TS. Nguyễn Xuân Niệm – SỬ DỤNG KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG VIỆC ĐÁNH BẮT BẠCH TUỘT (Octopus dollfusi) BẰNG BẪY VỎ ỐC – DUY TRÌ SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI – KIÊN GIANG

MỞ ĐẦU

Bạch Tuột (Octopus dollfusi) được đánh bắt phổ biến trong vùng biển Phú Quốc (Một trong ba vùng lõi của Khu DTSQ Thế giới – Kiên Giang), loài thủy sản này có giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập cho người dân làng chài Phú Quốc, đặc biệt là ngư dân 02 xã Bãi Thơm và Hàm Ninh (vùng nghiên cứu), thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc được ngư dân trong vùng nghiên cứu áp dụng từ lâu, là phương pháp đánh bắt truyền thống, dễ thực hiện và đầu tư ban đầu ít tốn kém. Đây là phương pháp sử dụng kiến thức bản địa để đánh bắt Bạch Tuột có sự “chọn lọc” kích cỡ, không gây tác động đến các loài thủy sản khác, không ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là thảm cỏ biển.

Những năm gần đây, nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là Bạch Tuột sống trong vùng thảm cỏ biển đã bị suy giảm nghiêm trọng, làm cho nghề đánh bắt bằng bẫy vỏ ốc ngày càng khó khăn. Các nguyên nhân chính làm cho nguồn lợi này suy giảm chủ yếu là do hoạt động đánh bắt quá mức bằng các phương tiện hủy diệt như cào đôi, cào điện,… Những phương tiện này còn gây xáo trộn môi trường, phá hoại thảm cỏ biển, là bãi đẻ, ương giống của hơn 60% loài thủy sản (UNEP, 2007).

Trong khuôn khổ của dự án “Phát huy tập quán sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững của cộng đồng trong các Khu Dự trữ sinh quyển và Khu Di sản thiên nhiên thế giới tại Việt Nam” do Văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam tài trợ. Đề tài “Tìm hiểu khả năng đánh bắt Bạch Tuột (Octopus dollfusi) bằng bẫy vỏ ốc trong việc duy trì, sử dụng và khai thác bền vững tài nguyên Bạch Tuột thuộc làng chài Phú Quốc, Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang” được Ban Quản lý Khu DTSQ Kiên Giang tiến hành trong 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2010) chủ yếu bằng phương pháp định tính, thông qua công cụ điều tra có sự tham gia của cộng đồng tại các làng chài tại 02 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm của huyện Phú Quốc. Kết quả nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp hợp lý trong việc sử dụng phương pháp đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc gắn với phục hồi, duy trì và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn biển.

Xã Hàm Ninh: Dân số toàn xã có 6.851 người của 1.550 hộ, hầu hết sống tập trung ở những làng chài dọc ven bờ biển. Có 2.890 lao động chiếm 46% dân số của xã, trong đó lao động thủy sản chiếm đến 71,5%, nông nghiệp 21%, thương mại, dịch vụ 3,2%, còn lại 4,3% chưa có việc làm ổn định. Trình độ lao động vẫn còn ở mức thấp, thu nhập bình quân đầu người khoảng 12 triệu đồng/người/năm. Có 470 phương tiện đánh bắt thủy sản chủ yếu là công suất nhỏ (dưới 20 CV) khai thác gần bờ  do vậy hiệu quả kinh tế không cao (Phòng Thống kê huyện Phú Quốc, 2009).

 

I. TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu thuộc 2 xã Bãi Thơm và Hàm Ninh của huyện Phú Quốc.

Hình 1.1 Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu tại Phú Quốc

 

Xã Bãi Thơm:Dân số toàn xã có 4.789 người của 1.419 hộ, chủ yếu sống tập trung ở những làng chài dọc ven bờ biển. Toàn xã có 225 phương tiện đánh bắt thủy sản chủ yếu có công suất nhỏ. Ngư trường đánh bắt gần bờ, nhỏ hẹp và sát biên giới Campuchia. Ngoài nghề đánh bắt thủy sản, ngư dân trong xã còn nuôi trồng thủy sản như ốc hương, ốc nhảy, cá mú, cá bóp, ghẹ,… tuy nhiên đầu ra thì không ổn định và tình hình dịch bệnh trên thường hay xảy ra do đó hiệu quả kinh tế không cao (Phòng Thống kê huyện Phú Quốc, 2009).

Tình trạng gia tăng dân số, thiếu việc làm, dân trí thấp, khai thác thuỷ sản chủ yếu bằng các nghề lạc hậu, hoạt động ven bờ dẫn đến nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt, hệ sinh thái thảm cỏ biển bị xáo trộn, ảnh hưởng xấu đến nơi cư trú của các loài thủy sản, đặc biệt một số loài động vật quý hiếm chủ yếu sống trong vùng cỏ biển như Dugong, Rùa biển,… (Lê Thị Nhứt và ctv., 2005).

 

II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là sử dụng kiến thức bản địa đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc nhằm duy trì, bảo tồn, sử dụng và khai thác bền vững nguồn tài nguyên Bạch Tuột thuộc làng chài Phú Quốc, Khu DTSQ thế giới – Kiên Giang.

2.2. Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu theo khung phân tích như sau:

Kết quả điều tra nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

– Mô tả hiện trạng Bạch Tuột và khuynh hướng suy giảm trong thời gian 10 năm vừa qua.

– Phân tích, ghi nhận, và hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lên nguồn tài nguyên Bạch Tuột và gián tiếp thông qua ảnh hưởng lên thảm cỏ biển trong vùng nghiên cứu.

