng tháng 9 năm 2009, dự trù sau 40 tháng thì xong, nghĩa là khánh thành được đầu năm tới 2013.  Và sẽ chạy qua 5 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai. Ở tỉnh Phú Thọ, xa lộ bắt đầu từ thành phố Việt Trì, chạy hai huyện Phú Ninh và Lâm Thao đến thị xã Phú Thọ và huyện Cẩm Khê, trị giá 2 .385 ngàn tỉ đồng ĐVN. Hảng  Posco  Nam Hàn trúng thầu xây cất khúc đọan này, dưới sự kiểm sóat kỷ thuật của hảng cố vấn  Gentiasu Construction Tây Ban Nha. Tin tức bộ Giao thông vận tải tháng 7 năm 2012, cảnh báo hảng Nam  Hàn là sẽ không gia hạn khi chậm trễ xây cất, dù hảng Posco than phiền là thủ tục giải tỏa  đất  đai hai bên đường chưa xong và thời tiết bất thuận lợi.

Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai  ở Phú Thọ ,chiều dài 93 km ở địa phận tỉnh nhà,  có ý nghĩa rất lớn  đối với  việc phát triễn kinh tế xã hội tỉnh. Dự án  nâng cấp đường sắt này từ ga Yên Viên – Hà Nội đến Hồ kiều- He Kiou ở biên giới Việt Trung dài 285km, ký kết khởi công nghiên cứu tháng tư năm 2011, dự trù chạy ngang qua hai khu công nghệ Thụy Vân và Bạch Hạc,  nâng cấp cả hai ga chánh là Phú Thọ và Việt Trì, bảo đảm giao thông mau lẹ, an tòan hơn  cho vận tải tăng gia ở tỉnh đến năm 2020. Tiếc thay, các dự án ADB tài trợ  như cao tốc vừa kể, hành lang kinh tế  Côn Minh – Hải Phòng, ngay cả xa lộ cao tốc Dầu Giây – Long Thành  (Miền Đông Nam  Phần ) v.v…  đều thực hiện chậm trễ, phí tổn vượt quá dự trù vì  giá cả gia tăng, tháo khoán ngân khỏan trì trệ …

Tưởng cũng nên lưu ý  đến vận tải đường sông, chiều dài ở tỉnh Phú Thọ lên đến 235 km ( 146 dặm Anh ).  Không nên quên  cảng sông Việt Trì là một trong những cảng sông quan trọng ở nước nhà,  khả năng  chuyên chở mỗi năm trên 1 triệu tấn. Hai cảng sông khác  ở tỉnh Phú Thọ đáng kể ra là Yên Mao và Bãi Bằng,  cũng góp phần  không nhỏ vào phát triễn kinh tế,  nhờ nối liền tỉnh với các cảng lớn Hà Nội và Hải Phòng.

 

Sau giai đoạn  lượng và đa lọai,  giáo dục đào tạo phải chú tâm đến phẩm,  nội dung cập nhật tinh vi hơn  ( quí hồ tinh, bất qúi hồ đa ?  )?

 

Ngòai  các cải thiện cần thiết  về thông tin liên lạc ( điện thọai , internet , đường truyền cáp quang , phủ sóng phát thanh , truyền hình ti vi  các tiện nghi bưu điện và viễn thông  tốt đẹp nội địa hay liên lạc quốc tế … nhờ hai vệ tinh ViNASAT- 1 phóng lên từ căn cứ  Kourou – Guyane , Nam Mỹ năm 2008 và VINASAT- 2  phóng lên giữa  năm 2012, vệ tinh thứ hai này  cũng  là Qũy Đạo Trái Đất  cố định theo Trái Đất-geostationary Earth Orbit,  GEO,  ngòai  cập nhật viễn thông còn có  sứ mệnh  làm nền tảng cho những chương trình truyền thông cực trọng khác của Việt  Nam  tỉ như   Băng tần  Siêu Cao Tiên tiến – Advance Extremely High Frequency và  Hệ thống Sử dụng  các Điểm Mục tiêu “quân sự ?” Di động- Mobile User Objective System satellites…    ), điện ( hệ thống điện từ đập Hòa Bình và một  nhà máy nhiệt điện tỉnh nhà và mạng lưới điện rất vững chải, các xã trong tỉnh đều có điện  …) , nước ( đặc biệt theo kỷ thuật Đức ở cả hai thành phố Việt Trì – dung tích 42 000m3/ngày – và thị xã Phú Thọ ),  các  cơ sở thương mãi , ngân hàng…,  y tế ( từ năm 2000,  100% số xã tỉnh đã có bác sĩ- y sĩ sản nhi, nữ hộ sinh và y tế thôn bản   giúp giảm bớt tỉ lệ suy dưỡng trẻ em từ 41% xuống năm 1996 ,chỉ còn 33% năm 2000; tòan tỉnh có 16 bệnh viện, 11 phòng khám đa khoa…  )  Nhưng muốn  phát triễn vững bền,  cần chú tâm hơn  nữa đến phẩm giá giáo dục, đào tạo cán bộ nội dung cập nhật trào lưu quốc tế  hiện hửu hay tương lai .

