GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triễn tỉnh Phú Thọ, vùng đất tổ cội nguồn dân tộc Việt Nam, nơi các vua Hùng dựng nước Văn Lang

tinhphutho Năm 1903,  tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hóa cũ được chuyễn về Phú Thọ  nên tỉnh Hưng Hóa cũ được gọi là tỉnh Phú Thọ.  Địa bàn tỉnh Phú Thọ khi đó gồm : phủ Đoan Hùng, các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi,  Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa , Hạc Trì  và các châu Thanh Sơn, Yên Lập. Năm 1968, tỉnh Phú Thọ hợp với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Tháng 11 năm 1966, tỉnh Vĩnh Phú tách ra hai, thành tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc .

 

* * *


Dù ai đi ngược về xuôi,

                                                                      Nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba.

Ca dao cỗ

Ngọn núi Hùng  xanh như một trái tim

                                                                             Đập suốt bốn nghìn mùa xuân sinh nở…

Tiếng hát cỗ

Mở lối, đắp nền, bốn mặt non sông qui một mối

                               Lên cao nhìn rộng, nhìn trùng đồi núi tựa đàn con

Câu đối dịch từ chữ Hán ở Vòm Cổ-Đền Hùng

 

Vị trí , lảnh thổ, dân số

 

Phú Thọ là một tỉnh  vùng Đông Bắc Việt Nam, nằm sát đỉnh tam giác  tam giác  hình thành đồng bằng châu thổ sông Hồng.  Bắc giáp  các tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang , Đông giáp các tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Tây,  Nam giáp tỉnh Hòa Bình và Tây giáp tỉnh Sơn La. Diện tích tỉnh nhà  là 3 528.1 km2  (  1362.2 dặm Anh vuông ) giữa vĩ tuyến Bắc 210 20’ – 210 43’ và kinh tuyến Đông 104048- 105027. Thủ phủ tỉnh Phú Thọ nay là thành phố Việt Trì, chỉ cách vùng Tây Bắc của Hà Nội 50km và cách sân bay Nội Bài 80 km.  Nhờ vị trí chiến lược này, Phú Thọ thường được gọi là “ Cửa Tây Hà Nội- West Gate of Ha Nội”   . Vị trí này ở  ngã ba, nơi hai sông Hồng và sông Đà gặp nhau  và Phú Thọ cũng nối liền  các tỉnh miền Bắc sông Hồng  với các tỉnh trung du- thượng du Bắc Việt  và với hai tỉnh  Qủang Tây và Vân Nam, Trung Quốc.  Phú Thọ nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng  kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh , nên rất thuận lợi  cho việc thông thương và phát triễn kinh tế tỉnh. Dân số tỉnh năm 1989 là 1102 600,năm 1999 là  1264 000 người, năm 2008 là  1 374 700 người, mỗi năm tăng thêm 11- 12 000 người. Như vậy năm 2012 ,có lẽ đã trên 1400 000. Phú Thọ là tỉnh đông dân thứ hai ở miền Đông Bắc , sau tỉnh Bắc Giang. Năm 1999, kết cấu dân số tỉnh  là 104 nữ / 100 nam , tương đương với tòan quốc năm đó.  Nhưng  85.8 % dân số sống ở nông thôn,  cho thấy là mức đô thị hóa còn thấp.  Năm 2012, dân sống ở nông thôn giảm bớt xuống ở mức  80 % tổng số  dân , vẫn còn cao hơn dự trù và mức dân đô thị hóa chỉ đạt 20 % .Tộc dân Kinh đông nhất, sau đó là Mường, Dao và Sán Chay…

Hành chánh tỉnh ngày nay .

Năm 1903,  tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hóa cũ được chuyễn về Phú Thọ  nên tỉnh Hưng Hóa cũ được gọi là tỉnh Phú Thọ.  Địa bàn tỉnh Phú Thọ khi đó gồm : phủ Đoan Hùng, các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi,  Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa , Hạc Trì  và các châu Thanh Sơn, Yên Lập. Năm 1968, tỉnh Phú Thọ hợp với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú. Tháng 11 năm 1966, tỉnh Vĩnh Phú tách ra hai, thành tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc .

Hiện nay tỉnh Phú Thọ gồm có  1 thành phố là Việt Trì, 1 thị xã là Phú Thọ  và 11 huyện, 11 huyện lỵ và thị trấn huyện  : Cẩm Khê ( huyện lỵ là Sông Thao), Đoan Hùng ( huyện lỵ là Đoan Hùng ), Hạ Hòa ( huyện lỵ là Hạ Hòa), Lâm Thao ( huyện lỵ là Lâm Thao và thị trấn huyện khác là Hùng Sơn) , Phù Ninh( huyện lỵ là Phong Châu) , Tam Nông( huyên lỵ là Hưng Hóa ), Tân Sơn ( chưa có thị trấn huyện lỵ ), Thanh Ba ( huyện lỵ là Thanh Ba ), Thanh Sơn  ( huyện lỵ là Thanh Sơn ), Thanh Thủy ( huyện lỵ là Thanh Thủy ), Yên Lập ( huyện lỵ là Yên Lập). Thành phố Việt Trì gồm 13 phường – wards và 10 xã – communes . Thị xã Phú Thọ  nay gồm 7 phường ( năm 1999 là 4 xã , 3 phường ). Tỉnh nhà nay có 275 xã. Đông dân nhất là thành phố Việt Trì; năm 2003 là 135 000  người, còn kém dân  số huyện đông dân nhất tỉnh là Thanh Sơn 187 700, nhưng năm 2010, Việt  Trì đã lên đến 260 288 người.  Năm 2003, thủ phủ  cũ  là thị xã Phú Thọ chỉ có  63 300, tăng nhiều so với năm 1999  mới chỉ có  38 400 người.

 

Địa hình 

 

         Địa hình  Phú Thọ khá đa dạng: núi thấp, đồi ,thung lũng … Miền núi thấp năm phía Bắc , phía Tây tỉnh, thuộc phạm vi các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Hạ Hòa, Đoan Hùng.  Núi cao nhất tỉnh là núi  Voi  1387m , núi  Tên 1244m, núi Cấn ( ? )  1144m , cả ba đều ở c ông  Viên Quốc gia Xuân Sơn , núi Lưỡi Hái 1058m phía tây Nam Việt Trì. Các núi khác  thường không tới 1000m , như núi Đồng  929m ở biên giới phía Nam tỉnh Yên Bái và phía Tây tỉnh Phú  Thọ,  núi ở phía nguồn một nhánh sông Bứa phía Nam huyện Thanh Sơn cao 805m,  núi ở nguồn một nhánh Sông Thao phía Nam huyện Yên Lập cao 879 m … . , thấp hơn núi Tam Đảo cao đến  1591m của tỉnh Vĩnh Phú  và núi Tản Viên  1287m ,  và núi Ba Vì 1250m ( ? ), tỉnh Sơn Tây ( cũ ). Dạng địa hình đặc trưng nhất tỉnh Phú Thọ là các dãy đồi chạy lúp xúp. Các đồi này hình tròn,  đỉnh đồi phẳng, sườn lồi dốc thỏai  từ 5 đến 25 độ, trên bề mặt thường phủ một lớp đất đỏ.  Độ cao trung bình các đồi Phú Thọ trung bình khoảng 20 -25m,  thấp hơn trung bình các đồi miền Trung Du là  từ 50 đến 500m. Các vùng đồi này đã được khai thác từ lâu kể các lòai  cây  họ cọ, họ dừa -palmacae: mật cật, ra, trụi, kè – Rhapis sp. , Licuala sp ., Livistonia sp ., một số dùng đan nón Phú Thọ ( nón sông Thao ?), đặc biệt ở các làng Sài Nga, Sơn Nga, Thanh Nga, Đông Khê …. Nón Sông Thao đơn giản, trắng ngần, giữ được lâu và cũng có lọai nón lá bài thơ giữa hai lớp lá mỏng như ở Huế  (  Huế dùng lá buôn – latanier Corypha sp. ). Nón dùng vật liệu tương đương nón Sông Thao là nón làng Chương, tỉnh Hà Tây ( cũ ). Nay phần lớn các rừng Phú Thọ đã được các cây công nghiệp cỗ truyền như sơn, trẩu, sả và nhất là trà – chè thay thế . “ Rừng cọ , đồi chèlà biểu tượng của Phú Thọ. Kết hợp với dạng hình đồi là các thung lũng, con người khai thác làm lúa nước.