– Tìm hiểu kiến thức truyền thống ở địa phương về cách phục hồi, duy trì, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này nhằm đảm bảo phát triển sinh kế cho ngư dân khai thác bằng nghề bẫy vỏ ốc.

– Đưa ra những kiến nghị chính sách và can thiệp để phục hồi, duy trì, và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này.

 

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp điều tra thực địa

Trước khi tiến hành cuộc điều tra, nhóm nghiên cứu được tham gia lớp tập huấn phương pháp điều tra theo PRA tại tỉnh Cà Mau năm 2010 do các chuyên gia của Văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam hướng dẫn.

Điều tra thực địa được tiến hành tại các làng chài thuộc 02 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm. Việc thu thập thông tin trong cuộc điều tra được sử dụng cùng lúc nhiều công cụ phục vụ đánh giá nhanh là Sơ đồ tài nguyên; Lịch thời vụ; Phân tích cây vấn đề; Phân tích khuynh hướng; Phỏng vấn trực tiếp. Các công cụ này được thiết kế thu thập thông tin định tính các vấn đề đặt ra (không xử lý thống kê).

Bố trí thu thập thông tin theo từng công cụ:

Phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo của 02 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm theo danh mục thông tin phỏng vấn;

– Quan sát trực tiếp hoạt động đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc của các ngư dân tại các ngư trường;

– Tổ chức họp dân để hỏi ý kiến, thảo luận và thu thập thông tin. Sử dụng các công cụ điều tra: Sơ đồ tài nguyên, Lịch thời vụ, Phân tích cây vấn đề, Phân tích khuynh hướng. Tổng số có 04 cuộc họp dân, mỗi ấp một cuộc (02 ấp vùng lõi và 02 ấp vùng đệm của Khu Bảo tồn biển Phú Quốc);

– Phỏng vấn trực tiếp các ngư dân làm nghề bẫy vỏ ốc, một số làm nghề lặn tại các làng chài của 02 xã theo phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc. Phiếu phỏng vấn gồm những nội dung định tính (không dùng để xử lý số liệu bằng các phương pháp thống kê). Số lượng phiếu nhiều hay ít tùy thuộc vào thông tin thu thập, nếu từng thông tin được phỏng vấn đến khi bão hòa thì xem như đủ lớn và có thể dừng lại.

2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Tiến hành thu thập các thông tin thứ cấp có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế & xã hội của khu vực nghiên cứu, tình hình nghiên cứu về đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc,… tại các cơ quan trong tỉnh như: Sở KH&CN, Sở NN&PTNT, UBND huyện Phú Quốc, Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, Phòng Thống kê huyện Phú Quốc,…

2.3.3. Phương pháp xử lý thông tin

Phương pháp xử lý thông tin chủ yếu là tổng hợp từ các công cụ điều tra (theo đúng kế hoạch điều tra nhanh).

Mỗi thông tin được tổng hợp từ một hay nhiều công cụ điều tra (được nhiều công cụ cung cấp thì thông tin càng chính xác).

Sau mỗi lần thu thập số liệu, nhóm nghiên cứu tiến hành họp, thảo luận, phân tích các thông tin thứ cấp.

Kết thúc đợt khảo sát thực địa, tiến hành tổng hợp thông tin từ các các công cụ: Phiếu phỏng vấn cá nhân, Sơ đồ tài nguyên, Lịch thời vụ, Phân tích cây vấn đề, Phân tích khuynh hướng. Sau đó thảo luận và viết báo cáo kết quả điều tra.

2.3.4. Hội thảo khoa học để lấy ý kiến đóng góp của các ngành

Sau khi hoàn chỉnh báo cáo kết quả điều tra, tiến hành hội thảo để lấy ý kiến các ngành liên quan như: Sở NN&PTNT; Sở TN&MT; Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Chi cục Nuôi trồng thủy sản; Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư; Trung tâm Ứng dụng & Chuyển giao công nghệ; Bộ đội Biên phòng; Sở VH,TT&DL,…

Sau khi hội thảo, tiến hành thu thập thông tin bổ sung và chỉnh sửa báo cáo.

 

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Lịch thời vụ

Qua thảo luận tập trung tại các cuộc họp dân ấp Bãi Vòng, Rạch Hàm (xã Hàm Ninh), ấp Bãi Bổn, Đá Chồng (xã Bãi Thơm), tổng hợp lịch thời vụ của khu vực nghiên cứu như sau: mùa đánh Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc gần như quanh năm, kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 9 năm sau; Mùa gần như không khai thác là tháng 10 và 11, vì ngư dân biết thời gian này là mùa sinh sản của Bạch Tuột. Nếu Bạch Tuột bắt được thời gian này (tháng 11 và 12) thì thường có kích cỡ lớn. Có lẽ do thời điểm tháng 10-11 ít đánh bắt nhất trong năm, nên Bạch Tuột bị bắt được thường có kích cỡ lớn nhưng sản lượng đánh bắt thấp, do vậy giá Bạch Tuột tăng cao. Thời gian đánh bắt được nhiều Bạch Tuột nhất thuộc các tháng 2, 3, và 4, nhưng Bạch Tuột lúc này kích thước nhỏ;  Cũng trong thời gian này, nguồn lợi thủy sản trong thảm cỏ biển phong phú hơn các tháng khác trong năm. Cũng có lẽ, vào thời điểm này cỏ biển phát triển tốt nên thủy sản trong thảm cỏ biển đa dạng, phong phú và mật số cao.

3.2. Sơ đồ tài nguyên

Qua các cuộc họp dân thảo luận tại các ấp, sơ đồ tài nguyên vùng nghiên cứu được xây dựng và kết quả được trình bày trong Hình 3.1.