Phú Thọ là một trong những tỉnh có sứ nghiệp giáo dục đào tạo đáng kể . Hiện tỉnh có 542 trường học , 8779 lớp , tổng số học sinh  là 304 326 học sinh và 4 trường trung học tổng số học sinh là 30 221 người. Riêng về đại học – cao đẳng, năm 2012 , thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ đã có  4 viện đại học – University :1-  Viện đại học Hùng Vương , đa cấp , đa lọai với các khoa – faculty: tóan, kỷ thuật  kinh tế kinh doanh,  nông lâm ngư,  ngọai ngữ, khoa học xã hội,  giáo dục sơ đẳng – mẩu giáo, khoa học tự nhiên, âm nhạc .2 – Viện Quốc gia  Sư phạm Trung ương  . 3-  Viện Công nghệ Việt Trì, trước năm 2011 là trường Cao đẳng  Hóa học- Chemical College . 4- Viện  Dược khoa -Fushico, trước năm 2012 là trường  Cao Đẳng  Dược – Fushico .   Năm 2013 , sẽ thành lập Viện  Y sĩ điều dưỡng – Nursing University , nguyên là trường cao đẳng y khoa – medical college .  Ngòai những trường cao đẳng khác, thành lập đã lâu, như  kinh tế công nghệ, công nghệ thực phẩm, cơ khí và điện , nghệ thuật và văn hóa,  công nghiệp trung gian- intermediate occupations ( ? ) sông Hồng, Trung tâm giáo dục liên tục.  Cũng như các trường trung học dạy nghề , chuyên nghiệp –vocational secondary schools ( kiểu Cao Thắng… miền Nam trước 1975)  như các trường trung học chuyên môn Hùng Vương, Việt Trì, “ cán sự – kiểm sự” công nghệ Việt Trì , trung học Herman,  trung học Lê Qúy Đôn, các trung học dân lập Âu Cơ, Việt Trì và Vân Phú.

Vấn đề là  giáo  chức mọi trường mọi cấp,  Phú Thọ cũng như gần khắp mọi nơi nước nhà,  chưa đạt trình độ  chuẩn cấp cao  đặt ra , đặc biệt chất lượng giáo dục – đào tạo ở một số vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu ,vùng xa còn rất thấp, nội dung học trình cấp đại học,  đặc biệt ở cấp cao học và cấp tiến sĩ chưa đủ  tinh thâm  như  ở các trường cao đẳng, khoa, viện đại học  ở Đài Loan, Singapore,  Đại Hàn, Nhật Bổn ( ngay cả ở Thái Lan , Mã Lai Á, Phi Luật Tân ?) , gây ra tệ đoan lạm phát cấp bằng thạc sĩ – tiến sĩ hạ giá  rỗng tuếch  trong nước  và công trình nghiên cứu khoa học, kỷ thuật, xã hội, nhân sinh , môi sinh …  cũng còn quá kém cõi,  không đóng góp gì  được bao nhiêu  cả cho cộng đồng thế giới tiến bộ ngày nay.  Có lẽ đã đến lúc phải có suy tư  “đổi mới” khác năm 1996 – 98, mà nguồn gốc phải thóat thân từ các  giới giáo dục – đào tạo mới,

trong cũng như ngoài nước,  giải quyết những vấn đề quan trọng như dân chủ – tự do, chống tham nhũng- lãng phí tài nguyên tài sản, san bằng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các giới cấp ở đô thị đặc biệt  dân nông thôn mới di cư vào tỉnh thường còn phải sống ở ổ chuột và các trung lưu, thượng lưu thành phố, phát huy đời sống -xã hội thoải mái cận đại, làm sạch môi sinh v.v…

 

Công Nghiệp và Xây dựng

 

