GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triễn Hà Giang (Phần II)

    Từ khi tái lập tỉnh năm 1991, điểm  kinh tế xuất phát thấp kém chủ chốt là nông nghiệp lại manh mún ,qui mô nhỏ, kỷ thuật canh tác lạc hậu,  điều kiện thiên nhiên ít thuận lợi, sản phẩm không đáp ứng nổi  nhu cầu nhân dân tỉnh nhà về số lượng lẫn chất lượng. Đến năm 2000, thống kê cho biết  tòan tỉnh có 117 xã trong tổng số 1718 xà thuộc diện nghèo đói, tập trung ở các huyện vùng cao phía Bắc và phía Tây như  Hoàng Su  Phì ( 25 trong số 26 xã ), Đồng Văn ( 17 trong  18  ), Quản Bạ( 10 trong 11), Bắc Mê ( 10 trong 13 ). Số  hộ nghèo đói năm 2000 lên đến 25 015 hộ chiếm 22 % tổng số hộ dân tỉnh. Bá cáo chương trình IFAD( Cơ quan Quốc tế phát triễn Thực Phẩm và Nông Nghiệp liên kết với Lương Nông Quốc tế – FAO, Liên Hiệp Quốc)  ở vài huyện chương trình họat động năm  2004  các hộ nghèo đói vẫn còn chiếm 21 % tổng số, số trẽ em  dưới 5 tuổi thiếu dinh duỡng lên đến 77 %. Bình quân  thu nhập đầu người năm 1999 ở Hà Giang   chỉ bằng 0.32  của cả nước và 0. 63 % của cả vùng Đông Bắc . Năm 1991 nông  lâm ngư nghiệp chiếm 79% GDP tỉnh nhà, công nghiệp – xây dựng chiếm  6. 7 % và dịch vụ  13.8 % . Nhưng các năm 1998-1999, dịch vụ  mỗi năm tăng lên đến 27- 28 % GDP  và tỉ lên nông nghiệp   giảm xuống chỉ có   51 – 52 % ở các năm này.

 

 Dịch vụ du lịch dựa trên danh lam thắng cảnh

 

Hà Giang mảnh đất địa đầu cực Bắc của  của Tổ Quốc , có những ngọn núi cao lưng trời, nhiều con sông ngọn suối , tiềm năng du lịch lớn chưa được khai thác bao nhiêu cả. Tài nguyên du lịch thiên nhiên đáng kể trước tiên  là các hang động cácxtơ như hang Dơi , hang Làng Lò , hang Phương Thiện, hang Chui cách thị xã Hà Giang 7 km về phía Nam, động Én ở huyện Yên Minh.  Thảy đều là các hang động thiên nhiên, tuy còn hoang sơ nhưng đầy vẽ đẹp kỳ lạ.

Cảnh quan quanh thị xã Hà Giang ( Hà Biang ?  ) thật sự hấp dẫn.  Hà Giang là một thị trấn nhỏ bé, dân số chỉ chừng trên 50 000 người ( năm 1999 có  37 235 người thuộc  đô thị lọai 4  lọaiáp chót nước nhà  ), năm 1979 lại bị Trung Quốc phá tan tành, không khác gì  nhà Thanh ( trị vì nước Tàu từ năm 1644 đến năm 1911) do vua Càn Long hay Khang Hy ? sai khiến,  đã tàn phá tỉnh Quế Lâm- Trung Quốc  mấy trăm năm trước, khiến nhiều tộc dân địa phương Trung Quốc  vùng này, đặc biệt là tộc dân Miêu( H’ mông, Mèo )  phải di cư xuống  cư trú Việt Nam . Nay thị xã Hà Giang đã hòan tòan khôi phục lại như xưa nhưng nên đô thị hóa mạnh thêm  hơn nữa dựa về công nghệ, dịch vụ gíáo dục, y tế giao thông , viễn thông , ngọai thuơng  với Trung Quốc, ngân hàmng v.v…  hướng nhiều về du lịch, một tài nguyên tỉnh nhà chưa phát triễn. Hà Giang nằm trong thung lũng sông Lô, chảy qua bốn bế núi  đồi hùng vĩ : núi Đồi Thông, Chum Vàng, Chum Bạc…  Cách thị xã 2km ,  còn có suối và động Tiên , một thắng cảnh đã nổi tiếng rồi. Tương truyền, xưa kia các tiên nữ  thường xuống động này tắm vào dịp Tết. Nhân dân quanh vùng  ( nay luôn cả dân vùng thủ đô Hà Nội ? ) vẫn đến  đây lấy nước rửa  và uống , cầu may mắn vào đêm giao thừa.