Theo ngư dân địa phương cho biết, tài nguyên quan trọng trong vùng chủ yếu hiện nay là các nguồn lợi thủy sản sống trong thảm cỏ biển và rạn san hô. Về thảm cỏ biển trong khu vực này có 9 loài, đó là Enhalus acoroides, Thalassia hemprichii, Cymodocea serrluata, Cymodocea rodundata, Halodule uninervis, Halodule pinifolia,  Halodule minor, Halophila ovalis, Syringodium isoetifolium. Loại thân, lá nhỏ (Halodule minor) thường phân bố ở cách xa bờ và ngược lại loại lớn (Thalassia hemprichii) thường phân bố ở gần bờ trong khu vực vùng lõi của Khu bảo tồn biển, nhiều nhất là vùng tiếp giáp với ấp Bãi Bổn xã Hàm Ninh và ấp Đá Chồng xã Bãi Thơm.

Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú nhiều nhất của các loài thủy sản vì đây là nơi sinh sản, ương dưỡng quan trọng của các loài thủy sản này (UNEP, 2007). Những khu vực có Bạch Tuột nhiều là các vùng bãi cát, sỏi, hang lỗ, cồn cát dưới đáy biển, là chỗ cư trú chủ yếu của Bạch Tuột và nằm tiếp giáp với thảm cỏ biển. Trong thảm cỏ biển hiện nay các loài ít tìm thấy là cá cúi (Dugong, Mỹ nhân ngư), cá ngựa, rùa biển, hải sâm, ốc nhảy,…

 

3.3. Cây vấn đề

Qua 04 cuộc họp dân làm nghề đánh Bạch Tuột tuộc tại các ấp Bãi Bổn, Đá Chồng xã Bãi Thơm và ấp Bãi Vòng, Rạch Hàm xã Hàm Ninh đều thống nhất chọn vấn đề trung tâm là nguồn lợi Bạch Tuột bị suy giảm. Tổng hợp kết quả phân tích vấn đề được trình bày trong Hình 3.2.

Qua phân tích vấn đề tại Hình 3.2 cho thấy:

Nguyên nhân:

Nguồn lợi Bạch Tuột bị suy giảm chủ yếu do việc sử dụng các phương tiện đánh bắt hủy diệt, như:

Cào bay là phương tiện gây ảnh hưởng nghiêm trọng vì đánh bắt hầu như tất cả các loài thủy sản từ lớn đến bé, từ tầng mặt đến tầng đáy kể cả các loài vùi sâu trong tầng bùn nhằm tận thu không bỏ sót đối tượng đánh bắt nào trên đường miệng cào đi qua. Đây là phương tiện khai thác trái phép, hoạt động khắp nơi, từ xa bờ đến gần bờ, trong và ngoài thảm cỏ biển. Khi cào bay hoạt động làm chết cỏ biển, xáo trộn, phá hủy tầng đáy, hang ổ, nơi cư trú, nơi sinh sản của các loài sinh vật biển đặc biệt là Bạch Tuột.

Cào điện đánh bắt chủ yếu nhằm vào các loài cá. Tuy nhiên, do phương tiện này đánh bắt bằng cách giật điện vì vậy khi hoạt động đã hủy diệt tất cả các loài thủy sinh động vật trên đường miệng cào đi qua kể cả các động vật không phải là đối tượng cần khai thác như Bạch Tuột con.

Ngoài ra, ô nhiễm nước ven bờ cũng xảy ra phổ biến ảnh hưởng đến nơi cư trú, sự phân bố của Bạch Tuột. Vấn đề được người dân nhận biết qua sự thay đổi màu nước, độ đục của nước tại các khu vực ven biển. Nguyên nhân chủ yếu do nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư trên đảo, các làng chài ven biển thải trực tiếp vào môi trường trên các tuyến sông, suối chảy ra biển gây ô nhiễm. Các hoạt động nuôi thủy sản ven biển như nuôi ốc hương, các loài cá biển bằng lồng bè, do xác chết của cỏ biển trôi dạt vào bờ,… cũng góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường nước ven bờ. Điều này cũng đã được Lê Thị Siêng ghi nhận từ năm 2005.

Hậu quả:

Theo ngư dân, nguồn lợi Bạch Tuột trong vùng bị suy giảm đã dẫn đến một số hậu quả đáng lo ngại cho nghề đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc tại các làng chài. Trước những khó khăn đó, nhiều ngư dân đã chuyển sang làm nghề đánh bắt các đối tượng khác như lưới ghẹ, nghề lặn,… và họ phải đầu tư mua sắm phương tiện tốn kém, mà ngư dân làng chài đa số là nghèo nên chắc chắn khổ lại chồng khổ.

3.4. Phân tích khuynh hướng về nguồn lợi Bạch Tuột  

Kết quả điều tra tại 02 xã Hàm Ninh và xã Bãi Thơm cho biết: sản lượng đánh bắt cao nhất trong giai đoạn từ năm 2000-2004 (trung bình khoảng 50 kg/2.000 vỏ ốc), sau đó giảm dần qua các năm và còn 14 kg/2.000 vỏ ốc vào năm 2009. Chất lượng của thảm cỏ biển (tình hình phát triển của cỏ biển, sự đa dạng sinh học trong thảm cỏ biển,…) cũng có chiều hướng giảm dần qua các năm. Số lượng ghe, tàu đánh bắt Bạch Tuột tăng lên từ năm 2004 đến 2008, nhưng sau giảm mạnh vào năm 2009.