Công nghiệp tỉnh Phú Thọ trước đây tập trung ở thị xã Phú Thọ nguyên là tỉnh lỵ tỉnh và là thị trấn xưa cổ nhất Việt Nam. Nhưng sau khi tỉnh lỵ  chuyễn qua thành phố  Việt Trì, tư bản đầu tư công thương và nâng cấp  hạ tầng cơ sở thị xã Phú Thọ giảm bớt hắn. Thị trấn  Phú Thọ  là một căn cứ kháng chiến các năm 1945- 54.  Sau thời kỳ này thị xã Phú Thọ nổi tiếng  về truyền thống giáo dục . Viện đại học Hùng Vương, trường cao đẳng sư phạm và nhiều trường trung học kỷ thuật và dạy nghề được thiết lập ở thị xã Phú Thọ,  không những riêng cho thị xã mà cho cả  nhiều thị trấn lân cận. Thị xã Phú Thọ còn là một nơi khả dĩ thành lập một khu du lịch sinh thái nữa.  Các năm tới,  thị xã sẽ cố gắng thiết lập công viên công nghệ – industrial park Gò Gai, diện tích 120 ha kế cận “Đường mòn Hô Chí Minh ( Đường Trường Sơn Công nghiệp Nam -Bắc Hà Nội – Sài Gòn ), hầu có đầy đủ tiện nghi thu hút đầu tư .

Tỉnh Phú Thọ hiện có 4 công viên công nghệ : Thụy Vân  ở thành phố Việt Trì, diện tích 400 ha ;  Trung Hà ở xã Thượng Nông , huyện Tam Nông  126 .59 ha; Tam Nông 120 ha  và   Công viên Tasco của tổ hợp công ty Tasco tại  Đồng Lãng ,thị trấn  Phú Ninh và 13 cụm công nghệ – industrial clusters  ở nhiều xã , huyện lỵ, diện tích nhỏ hơn  20- 70 ha ( các gụm Sông Thao , Tân Lập , Tân Sơn,  Ngọc Lập- huyện Yên Lập,  Cờ Tiết- huyện  Tam Nông, Phú Hạ – huyện Phú Ninh, Đồng Lương, Đồng Lực – huyện Cẩm Khê , Sọc ( ? ) Trắng- huyện Đoan Hùng  …)

Các công nghệ mủi nhọn- nhưng cổ điển Phú Thọ là  công nghiệp hóa học khai thác và chế biến khóang sản , hóa chất, phân bón hóa học, dược liệu; công nghiệp dệt may , giày dép xuất khẩu; công  nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp chế biến nông lâm sản và thực phẩm.  Các công nghiệp điện và điện tử, tin học – phần mềm, xe ô tô, xe gắn máy ( nhà máy chế tạo xe gắn máy Honda , khai trương  năm nay 2012 là ở tỉnh Vĩnh Phúc ),  âu dược, dụng cụ y khoa… còn đang phôi thai, phần lớn chỉ mới ở giai đoạn lắp ráp.

Nhà máy super phosphate Lâm Thao , phía tây Bắc Việt Trì cách thành phố 10 km , trên bờ sông Hồng, sử dụng quặng apatit Lào Cai theo đường xe lữa cách nhà máy 200 km  và py rit  của tỉnh Phú Thọ ( và của Ba Trại Ba Vì – Hà Tây , trử lượng   trên 12 triệu tấn , hàm lượng sulfua – S khoảng 2 %), và nhà máy hóa chất Việt Trì- Vicco, năm 1999 đã  sản xuất được 200 000 tấn super phosphat , gần ½  số lượng phân bón năm đó ở Việt Nam và 50 000 tấn acid sulphuric cùng một số hóa phẩm khác(  vài hóa chất căn bản,   xút NaOH,  HCL, nước tẩy  Javel, phân  hổn hợp NPK , bột giặt v.v…) , cung cấp cho cả nước và xuất khẩu . . . Theo tổng công ty hóa học Vinachem, nhà máy phân bón Lâm Thao, năm 2011,  được xếp vào hạng A cùng 18  nhà máy hóa chất khác nước nhà. Nhắc lại  nhà máy hóa học Lâm Thao là nhà máy  Việt Nam đầu tiên áp dụng phương pháp căn bản hóa học điện công nghệ – industrial electro chemistry  và  may mắn không bị tai hại trong cuộc Hoa Kỳ thả bom  đánh phá  dữ dội các cơ sở sản xuất Bắc Việt ở Chiến Tranh Việt Nam Thứ Hai.

Ngành dệt may, giày xuất khẩu chỉ thành  hình những năm “ đổi mới”  đã bắt đầu ổn định vào năm 2000  với những  sản phẩm mới như dày thể thao , nhuộm “Păng Rim”, vải giả da …. Năm 2005  đã sản xuất trên 1.2 triệu đôi dày,  55 triệu mét vải thành phẩm , 2.5 triệu sản phẩm may mặc.