 

Đất đai

 

Đất đai vùng  đồi núi là là đất  feralit vàng và đỏ vàng- Ferralic Acrisols  hình thành trên nền gốc đá phiến hay  đá gơnai ( nai ) – gneiss  có tuổi rất cổ.  Vì lượng mưa tương đối lớn, lại có nhiều cơn mưa going, nên trong trường hợp thiếu lớp thực vật che phủ,  quá trình rửa tràn trên mặt sẽ làm  trôi hết  lớp đất mặt, xuống tích tụ ở các thung lũng hẹp.  Vì vậy đất  thóai hóa, có phản ứng acid và tầng đất mỏng. Để bảo vệ đất, cần  tạo một lớp thực  vật rừng  hay các phương thức trồng nhiều tầng cây không làm gỗ xen kẻ cây công nghệ  lâu năm,  với hoa màu hàng niên hay các đồng cỏ hòa bản  hay họ đậu cải thiện chăn nuôi,  che phủ các đồi trọ , ngăn cản tình trạng thóai hóa đất, cải thiện chế độ nước và khí hậu địa phương .

Thành phố Việt Trì,  thị xã Phú Thọ và các thị trấn nhỏ ven sông đều nằm trên các bực  thềm sông.  Các đồi ở đây có đất phù sa cổ nhóm  feralit nâu vàng trên phù sa cổ, quá trình  đầy đủ của đất feralit đỏ vàng nói trên, nhưng  yếu hơn và cũng có kết von, đá ong.  Đất nhẹ, tơi xốp, cấu trúc phẩu diện không đồng nhất, hàm lượng các dinh dưỡng thấp. Tuy có  đá ong, kết von nhưng  nhờ địa hình thấp, dễ tưới nước nên phần lớn đã được sử dụng  trồng cây công nghiệp. Đất xám bạc màu trên  phù sa cổ- Haplic Acrisols ,  hình thành gắn liền  với  canh tác lúa nước với quá trình rữa trôi và  xói mòn. Phẩu diện thường loang lổ đỏ vàng, xen lẫn các ổ kao lin trắng. Đất nghèo dinh dưỡng, pH thấp. Màu mở nhất là dãi đất phù sa ven sông, nhưng diện tích không lớn .

 

         Khí hậu

Phú Thọ nằm trong vùng gió mùa  phụ nhiệt đới. Tuy ở vùng Đông Bắc, nhưng vì độ cao không lớn nên ngay trong mùa đông cũng không lạnh lắm.  Nhiệt độ trung hình ghi chép hàng năm là 23.50C ( 74.30F ). Nhiệt độ  cao nhất là 290C ( 840F ) vào tháng 7 ; nhiệt độ thấp nhất là 150C (590F) vào tháng 2.  Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau . Lượng mưa trung bình từ  1600 mm đến 1800mm  tập trung vào 5 tháng , từ tháng 5 đến tháng chín . Ẩm độ cao trong thời gian gió mùa thổi  từ tháng 5 đến tháng 10  trung bình 85% ;  mùa khô ẩm độ trung bình là 80%.  Số giờ nắng trong năm khá cao , 1300- 1400 giờ /năm. Chế độ ẩm – nhiệt giúp Phú Thọ tạo điều kiện  thuận lợi cho việc đa dạng hóa nông nghiệp và gia tăng hệ số sử dụng đất.

 

Thủy văn

 

Sông Hồng, sông Lô và sông Đà , tổng số chiều dài 200km , là ba sống lớn chảy qua tỉnh Phú Thọ.  Lưu vực 3 sông này là  5000 km2( 1900 dặm anh vuông ) .  Lưu lượng mọi dòng sông chảy qua tỉnh ước lượng là  42 tỉ m3 hàng năm . Các dòng sông lớn tạo điều kiện cho Phú Thọ giao lưu  bằng đường thủy với nhiều tỉnh miền núi , trung du phía Bắc và với đồng bằng sông Hồng. Sông Hồng chảy qua Lào Cai, Yên Bái , rồi vào đất Phú Thọ . Sông Đà chảy qua Lai Châu , Sơn La, Hòa Bình rồi tạo nên ranh giới tự nhiên  giữa Phú Thọ và Hà Tây. Sông Lô chảy qua Hà Giang , Tuyên Quang  rồi vào đất Phú Thọ  tạo nên ranh giới  tự nhiên giữa Phú Thọ và Vĩnh Phúc.  Các dòng sông lớn  này tụ hội ở Việt Trì – thành phố ngã ba sông –  nơi có địa thế thậnlợi để trở thành một thành phố công nghiệp.  Nước ngầm ở Phú Thọ có chất lượng khá tốt, lưu lượng trung bình ở đồng bằng là  40-50 m3/giờ và ở  vùng đồi núi là 10 m3/giờ.