3.5. Kết quả điều tra qua phỏng vấn sâu

Kết quả phỏng vấn sâu trực tiếp 43 hộ dân làm nghề khai thác Bạch Tuột, nghề lặn và lãnh đạo 2 xã Hàm Ninh và Bãi Thơm như sau:

(i) Về hiện trạng và khuynh hướng Bạch Tuột thời gian qua

Đa số các ý kiến cho rằng nguồn lợi Bạch Tuột trong vùng hiện nay còn rất ít, kém phong phú hơn nhiều so với 5 năm, 10 năm trước đây. Sản lượng đánh bắt suy giảm liên tục qua các năm, hiện nay còn rất thấp, mỗi ngày khoảng từ 4 đến 7 kg/1.000 bẫy vỏ ốc (giảm đến 50 – 70% so với trước đây). Tốc độ suy giảm nhiều nhất là từ năm 2008 đến nay.

Kích cỡ Bạch Tuột đánh bắt hiện nay, loại con lớn khoảng 50 – 70g/con (tương đương 16 – 20 con/kg) và loại con nhỏ là 33g/con (khoảng 30 con/kg). So với trước đây (5 – 10 năm trước) thì kích cỡ này không thay đổi. Nhưng tỷ lệ Bạch Tuột lớn trong sản phẩm thu hoạch ngày càng giảm, con nhỏ ngày càng tăng. Cụ thể, nếu như trước đây khai thác được hơn 50% Bạch Tuột lớn thì ngày nay chỉ còn khoảng 30%.

Giá Bạch Tuột thương phẩm ngày càng tăng lên. Khoảng 5 – 10 năm trước đây, giá bán khoảng 10.000 – 12.000đồng/kg, nhưng đến năm 2010 khoảng 27.000 – 32.000 đồng/kg, hiện nay (10/2012) 55.000 – 70.000 đ/kg (loại 15 con/kg). Giá Bạch Tuột thương phẩm có xu hướng tăng lên tiếp tục trong thời gian tới do sản phẩm Bạch Tuột ngày càng ít đi, trong khi nhu cầu thực phẩm ngày càng cao nhất là nhu cầu sản phẩm cho khách du lịch của đảo Phú Quốc.

(ii) Diễn biến các yếu tố tự nhiên 

Nhiệt độ nước biển có hiện tượng tăng lên so với trước đây (từ 5-10 năm). Tình hình thời tiết của 2-3 năm trở lại đây cũng khác nhiều so với trước, mưa bão thất thường. Mùa mưa, mùa nắng ít phân biệt rõ ràng, nhiều cơn mưa diễn ra trong mùa nắng nhưng lượng mưa trong năm thì giảm đi, hạn hán nhiều.

Độ đục của nước biển thường tăng lên trong mùa mưa và các tháng gió mùa, biển động. Độ đục tăng lên tại một số khu vực còn do phù sa từ đất liền đổ ra biển trong các tháng mưa, lũ nhiều và chủ yếu từ Hà Tiên, Kiên Lương và Campuchia.

Độ mặn thường giảm vào các tháng mưa nhiều tại một số khu vực cửa sông, suối và ven bờ biển, các khu vực do nguồn nước lũ từ đất liền đổ ra. Những khu vực này vào mùa nước biển giảm độ mặn thì Bạch Tuột di trú sang nơi khác do đó đã ảnh hưởng lên sự phân bố của Bạch Tuột.

(iii) Ảnh hưởng của phương pháp và mức độ đánh bắt

Các phương pháp đánh bắt thủy sản phổ biến ở địa phương là cào bay, cào điện, cào cá ngựa, đánh lưới rùng bờ, bẫy vỏ ốc. Hoạt động của các phương tiện này được các ngư dân mô tả như sau:

– Cào bay (cào đôi) (Hình 3.3): gồm 2 tàu đi song song nhau, khoảng cách 2 tàu tùy theo kích thước của lưới. Phần đáy của lưới cào có giềng chì chìm sát đáy biển, phần trên có giềng phao thì lơ lửng trong nước. Cào bay là phương tiện trang bị động cơ có công suất lớn, tốc độ nhanh và có thể vào sát bờ và khai thác tất cả những sinh vật từ lớn đến bé. Loại phương tiện hủy diệt này do ngư dân vùng khác (từ Hà Tiên, Ba Hòn – Kiên Lương, Rạch Giá,…) đến khai thác trái phép và chúng hoạt động quanh năm, chủ yếu vào ban đêm. Khai thác thủy sản bằng cào bay là nguyên nhân làm cho nguồn lợi thủy sản trong vùng bị suy giảm nhanh chóng. Ngoài ra, khi hoạt động chúng còn cuốn đi các ngư cụ đánh bắt khác như lưới ghẹ, bẫy vỏ ốc, xâm hại đến các nghề khai thác truyền thống của ngư dân địa phương.

– Cào điện (cào tôm) (Hình 3.4): là loại cào tầng đáy, điện được gắng vào viền chì, kích thước miệng lưới tuỳ thuộc vào tải trọng tàu. Khi phương tiện hoạt động, các loại cá nhỏ, lớn trước miệng lưới đều bị điện giật văng vào lưới, tất cả các động vật thủy sinh kích thước nhỏ khác trên đường miệng cào đi qua cũng đều phải chết, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản ở tầng đáy đặc biệt là Bạch Tuột.

– Cào cá ngựa: Là hình thức cào đơn với quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu trong vùng thảm cỏ biển, đánh bắt chủ yếu là cá Ngựa và các loài sống trong vùng thảm cỏ biển. Cào cá ngựa hoạt động thường xuyên nên làm giảm đáng kể mật độ cá ngựa trong vùng thảm cỏ biển, gây xáo trộn nơi cư trú, khu vực phân bố và các loài sống trong thảm cỏ biển.