Ngành sản xuất vật liệu xây  dựng  đáng nêu lên là sản xuất gạch, sứ men – ceramic nhờ  khai thác bốn khu có mỏ cao lanh-kaolin ở Thạch Khóan,  cách thị xã Phú Thọ 35 km, cách bờ sông Đà 5km , trử lượng chưa hòan tòan thám hiểm chừng 3.2 triệu tấn năm 1999, còn kém trử lượng khu Trại Mát – Lâm Đồng ( Tây Nguyên ) ước lượng đến 11 triệu tấn  trong đó 5 triệu tấn đủ điều kiện khai thác, nhưng kao lanh Phú Thọ cũng  làm ra được những sản phẩm chất lượng cao.  Vài sản phẩm mới năm 1999 đã đưa vào sản xuất ( sứ vệ sinh, que hàn, khung nhôm kính, vật liệu nhựa chất dẽo như bao bì PP  thay gỗ).  Một số sản phẩm khác lại gặp khó khăn tiêu thụ như xi măng Thanh Ba ( không rỏ nay tân tiến bằng  kỷ thuật lò quay và tăng công xuất lên 600 000 tấn,  có  cải tiến  gì thêm nhiều về phẩm chất xi măng không ?), gạch tuy nen …

Về biến chế lâm sản Phú Thọ,  nên kể đến các nhà máy giấy Bãi Bằng, Việt Trì và Lữa Việt. Nhà máy giấy Bải Bằng là nhà máy bột giấy và giấy bìa lớn nhất nước nhà, năm 2002 đã sản xuất 50 000 tấn bột giấy và 75 000 tấn giấy đủ lọai.  Nhà máy Việt Trì nhỏ hơn, sản xuất 15 000 tấn bột giấy và 40 000 tấn giấy. Tuy vậy vẫn chưa đủ  thỏa mãn   nhu cầu giấy nước nhà, dù rằng mức tiêu thụ hàng năm về giấy ở Việt Nam cũng còn khá thấp ( 11.4 kg/người so với 23.6 kg ở Inđônêxia,  331 kg ở Hoa Kỳ và 250kg ở Nhật Bổn ) .

Phú Thọ cũng là quê hương của trà – chè. Giữa thế kỷ thứ 19, Việt Nam đã thiết lập  ngành chế biến trà, xa6y dựng 3 trung tâm khảo cứu về trà  ở Phú Hộ- Phú Thọ, Bảo Lộc- Lâm Đồng và Gia Lai – Pleiku.  Năm 1999, Phú Thọ đã có 7 nhà máy biến chế trà trong tỉnh , sản lượng  trà chế biến trà  là 8105. 5 tấn. Sản lượng trà chế biến  chưa đúng tiềm năng sản xuất của tỉnh. Phần lớn thiết bị các nhà máy trà Phú Thọ đã lạc hậu, ngọai trừ  liên doanh trà Phú Bền với Bỉ ( Belgium ) và  nhà máy sản xuất trà Tĩnh Cương CTC ( ? )  thiết bị của Ấn Độ.  Phú Thọ hy vọng sẽ đạt 15 000- 20 000 tấn trà chế biến các năm  2005- 2010, 1/5  tổng số trà chế biến tòan quốc 100 000 tấn , xuất khẩu 75- 80 % và tiêu thụ trong nước  20- 25 %. Năm 2020, dự trù trà biến chế Việt Nam sẽ đạt 150 000 – 200 000 tấn với phẩm giá cao và sạch hơn ( nghĩa là trà hửu cơ và không còn dấu vết thuốc trừ sâu độc địa,  như ở một số trà Ô Long Trung Quốc xuất khẩu sang Nhật  mới đây ).

Cải tiến nông nghiệp là cần thiết

 

Năm 1997, nông thôn Phú Thọ còn  là những vùng nghèo đói nhất Việt Nam, nhiều hộ nông thôn nghèo kiếm ra không đến 6 đô la Mỹ một tháng và năm đó  số nhân lực ở nông nghiệp là 33%, cân bằng với nhân công làm ở  hai công nghiệp- xây cất và dịch vụ .