 

Tài nguyên sinh vật       

 

         Đến năm 2000, độ che phủ  rừng tòan tỉnh là 35 % tập trung chủ yếu ở địa bàn các huyện  Thanh Sơn, Yên Lập , Hạ Hòa, Đoan Hùng . Rừng tự nhiên  chiếm 37% và rừng trồng chiếm  63% diện tích đất lâm nghiệp. Diện tích che phủ rừng tăng Mau trong nuNg năm đầu thế kỷ thứ 21. rừng chủ yếutự nhiên của Phú Thọ là rừng trung bhình và rừng nghèo kiệt  . Trữ lượng gỗ thấp kém  trong rừng còn một số động vật quí hiếm.

 

        Danh lam thắng cảnh     

 

 Khu di tích Đền Hùng

Khu di tích Đền Hùng  trước đây cách thành phố Việt Trì khỏang 10 km  và cách Hà Nội khỏang 95 km,  nguyên thuộc xã  Hy Chương huyện Lâm Thao. Nhưng nay xã Hy Chương trực thuộc thành phố ViệtTrì dưới tên xã Hy Cuơng rồi phường Hy Cương ( ? ).  Khu di tích này gồm có di tích ở núi Hy Cương hay núi Nghĩa Lĩnh ( còn có tên  là Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh, Hùng Sơn) cao 175m trên mặt biển ,gắn liền với truyền thuyết về 18 đời vua Hùng Vương,  xây dựng nên nước Văn Lang, đóng đô  ở Phong Châu.  Từ 4000 năm trước, những  đồ vật thời đại đá mới và đồng thau năm rải rác  trên triền núi, cho thấy, người xưa đã lui tới nơi này, thực hành tín ngưỡng Trời Đất và Nông Nghiệp. Những phế tích  của nhiều kiến trúc cổ, niên đại Lý -Trần, chứng minh là nghìn năm trước, đền miếu đã xây dựng ở đây. Những di tích đang còn, có tuổi thời Lê – Nguyễn , gồm  Vòm Cổng, Đền Hạ và Chùa , Đền Trung , Đền Thượng , Đền Giếng.

Vòm Cổng đồ sộ ở chân núi phía Tây dưới bóng những cây thông đại thụ, mang hai câu đối cổ đầy ý nghĩa  mở đầu bài này. Đền HạChùa  Thiền Quang  nằm cao trên Vòm  Cổng 225 bậc thềm.  Trước mặt Đền Hạ là một cây đại thụ, tuổi đã  700 năm. Đây là nơi tương truyền mẹ Âu Cơ đã đặt cái bọc trăm trứng, cầu khẩn cho nở thành trăm người con trai tuấn tú, tổ tiên của người Việt khắp nơi.  Cha Lạc Long Quân đem 50 người con  xuống vùng bờ biển. Âu Cơ  đem 49 người con lên vùng núi. Người con lớn nhất là Hùng Vương thiết lập nước Văn Lang và xây dựng kinh đô ở Phong Châu. Đền Trung nằm  cao trên Đền Hạ 168 bậc thềm, là ngôi đền  xây cất đầu tiên ở nước nhà trong hệ thống đền đài trên núi, nhằm ghi nhớ dấu tích nơi các vua Hùng đời xưa thường ngự bàn việc nước cùng các lạc hầu, lạc tướng và cũng là nơi Lang Liêu  đã dâng bánh chưng , bánh dầy đầu tiên của dân tộc. Đền Thượng ở gần đỉnh núi, cách Đền Trung 102 bực thềm là nơi các vua Hùng làm lễ tế  Trời – Đất, thờ thần lúa và vua Hùng thứ 6 lập đền thờ Thánh Dóng, sau khi thắng giặc Ân, một triều đại Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam.   Mộ Tổ  hay lăng Hùng Vương thứ 6 , một công trình tưởng niệm  nằm gần đó. Tương truyền vua Hùng thứ 6, sau khi  thắng giặc Ân xâm lăng cởi áo bào, treo ở  một nhánh cây đại thụ kim giao Podocarpus sp.  Ngay sau đó, vua Hùng cũng chết tại chỗ này.  Đền Thượng cũng là nơi  vua Hùng thứ 18 giao quốc gia cho Thục Phán, vị vua đã xây một cột đá tưởng niệm,  thề sẽ duy trì Đền Hùng và thừa kế gia đình vua Hùng. Dưới chân  núi phía Đông Nam là Đền Giếng , nơi thờ hai công chúa  con gái vua Hùng thứ 18  Ngọc Hoa và Tiến Dũng, thường dùng nước Giếng Ngọc  soi bóng nước và  chải tóc. ( phần lớn khu di tích Đền Hùng là chiếu theo nhà sử học Lê văn Lan, Tổng hợpVăn Hóa Việt Nam 1989 – 1995 )