– Lưới rùng bờ (Hình 3.5): Là hình thức đánh bắt cá dùng lưới bủa vây rồi kéo đuổi để khai thác cá khu vực gần bờ. Lưới rùng bờ khai thác tất cả các loài thủy sản có kích thước lớn, nhỏ. Hoạt động khai thác gần bờ gây hại đến nơi sinh sản của nhiều loài thủy sản, hạn chế khả năng phục hồi nguồn lợi của vùng biển.

– Bẫy vỏ ốc: Là phương pháp đánh bắt đánh bắt truyền thống của ngư dân vùng làng chài Phú Quốc, chuyên khai thác Bạch Tuột, tận dụng đặc tính bản năng của Bạch Tuột thích trú ẩn trong hang hốc mà người ta làm bẫy để bắt chúng, vỏ ốc dùng làm bẫy là vỏ ốc vôi, có kích thước: rộng từ 5 cm – 7 cm, dài từ 8 cm – 12 cm, được mắc vào dây giăng sát đáy biển, sau 6 – 12 giờ thì kéo lên thu được Bạch Tuột nằm trong vỏ ốc.

Bảng 3.1: Mức độ ảnh hưởng của các phương tiện đến nguồn lợi thủy sản                 (Phú Quốc, 2010)

Phương pháp đánh bắt Loại ảnh hưởng Mức độ ảnh hưởng
Cào bay Sự sinh sản, tăng trưởng và phân bố thảm cỏ biển Nghiêm trọng
Cào tôm Sự sinh sản, tăng trưởng và phân bố và giảm đa dạng sinh học Nghiêm trọng
Cào cá ngựa Giảm đa dạng sinh học, tróc rễ cỏ biển Cao
Lưới rùng bờ Sự tăng trưởng Cao
Bẫy vỏ ốc Có thể làm giảm sản lượng Bạch Tuột, nếu đánh bắt vào mùa sinh sản. Rất thấp

Tổng hợp các ý kiến trả lời phỏng vấn về mức độ ảnh hưởng của các phương pháp đánh bắt đến nguồn lợi thủy sản trên ngư trường đánh bắt Bạch Tuột được thể hiện trong Bảng 3.1 như sau:

Trong các phương pháp trên, phương pháp đánh bắt gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là cào điện và cào bay, kế đến là cào cá ngựa, lưới rùng bờ làm ảnh hưởng đến sự phân bố, suy giảm mật độ, thành phần loài, gây tróc rễ và chết cỏ biển, làm suy giảm tính đa dạng sinh học của thảm cỏ biển.

Bẫy vỏ ốc là phương pháp có nhiều ưu điểm hơn, do bẫy vỏ ốc chỉ bắt đối tượng duy nhất là Bạch Tuột, không hủy hoại môi trường, không gây xáo trộn nền đáy nên không có ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản khác. Bẫy vỏ ốc có khả năng tự kiểm soát kích cỡ Bạch Tuột đánh bắt, chỉ bắt Bạch Tuột lớn, không bắt Bạch Tuột con, thứ nhất do vỏ ốc làm bẫy đều có kích thước lớn, rộng hơn so với Bạch Tuột con, vì vậy con nhỏ không chui rút sâu vào vỏ ốc và phần lớn đều thoát ra ngoài khi kéo bẫy thu hoạch; thứ hai, Bạch Tuột lớn ỷ mạnh xua Bạch Tuột con ra ngoài, để chiếm cứ vỏ ốc. Tuy nhiên, phương pháp đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc cũng có một số hạn chế là mùa khai thác cho sản lượng cao, thu nhập cao lại trùng với mùa sinh sản (tháng 2, 3 và 4). Mặc khác, thỉnh thoảng cũng bắt được Bạch Tuột nhỏ vì nhiều trường hợp chúng thoát ra không kịp khi thu hoạch bẫy vỏ ốc.

(iv) Tình trạng và khuynh hướng thảm cỏ biển

Đa số các ý kiến cho rằng hiện nay tính đa dạng sinh học trong vùng thảm cỏ biển bị suy giảm đáng kể, chỉ bằng khoảng 50% so với 5-10 năm trước đây. Vùng thảm cỏ biển trong quá khứ rất phong phú về thành phần và trữ lượng các loài thủy sản, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như các loại cá, ốc nhảy, cá ngựa, hải sâm,… đặc biệt là các loài động vật biển quý hiếm như Dugong, rùa biển, cá heo,… thường xuyên xuất hiện. Tuy nhiên, những loài này hiện nay còn rất ít hoặc không còn xuất hiện nữa.

(v) Tác động của các hoạt động khác của con người

Trong các hoạt động sản xuất của con người, trên địa bàn còn có nghề nuôi trồng thủy sản, rồi rác sinh hoạt từ cộng đồng dân cư, các loại rác thải từ các phương tiện khai thác thủy sản như: dầu nhớt,… theo ý kiến chung của ngư dân thì các hoạt động này chưa gây tác hại lớn đến môi trường sinh sống của Bạch Tuột cũng như thảm cỏ biển. Tuy nhiên, về lâu dài chúng sẽ là mối đe dọa tiềm ẩn lên sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái quan trọng này.