Cổng trời Đồng Văn”, ở huyện Đồng Văn cực Bắc, nằm ở cao độ 1000m trên mặt biển, địa hình chỉ thấy núi đá.  Bầu trời quanh năm hầu như chỉ có mưa và mù. Dân gian Đồng Văn nói: “ Thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nữa ngày” và “ đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng”. “Cổng trời “ Đồng Văn  chứa điểm cực Bắc nước nhà  là Lũng Cú. Lũng Cú cũng như nhiều nơi huyện Đồng Văn dọc theo sông Nho Quê, một phụ lưu sông Gâm,  thời Pháp thuộc là vùng quân sự đồn binh quân đội Pháp thuộc địa, ít ai được phép bén mảng tới. Nay thì ai  chưa đến Lũng Cú thì  xem như chưa đến Đồng Văn . Lũng Cú hiện có một đồn binh quân đội mình, có tháp canh gác treo cờ Việt Nam,  thể hiện chủ quyền độc lập nước nhà,  đồng thời cũng có  nhiệm vụ  thi hành thỏa thuận biên giới Việt -Trung ra sức giữ vững ổn định và hòa hiệp hai nước.

Một “cổng trời”  khác là Quản Bạ, núi non trùng điệp bao quanh thung lũng Quản Bạ,  cách Hà Biang ( Giang ) 45 km ( 28 dặm Anh ). Trên đỉnh ở cao độ  1945.8 m,  nay đã thiết lập một đài  truyền  hình ti vi. Đáng nêu lên là đồi núi Cô Tiên , khí hậu mát mẽ quanh năm, nơi nghĩ mát lý tưởng không thua kém gì Sa Pa, Tam Đảo. Trên đèo Quản Bạ , nhìn thấy Thạch Nhủ Đôi- Double Stalagmite , còn gọi là “ Đôi  Vú Đá – Hai Gò Bồng Đảo- Two Stone Breasts” ở thung lũng lũng phía dưới.  Rừng cây và đồng cỏ phủ tràn thung lũng, nơi nhiệt độ cũng rất mát mẽ  từ 100 C ( 500F ) mùa đông đến   240 C ( 750F ) mùa hè.

Du lịch nhân văn có ý nghĩa nhất là

–       Đồi Thông, khu di chỉ khảo cổ học  nằm ngay ở thị xã Hà Giang. Tại đây hàng ngàn di vật thời tiền sử ( văn minh Sơn Vi, một  trong những văn hóa sớm nhất nước ta ) đã  được  khai quật, trưng bày tại hai  bảo tàng Hà Giang và thủ đô Hà Nội, như đã kể trên.

–       Thị trấn Đồng Văn năm trong thung lũng Cao nguyên Đá – Rock Plateau Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, là nơi lịch sử giao duyên lâu ngày  của 4 tộc dân  Hoa – Tàu ,  H’Mông – Mèo,  Tày và Kinh – Việt.  Họ chia sẽ vài tập quán sinh họat văn hóa truyền thống, nhưng cũng giữ lại vài sắc thái riêng biệt tộc dân mình. Có lẽ đó là nguồn gốc tên thị trấn  Đồng Văn chăng ? Thị trấn Đồng Văn cách Sà Phìn 16 km ( 9.9 dặm Anh ) và cách biên giới 3km ( 1.9 dặm Anh ),  trên cao độ 1235m  là vùng sinh sống của hai tộc dân đa số tỉnh nhà: Tày và H’Mông. Vùng cao này nổi tiếng về trái cây xứ mát  như mận tây- plum Hậu, đào lông – peach Mèo và hồng trái – kaki, persimmon không hột, cũng như cây dược phẩm sâm- ginseng địa phương, quế – cinnamonhồi- anis…  Các nhiếp ảnh viên và các tay giang hồ bạt xứ   mới hay đến Đồng Văn  tìm phong cảnh lạ, từ chiều thứ bảy để đi chợ trời  dân tộc ít người sáng sớm hôm sau và trở về Hà Nội ngay chủ nhât hôm đó . Họ không rỏ là quanh chợ Đồng Văn là một khu phố cổ ( cũ ) nhà cửa xây cất đã một hai trăm năm rồi của ba tộc dân Hoa , Mèo, Tày và Việt.  Các nhà  xưa cổ Đồng Văn được xây dựng các năm  1810 – 1820 ( thời các vua Gia Long ? ), trong khi nhà “ mới”chỉ xây cất  vào cuối thế kỷ thứ 19, khi Pháp thực dân  chiếm vùng này và thiết lập nền cai trị bản xứ. Nhà cổ đều 2 tầng, lợp ngói âm dương- ying yang  và tường  xây bằng đất đập vụn. Tường dày 30- 60cm,  giúp nhiệt độ trong nhà ổn định. Kiến trúc  xây cất bằng gỗ lim – iron wood chịu đựng được  tàn phá thời gian, vách rêu phong lớp mặt rất  thích nghi cảnh quan xám xịt  suốt năm thật kỳ lạ  của Cao Nguyên Đá Đồng Văn.  Cuối đường hai bên dãy nhà phố cỗ, một phía dẫn tới thị trấn Yên Minh, phía kia  tiến về đèo Mã Pì Lèng đẹp đẻ  và thị trấn Mèo Vạc. Mèo Vạc ở cao độ  1500m (  4900 bộ Anh )  là một thị trấn trên thung lũng sông Nho Quê,  một con sông bên kia  bờ là biên giới với Trung Quốc, lai vảng còn bị quân sự giới hạn.  Con đường ngang qua đèo Mã Pí Lèng từ chợ Đồng Văn đến thị trấn Mèo Vạc  dài 25.5 Km (14 dặm Anh), theo nhiều người ngọan mục nhất nước, nhưng  nhỏ hẹp và nguy hiểm giao thông, dưới  núi là vực  sâu  cách đèo 2600 bộ Anh (gần 870m ) nơi dòng sông Nho Quê uốn lượn. Làm đường này năm 1959 phải mất đến 11 tháng, nhiều người chết.