 

Lễ hội truyền thống : Hội Đền Hùng

 

Trong số lễ hội truyền thống đáng kể ở Bắc Việt :  hội Dóng, Hội Lim, Hội Ó, Hội Liễu Đôi, Hội Lồng Tồng- Xuống Đồng… ) Hội Đền Hùng là hội muôn đời, muôn người Việt Nam, dù làm ăn ở đâu đi nữa, nhưng mỗi độ xuân về,  ai ai nhớ đến cội nguồn dân tộc  cũng hướng lòng mình về một vùng đất Tổ. Từ các làng xung quanh núi Nghĩa Lĩnh, ngày mở hội đã được tổ chức từ Tết với nhiều tiết mục văn hóa phong phú. . Hột kéo dài từ mồng 8 đến  ngày 11 tháng ba âm lịch, nhưng ngày  mồng 10 tháng ba được coi là ngày hội lớn nhất, ngày hội tụ và kết thúc  một mùa hội xuân của vùng này.  Hôm đó ở Đền Thượng  diễn ra một  cuộc tế lễ trang trong  nhắc đến 18 đời Hùng Vương xây dựng nước Văn Lang, tiền thân của Việt Nam ngày nay.  Chủ tế luôn luôn là một đại diện  cao cấp chánh quyền.  Nhiều cuộc rước lớn của các làng xung quanh hướng về đền: rước voi, rước cỗ chay,  rước bánh chưng, bánh dày, rước kiệu.  Đặc biệt là rước bánh chưng, bánh dày một mặt  để nhắc lại sự tích Lang Liêu, mặt khác để nhớ công đức  các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa nước. Đó là cuộc rướcc không bao giờ được thiếu vì là đặc điểm của hội Đền Hùng. Còn rước kiệu  từ lâu đã trở thành một cuộc thi của các làng. Những năm hội lớn có tới 7 làng tham gia , có làng rước tới hai ba kiệu .  Đám rước kiệu gồm 100 thanh niên nam – nữ, y phục cổ truyền tượng trưng cho “ Con  cháu Rồng- Tiên” lần lượt tiến về sân Đền Hạ. Tại đây trên khỏang sân rộng và bằng phẳng, các cổ kiệu cùng cờ quạt … đồng lọat rước chạy vòng quanh sân, cho nên còn được gọi là kiệu bay. Tiếp theo lễ rước kiệu là  trình diễn “Hát Xoan”  tiếng hát Kinh dân gian  đồng bằng sông Hồng tỉnh Vĩnh Phúc rải rác vang lên ở Đền Thượng với  các phường xoan nổi danh như Kim Đức , Đức Bác.  Còn ở Đền Hạ là các kịch nghệ thuật “Ca Trù”cổ điễn. Việt sử Thông Giám  Cương Mục chép rằng  năm 1025, vua Lý Thái Tổ chánh thức  đặt chức quân giáp để  quản lý các giáo phường và tuyễn  đào kép ca trù  vào cung lập ra Ban Nữ Nhạc . “ Ca” là hát, gồm cả đàn, phách và các nhạc cụ khác kèm theo. “ Trù” là  trò vui, biến âm của tiếng trò ( động Thiên Trù là động Trò, làng Phương Trù là làng Trò… ), gồm các tiết mục múa, nhào lộn,  kéo co cách điệu, hề ( vai Thày Bèo ) …  Ca trù phát triễn rất nhanh ở các vương triều Lý -Trần- Lê.  Trong dân gian, nhất là ở các nông thôn, ca trù cũng phát triễn rất cao.  Ca trù được dùng chánh thức  để tế thần, ca ngợi Thành hòang  làng, chúc phúc cho dân làng và  khuyến khích việc học hành, canh cửi.  Hội làng mở vào mùa xuân , đánh đu, đánh vật, bơi chải, thả chim …  không thể thiếu tiếng hát ca trù nơi của đình. Theo Dương Quảng Hàm, ca trù là một lối hát nói có văn chương lý thú nhất, nhiều bài  có thể coi là những áng kiệt tác trong văn Nôm ta.  Như những bài ca trù: Vịnh Tiền Xích Bích của Nguyễn Công Trứ, Hương Sơn phong cảnh  của Chu Mạnh Trinh, Đào Hồng – Đào Tuyết của Dương Khuê, Chơi Hồ Tây của Nguyễn Khuyến.  Các năm  1973 và 1978,  hội đồng sưu tầm âm nhạc truyền thống  của Tổ chức Văn hóa và Giáo dục Quốc tế- UNESCO  đã trao giải thưởng  lớn nhất  cho tiếng hát ca trù qua giọng hát của lảo nghệ sĩ Quách thị Hồ.