(vi) Kiến thức địa phương

– Phần lớn ngư dân trong vùng đều am hiểu tốt về Bạch Tuột và thảm cỏ biển mặc dù mức độ nhận thức từng người có khác nhau:

+ Theo kiến thức của người dân địa phương, Bạch Tuột có môi trường sống rất đặc biệt, chủ yếu ở tầng đáy, nơi có cát, sỏi, nhiều hang lỗ,… Thông thường, những cồn cát (những nơi có cồn cát nhô lên ở đáy biển nhưng không nhô lên mặt nước) là nơi có nhiều Bạch Tuột được tìm thấy. Một số ý kiến khác còn cho rằng chúng còn phân bố ở những vùng đáy sình dơ bẩn để kiếm ăn.

+ Thức ăn chủ yếu của loài Bạch Tuột chủ yếu là: cua, ghẹ, cá, tôm…. Bạch Tuột là loài ăn tạp. Độ sâu phân bố trên >3 m. Mùa sinh sản tập trung chủ yếu từ tháng 2-4, một số ý kiến khác ở ấp Bãi Thơm cho rằng mùa sinh sản từ tháng 4-8.

+ Thảm cỏ biển có thể tự tái tạo, sự phân bố của các loài cỏ rất đặc trưng những loài cỏ ngắn phân bố gần bờ và ngược lại. Vào mùa mưa cỏ chậm phát triển và không tốt bằng những tháng nước trong, chỉ phát triển ở những vùng có đáy cát.

– Qua quan sát thực tế trong quá trình đánh bắt Bạch Tuột tại ngư trường của Tàu mang biển số KG-30329 TS do ngư dân Nguyễn Thị Hường làm chủ phương tiện, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận được:

+ Bẫy vỏ ốc được sử dụng là loại ốc vôi đồng đều nhau (10–15 cm), sau khi mua về được gia công cắt, dũa, lau cho sạch và đẹp, sau đó, ốc được đục lỗ và buộc dây vào. Mỗi vỏ ốc được buộc vào sợi dây nối vào nhau và cách nhau 4,5m, ốc được thả xuống biển vào chiều tối hoặc sáng sớm. Khi thu hoạch dùng máy để kéo dây lên khoang thuyền.

+ Thời gian giăng bẫy vỏ ốc để bắt đầu chuyến đánh bắt Bạch Tuột từ 18h00-20h00 ngày hôm trước. Thời gian thu bẫy bắt đầu từ 8h00 sáng hôm sau. Vùng khai thác của mỗi tàu được các ngư dân phân chia ranh giới theo thỏa thuận. Tàu KG-30329 có phạm vi khai thác gần bờ, cách từ bờ đến nơi thả bẫy vỏ ốc đầu tiên khoảng 1,5-2,0 km. Do biển rộng khó định vị, ngư dân thường phân luồng bằng cách cắm nhiều cọc bằng cây cách nhau khoảng 100, 200 m có gắn phao, cờ để nhận biết.

+ Cũng như những tàu khác, để trợ lực cho động tác kéo bẫy ốc lên tàu trong công đoạn thu hoạch được nhanh, gọn, các tàu sử dụng động cơ máy dầu công suất nhỏ chuyển động trục quay để kéo. Việc thu hoạch cũng đòi hỏi người lái tàu và người kéo bẫy phải phối hợp chặt chẻ, có kỹ năng được luyện tập trong thời gian dài gắn liền với quá trình khai thác, các vỏ ốc kéo lên cũng phải có thứ tự, phân lớp để khi thả trở lại không bị rối, dính vào nhau hoặc khi dây kết nối bẫy bị chéo nhau thì phải được xử lý đúng thao tác và nhanh nhẹn.

+ Quan sát ghi nhận được một số trường hợp Bạch Tuột đang ăn mồi trong vỏ ốc khi được bắt lên. Thức ăn của chúng cũng đa dạng gồm các loài thủy sản có mặt trong vùng như tôm, cá, sò, ốc,…

+ Vùng đánh bắt là nơi nền đáy cát xen lẫn với cỏ biển loại cỏ lá hẹ. Môi trường – Vỏ ốc mặc dù được cho là có khả năng chọn lọc kích thước đối tượng đánh bắt, không bắt Bạch Tuột con. Tuy nhiên, một vài trường hợp Bạch Tuột con vẫn chưa kịp thoát ra khỏi bẫy trong quá trình thu hoạch. Phần lớn ngư dân có ý thức thả lại Bạch Tuột con để chúng phát triển.

+ Bạch Tuột được đánh bắt hầu hết là con trưởng thành, một số đang mang trứng vì vậy ngư dân cho rằng chúng vào vỏ ốc để đẻ trứng, vì vậy khi kéo vỏ ốc lên ta thường thấy Bạch Tuột còn kéo theo các vật che đậy miệng vỏ ốc để tránh các loài cá xâm nhập ăn trứng.

+ Sau khi thu hoạch trong một buổi sáng của tàu KG-30329, sản lượng đánh bắt được xác định là 03kg/300 vỏ ốc.

 (vii) Thông tin điều tra bổ sung (bằng phiếu)

Qua điều tra bổ sung (phỏng vấn sâu), các thông tin liên quan đến phát triển sinh kế được ghi nhận như sau: Tổng số ghe hiện đang hành nghề bẫy vỏ ốc có khoảng trên 20 chiếc; Số ghe đánh bắt bằng bẫy vỏ ốc đã chuyển sang nghề đánh bắt khác khoảng trên 100 chiếc, chủ yếu là nghề lặn, lưới ghẹ, bao rạn, lưới vây,…

Việc chuyển nghề đánh bắt khác phải tốn kém nhiều kinh phí cho đầu tư ngư cụ (mua lưới hoặc bình hơi, đồ lặn). Một số ngư dân có điều kiện thực hiện xen kẽ nghề bẫy ốc kết hợp với nghề lặn hoặc lưới ghẹ sẽ thuận lợi hơn.