Sà Phìn là một thị trấn bé tí xíu ở xã Sà phìn cũng thuộc huyện Đồng Văn, cách biên giới Trung Quốc 2 km. Đặc điểm là  khỏang 20 căn nhà quái dị, hai tầng xây cất theo kiểu người Hoa, gạch màu vàng và mái kiểu Tàu. Khu  dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn là một gia tài kiến trúc cột mốc  độc đáo vùng Đông Bắc, đã được xếp vào di sản văn hóa nước nhà năm 1993.  Dinh cách thị xã Hà Giang về phía Tây Bắc 145 km ( 90 dặm Anh ) và  24 km ( 15 dặm Anh) phía  Tây Nam huyện Đồng văn . Dinh được họa kiểu theo  kiến trúc cuối đời nhà Thanh -Qing dynasty, chia ra 3 mặt: tiền, trung và hậu. Gồm 6 xây cất theo chiều dài và 4 phía góc, hai tầng, 64 phòng và 1120m(  3670 bộ Anh ) khoảng trống. Hai vòng thành bao bọc dinh, xây bằng đá hộc có gắn lỗ châu mai. Giữa hai vòng thành là một dãi đất rộng 50m, trồng tòan trúc. Thành dài 0.6 km , rộng 0.9 m và cao 2.5- 3 m. Dinh có 3 ngôi nhà sàn đều dựng bằng gỗ qúy pơ mu.  Ngôi nhà chính là nơi ở của “ vua “ họ Vương, tại đó còn bức hòanh phi với bốn chữ vua nhà Nguyễn Phước ban cho “ Biên Chinh Khả Phong”

Chợ tình Khau Vai  chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc. Tương truyền  cách đây lâu lắm, một đôi uyên ương xinh đẹp yêu nhau nhưng họ sống ở hai huyện khác nhau, có nghĩa là nếu lấy nhau cô gái phải về nhà chồng. Nhưng dân huyện cô chống lại điều này  và dân huyện nhà trai muốn cô về huyện nhà trai , gây ra hiềm khích chánh kiến. Khi họ gặp nhau, thì dân hai huyện đánh nhau. Để tránh gây máu chảy, đôi trai gái đồng ý rời xa nhau, chỉ bí mật gặp nhau  mỗi năm một lần vào ngày kỷ niệm quen nhau đầu tiên, ở Khau Vai.  Nay nơi này trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng, thuộc các thanh niên  các tộc dân Mèo Trắng – White H’mông, Tày và Lô Lô áo quần  màu sắc sặc sở.