Ngòai ra lễ hội còn có tiếng nhạc  “ đâm đuống”  (là giã gạo chày tay của nhiều người   trên một máng gỗ dài)  của các cô gái Mường  âm thanh đều đều vang dội vào núi rừng ngày hội. Tiếng “ chàm thau”( đánh trống đồng ) cũng hùng tráng nổi lên lan tỏa khắp không gian. Bên hồ Đa Vao, cạnh chân núi Nghĩa  Lĩnh, những cặp thuyền  rồng được trang trí lộng lẫy, đua nhau lướt sóng. Trên bờ là bải tung thu hút biết bao đôi trai gái.  Cây đu tiên  quay tròn làm tung bay  những tà áo dài thướt tha…

Phú Thọ còn có nhiều lễ hội tiêu biểu khác: hội Bạch Hạc, hội Chu Hóa, hội Phết Hiền Quang, cũng như nhiều di tích như chùa Xuân Lũng, chùa Phúc Thánh vv…

       

        Công viên quốc gia Xuân Sơn

Thiết lập tháng hai năm 2002, cách thành phố Việt Trì chừng 80 Km. Công viên  chiếm 15 048 ha, hơn 11 000 ha  là rừng tự nhiên và 1396  ha là rừng núi đá vôi. Đã kiểm kê được 465 lòai  cây thực vật cấp cao, 282 lòai động vật, gồm 23 lòai lưỡng cư, 30 lòai  bò sát, 168 lòai chim  và 61 lòai động vật có vú.   Các lòai vật hiếm có như gấu Tây Tạng – tibetian bears , báo săn – cheetahtrĩ trắng –white pheasants , vượn xám- gray gibbonsrắn hổ mang bành ( đeo kính )- cobras  thường gặp tại công viên. Xuân Sơn cũng  còn có nhiều hang động đẹp đẽ, có khi chạy dài 7 – 8 km bên trong các núi  Voi, núi Tên, núi Cấn ( ? ), chứa rất nhiều lòai  dơi, chưa khai thác du lịch.

 

Khu đầm Ao Châu          

Khu đầm Ao Châu  ( Châu Ngọc) cũng núi Thắm, các hang động đá vôi Xuân Sơn…  là những thắng cảnh tự nhiên,  Phú Thọ cần khai thác mau lẹ hơn đón mời thêm du khách .  Khu đầm Ao Châu, thuộc xã Ấm Thượng huyện Hà Hòa có diện tích trên 260 ha  mặt nước với 99 ngách, đan xen những khu rừng và các đồi cây ăn trái ( ăn quả ). Đầm có hình dạng đặc biệt, trông giống như đầu trâu với  hai sừng chõai về hai phía sông Thao và sông Chảy. Nơi đây không khí trong lành, cảnh đẹp nên thơ, gắn liền nhiều truyền thuyết thời Hùng Vương dựng nước.

 

Sẽ tiếp theo Phần II: Lạm bàn phát triễn Phú Thọ

 

( Irvine, Nam Ca Li- Hoa Kỳ, ngày 6 tháng 12 năm 2012 )

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s