Như vừa nói trà là cây công nghiệp lâu năm được phát triễn trên đất Phú Thọ từ lâu đời, chiếm hơn 90 % diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm. Diện tích trồng trà Phú Thọ,  năm 1999, đứng hàng thứ tư cả nước, sau Thái Nguyên , Hà Giang và Yên Bái. Các huyện trọng điểm trà của tỉnh là Thanh Ba, Sông Thao , Hạ Hòa , Đoan Hùng, Yên Lập  Thanh Sơn. Diện tích trà năm đó là 7 885.5 ha , diện tích đã sản xuất là 6910ha. Năng xuất trà từ 34 tạ /ha ( 3.4 t/ha ) tấn/ha năm 1996 đã tăng lên 45 tạ/ha năm 2000. Một số công ty trà đạt năng xuất trùng bình 70-80 tạ/ha . Có nhiều gia đình đạt 150- 200 tạ/ha . Năm 2001, diện tích trà Phú Thọ là 8400 ha, nuôi sống trên 15000 gia đình. Cơ Quan  Pháp Phát triễn- Agence Francaise de Developpement, AFD đang tài trợ giúp đở một số làng trong 8 huyện  tỉnh Phú Thọ về ngành trà. Ngân khỏan cho không  8.5 triệu euro AFD  giúp đở đầu tư cải thiện 3000ha,  trồng giống mới cao năng, cao phẩm cho chừng 3000 gia đình.

Tưởng cũng nên nhắc đến cây sơn, một cây công nghiệp truyền thống Phú Thọ, nơi sản xuất ra loại sơn  tốt nhất, chủ yếu  ở hai huyện Tam Nông và Thanh Sơn. Năm 1999, sản lượng là  121.7 tấn.  Sản phẩm sơn ta (sơn mài ) được sử dụng trong nhiều nghề thủ công nên từ lâu đã được xuất ra các địa bàn ngòai tỉnh. Từ thế kỷ thứ 18,  dân gian huyện Nam Ngư ( ? ) Thăng Long- Hà Nội đã chuyên nghiệp sản xuất các sản phẩm sơn mài. Trong các giai đọan đầu, các đồ dùng sơn mài chỉ có 4 màu : đen, đỏ, vàng và nâu . Sau đó  cải thiện kỷ thuật  thêm nhiều   màu sắc tố , cho nên nay  rộng rải chứa nhiều màu sắc độc đáo .   Các sản phẩm sơn mài điển hình cho Việt Nam, nhưng cũng xuất hiện nhiều quốc gia Á Châu, tuy rằng các sản phẩm sơn mài  Việt Nam  rất đẹp đẽ và bền bỉ. Nổi tiếng nhất là các hình họa treo tường, các chậu- bình đựng hoa, các hộp đựng nữ trang – châu báu, các mâm- khay, các bàn cờ tướng  và các bình phong xếp lại được.

Cây lương thực lúa, ngô ( bắp ), sắn, khoai lang vẫn còn chiếm ưu thế ở ngành trồng trọt Phú Thọ, năm 1999  là 66.7%  cây  trồng trọt và  77.8 %  tổng diện tích cây  trồng. Nhìn chung, năng xuất các cây lương thực có tăng lên, năm 2000 đạt  bình quân lương thực đầu người  284 kg  và năm  2007 là  308 .7 kg / đầu người, còn kém mức bình quân trung bình cả nước là  501.8 kg/ đầu nguời. Đối với một tỉnh sản xuất phân bón hổn hợp lớn nhất  nước nhà, và  có các giống cải thiện siêu năng cũng như cách thức trồng trọt thích nghi ngày nay  ở cả  ba cây lương thực tỉnh nhà là lúa ( diện tích ở tỉnh Phú Thọ là 70 000 ha , bắp ( diện tích  trên 16 000 ha ) và sắn ( khoai mì , diện tích lại có phần giảm đi những năm gần đây ? ) thiết tưởng cũng nên xét lại  mạnh mẽ  tại sao việc  vận dụng tiến bộ khoa học kỷ thuật  vào ngành sản xuất lương thực còn  quá chậm và chưa đồng đều như vậy?…

Sau cùng , tương lai phát triễn Phú Thọ cũng như Việt Nam,  phải nhắm vào “tư duy mới”  bắt nguồn từ  giáo dục đào tạo nhiều sáng tạo,  như đã phát họa sơ khởi ở phần giáo dục hướng về cao kỷ -tri thức như điện tử, viễn thông, thông tin , tin học … hỏa tiễn , vệ tinh, trực thăng không người lái v.v… liên kết với quốc phòng vùng Tam Đảo ?  phải cố tiến lên cho kịp ngành công nghệ quốc phòng Bắc Hàn, các ngành phát triễn kinh tế xã hội, đặc biệt về thông tin , truyền thông … Nam Hàn, trước  thập niên 1960,  không hơn gì Việt Nam cả…

 

(Irvine,   Nam Ca Li- Hoa Kỳ ngày 13 tháng 12 năm 2012 )

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s