Bảo tồn và phát triển nghề bẫy vỏ ốc không ảnh hưởng tới các nghề khác do có tính đặc thù và tính chọn lọc đối tượng chỉ khai thác Bạch Tuột nên không gây xung đột với nhau, nếu có chỉ là khai thác trùng khu vực khai thác. Khi có tranh chấp hay xung đột xảy ra thì các cơ quan như Biên phòng; UBND xã, Công an xã, ban ngành ấp hòa giải.

Phần lớn các ngư dân bỏ nghề bẫy vỏ ốc nhưng còn ghe đánh bắt, do vậy họ sẽ sẵn sàng quay lại nghề cũ nếu nguồn lợi Bạch Tuột phát triển trở lại. Họ cũng sẵn sàng tham gia tập huấn kỹ thuật để áp dụng trong đánh bắt phục vụ cho phát triển nguồn lợi thủy sản trên ngư trường của họ.

Khu vực nghiên cứu có các ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên, một số nghề gần gủi với đời sống sản xuất các ngư dân làng chài cần xem xét hỗ trợ phát triển thêm sinh kế để giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên trong khu bảo tồn như: Nuôi các loài thủy sản: nuôi bằng cá lồng bè, các loài nhuyễn thể, Ốc Hương, Ốc Nhảy, kể cả Bạch Tuột; Trồng rau an toàn, hoa kiểng phục vụ du lịch; Chăn nuôi bò, heo và gà; Nuôi các loài động vật bản địa của đảo Phú Quốc có giá trị kinh tế cao.

Nếu thực hiện các nghề trên thì cần giải quyết những khó khăn chủ yếu là thiếu kinh phí, thiếu kỹ thuật nhất là ứng dụng các mô hình nuôi thủy sản, trồng rau an toàn. Mặc khác, cũng cần có sự tổ chức hợp lý để từng hộ gia đình tham gia sản xuất làm quen nghề mới.

 

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

Nguồn lợi Bạch Tuột trong khu vực nghiên cứu đã và đang trên đà suy giảm mạnh. Sản lượng Bạch Tuột đánh bắt bằng bẫy vỏ ốc giảm liên tục qua các năm. Bạch Tuột trong ngư trường đánh bắt ngày càng thưa dần, phân bố ngày càng xa bờ hơn. Tỷ lệ Bạch Tuột có kích cỡ lớn ngày càng ít, kích cỡ nhỏ ngày càng nhiều hơn trong sản phẩm đánh bắt, là dấu hiệu của nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khan hiếm. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của Bạch Tuột và thảm cỏ biển. Trong đó, khai thác quá mức và sử dụng các phương tiện đánh bắt hủy diệt là cào bay, cào điện, lưới rùng bờ ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến vấn đề suy giảm nguồn lợi Bạch Tuột và nguồn lợi thủy sản trong thảm cỏ biển trong thời gian qua.

Phương pháp đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp đánh bắt khác. Bẫy vỏ ốc chỉ bắt Bạch Tuột, không bắt các loài khác, không ảnh hưởng xấu đến môi trường nơi đánh bắt và không gây tác động đến các nguồn lợi thủy sản khác trên vùng thảm cỏ biển.

Nghề khai thác Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc là nguồn thu nhập chính của ngư dân vùng nghiên cứu. Hiện tượng suy giảm mạnh sản lượng Bạch Tuột như hiện nay sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập và đời sống của ngư dân chủ yếu khai thác bằng nghề này.

4.2. Đề nghị

Từ kết quả điều tra, để phục hồi, phát triển nguồn lợi Bạch Tuột và duy trì, bảo tồn nghề đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc nhằm bảo đảm sinh kế bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và các nguồn lợi thủy sản khác trên vùng thảm cỏ biển, nhóm nghiên cứu đề nghị đến các ngành chức năng trong tỉnh một số giải pháp như sau:

– Các sở, ban ngành có liên quan như: Sở NN&PTNT (Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Thanh tra Sở), Sở TN&MT, Công an Biên phòng,… tăng cường trong công tác quản lý trong việc tuần tra, kiểm tra, kiểm soát để ngăn chặn và xử lý nghiêm các phương tiện khai thác thuỷ sản bằng các nghề cào bay, cào điện, các nghề khai thác thủy sản hoạt động sai tuyến, xâm nhập trái phép để hoạt động đánh bắt trong khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong thảm cỏ biển. Thực hiện các biện pháp kỹ thuật có thể áp dụng để bảo vệ và phát triển trở lại nguồn lợi thủy sản trong hệ sinh thái thảm cỏ biển như đóng cọc bê tông, thả khối bê tông,… để hạn chế cào bay, cào điện và các phương tiện đánh bắt hủy diệt xâm nhập vùng bảo vệ thảm cỏ biển.

– Sở KH&CN, Sở NN&PTNT, BQL Khu DTSQ Kiên Giang, BQL Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, UBND cấp huyện, xã cần có biện pháp hỗ trợ, hoặc kêu gọi các dự án trong và ngoài nước đầu tư kinh phí, thực hiện các giải pháp hỗ trợ ngư dân các làng chài trên đảo Phú Quốc duy trì, bảo tồn và phát triển bền vững nghề đánh bắt Bạch Tuột bằng bẩy vỏ ốc. Một số giải pháp cho việc sử dụng hợp lý nghề truyền thống gồm: (i) Hỗ trợ tài chính để ngư dân để lại một phần bẩy vỏ ốc đã cũ để làm nơi trú ngụ cho Bạch Tuột sinh sản, phục hồi nguồn lợi trong mùa sinh sản (khoảng 02 tháng/năm); (ii) Xây dựng chương trình giáo dục nâng cao nhận thức, xã hội hóa công tác bảo vệ nguồn lợi Bạch Tuột trong vùng đánh bắt: hướng dẫn, tuyên truyền các hộ ngư dân sử dụng hợp lý và bảo tồn phương pháp đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc, không đánh bắt hoặc giảm đánh bắt trong mùa sinh sản; không sử dụng vỏ ốc làm bẫy có kích thước nhỏ hơn 5 cm chiều  rộng và 8 cm chiều dài; thực hiện thói quen thả lại biển những con Bạch Tuột kích thước nhỏ hơn 30g/con bị lẫn trong sản phẩm đánh bắt.

– Sở NN&PTNT, UBND huyện, biên phòng và cộng đồng ngư dân cần thiết lập chương trình thực thi pháp luật dựa vào cộng đồng, khuyến khích cộng đồng ngư dân tích cực tham gia theo dõi việc thực hiện khai thác theo vùng, các ngư trường cấm và các loại ngư cụ quy định. Ngư dân sẽ đặt ra các chuẩn và phân công trách nhiệm cho một số người giám sát của cộng đồng.

– Căn cứ mục tiêu, chương trình trong Kế hoạch của tỉnh về quản lý Khu Bảo tồn biển Phú Quốc đến 2015, các Sở KH&CN, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT, Sở VH,TT&DL phối hợp xây dựng, thực hiện các dự án quản lý, xử lý chất thải rắn cho các xã thuộc Khu Bảo tồn biển Phú Quốc (xã Hòn Thơm, Bãi Thơm, Hàm Ninh); xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nuôi, trồng các loài thủy sản có giá trị kinh tế theo hướng phát triển bền vững phục vụ chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp giảm áp lực sống dựa vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Phát triển thêm sinh kế bền vững cho người dân trong khu bảo tồn: đào tạo nghề phục vụ trong các hoạt động du lịch sinh thái rừng, biển. Tùy theo điều kiện của các hộ dân địa phương có thể đưa các mô hình ứng dụng KH&CN phù hợp như trồng rau an toàn phục vụ phát triển du lịch (nhân rộng từ kết quả thực hiện đề tài KH&CN cấp tỉnh); chăn nuôi gia súc, các loài động vật bản địa; nuôi thủy sản trên biển như nuôi ốc hương, ốc nhảy; khoanh nuôi thí điểm ốc vôi, Bạch Tuột tại một số khu vực thích hợp,…

– Sở VH,TT&DL chỉ đạo một số đơn vị sự nghiệp trực thuộc phối hợp các cơ quan liên quan tổ chức mô hình thí điểm về du lịch sinh thái đánh bắt Bạch Tuột bằng bẫy vỏ ốc./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Thị Nhứt & ctv. (2005). Điều tra, khảo sát hiện trạng rạn san hô, thảm cỏ biển và ghi nhận sự xuất hiện của một số loài động vật biển quí hiếm (Dugong, cá heo, rùa biển) ở vùng biển tỉnh Kiên Giang – Đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh của tỉnh Kiên Giang.

Lê Thị Siêng (2005). Xây dựng phông môi trường tỉnh Kiên Giang. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh của tỉnh Kiên Giang.

Phòng Thống kê huyện Phú Quốc (2009). Kết quả thống kê huyện Phú Quốc năm 2009.

UNEP (2007). Procedure for establishing a regional system of Fisheries Refugia in the South China Sea and Gulf of Thailand in the context of the UNEP/GEF project entiled “Reversing Environmental Degradation Trends in the South China Sea and Gulf of Thailand. No.4.

 

TS. Nguyễn Xuân Niệm, ThS. Nguyễn Thái Nguyên, KS. Nguyễn Thanh Hải

(Sở KH&CN Kiên Giang)

3 comments

    • Dạ thưa, Niệm tra chính tả trước khi sử dụng, cả 2 từ Bạch Tuột hay Bạch Tuộc điều đúng và tần số sử dụng 2 từ này trên các mặt báo hay báo cáo thì Bạch Tuột xuất hiện nhiều hơn, nên Niệm chọn từ Bạch Tuột. Xin cám ơn lời góp ý.

      Số lượt thích

  1. Kính thưa TS Nguyễn xuân Niệm: tôi sẵn sàng xin lỗi TS…nếu tôi sai ! Nhưng tôi vẫn “bảo lưu ý kiến”, theo như ông nói,”tần số sử dụng 2 từ này trên các mặt báo hay báo cáo thì bạch tuột xuất hiện nhiều hơn”,xin hỏi: “trên các mặt báo hay báo cáo”là ở thời kỳ nào ? trước hay sau 1975 ? (theo thiển ý,báo chí viết sau 1975 viết cẩu thả hơn,nhất là ở miền nam ngay sau 1975) “trên các mặt báo hay báo cáo” của trung ương hay…địa phương ? (nên nhớ địa phương ngoài bắc hay trong nam cũng viết đôi khi khác nhau do phương ngữ khác nhau),có tài liệu nào đã nghiên cứu về “tần số” xuất hiện 2 từ này không ?.Thú thật từ nhỏ đến lớn tôi học ở trường chỉ thấy từ “bạch tuộc”,tôi thấy từ này có lý hơn vì “bạch tuộc” là 2 từ Hán Việt,còn “tuột” là từ thuần Việt,đem ghép “bạch” với “tuột” cũng như đem ghép “chung”(từ thuần Việt) với “cư”(từ Hán Việt) thành “chung cư” (sai,phải là “chúng cư” mới đúng).Vài ý kiến thô thiển,xin đa tạ TS đã lưu tâm trả lời.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s