Chợ phiên miền cao thu hút du khách đến Hà Giang là Chợ Phiên thị xã Hà Giang ở  bờ đông Sông Lô  nới các nhóm tộc dân Tày, Nùng, Dao Đỏ và Mèo Trắng họp nhau mỗi  chủ nhật;Chơ Phiên Lũng Phìn trên tỉnh lộ 55 Mèo Vạc- Yên Minh là nơi buôn bán miền quê , tụ họp nhiều tộc dân địa phương tấp nập trao đổi yên ngựa, bán nấm khô, lạp xưởng đầy gừng, trâu bò,  các quả bách đậu khấu – cardamom pods, giày dép plastic, những dãi dây băng chói lọi, chỉ thêu  … trao đổi buôn bán theo tán gẩu trên đỉnh đồi, và ăn chén  cháo thịt ngựa  nhắp  rượu bắp –ngô( nếp ? ). Chợ Phiên Lang Si  ở Đèo Lang Si là làng các nhóm tộc dân Mèo Trắng cứ 6 ngày họp một lần. Làng Lang Si cách thị xã Hà Giang 116km( 72 dặm Anh ), nơi  quân đội Pháp thuộc địa xây một tường thành biên giới cho “vuơng quốc” H’mông Trắng. Vùng nổi tiếng sản xuất mật ong ngon.

Ngòai các chợ phiên vùng cao, Hà Giang còn là nơi văn hóa lễ hội đặc sắc của 22 tộc dân nước nhà. Hai lễ hội tiêu biểu nhất là: lễ hội vui xuân của người H’ mông và người Dao thường được tổ chức sau Tết Nguyên đán và kéo dài 3-7 ngày. Lễ hội có tính cách đa dạng:  mừng công, cầu mưa, cầu con trai, kết hợp các trò chơi bắn nỏ, hát giao duyên, ném papáo, chọi trâu – fighting buffalo, chọi gà fighting chickens… Lễ hội mừng nhà mới của người Lô lô kéo dài hai ngày đêm ở các ngôi nhà mới.

Đáng mừng là sau 3 năm sửa sọan , đặc biệt là tổ chức các làng văn hóa tộc dân,  ngày 3/10/ 2010,  Cơ quan Văn Hóa và Giáo Dục Quốc Tế – UNESCO  đã công nhận cao nguyên cácxtơ Đồng Văn ( nơi đã khám phá ra nhiều  lòai sinh vật hóa thạch sinh sống cách đây 400- 600 triệu năm ) là thành viên của  Mạng lưới 77  Công viên Địa lý Tòan Cầu – Global Geoparks Net Work, một trong hai thành viên thuộc vùng Đông Nam Á.

Tuy nhiên muốn thu hút thêm nhiều du khách ngọai quốc hơn là con số nhỏ nhoi 3500 khách  ngọai viếng tỉnh năm 2011,  phải  suy nghiệm lại quan niệm các làng du lịch tộc dân- communal tourism village : tất nhiên phải dời bỏ cách nuôi súc vật dứới nhà sàn, trong nhà ngòai vấn đề cải thiện vệ sinh,  phải cải thiện  ngay cả đặc  điểm nấu nướng, soong chảo nồi niêu ăn uống,  lưu tâm đến trang hòang đặc sắc, có các phương tiện tiêu khiển trong gia thất như đàn địch, ca hát mời đuợc các nhóm tài tử như ở các lễ hội địa phương v.v… ,  mở đường ô tô đến được các làng , mỗi đường chỉ đến một làng tộc dân độc đáo tránh nhàm chán một đường  tỉnh  huyện có đến 3 làng Tày  trình diễn !  ( Hòang Văn Kiên ,  2012 ). Và  lẽ dĩ nhiên là cùng lúc thiết lập, nâng cao hệ thống khách sạn ( tỉ như Khách sạn Cao nguyên đá Đồng Văn -Rocky Plateau Hotel  ở đường chánh Đồng Văn  16 phòng tân tạo tiện nghi khá đầy đủ: nước nóng,  ti vi vệ tinh  phòng khách chờ đợi cao ráo, các bức tranh Mỹ thuật Phổ thông giã – faux Pop Art paintings… ), nhà nghĩ dưỡng, nghĩ mát địa phuơng. Hai hướng du lịch khác cần gia tăng là du lịch  sinh thái như khảo cứu đa lọai thực vật  rừng Khâu Ca và rừng núi Pu Tha Ca gần khu bảo tồn thiên nhiên  Du Gia , giữa tỉnh lộ nối liền tỉnh lộ 34 và hai tỉnh lộ 4C và 55.  Nơi đây khảo sát thực vật các tháng 5- 10 năm 2005đã   kiểm kê xếp lọai được 471 lòai cây cỏ có mạch, thuộc 268 tông, 113 họ; trong đó có 179 lòai làm thuốc, 14 lòai ghi sổ đỏ ( có nguy cơ tuyệt tích) Việt Nam và một lòai ghi sổ đỏ quốc tế IUCN là Amentotaxus argotaenia .  Và du lịch khảo cỗ tỉ như thám hiểm ở hang động mới khám phá gần thôn Tà Lũng B, nhiều hang động rộng đến 500 m2 chứa đầy thạch nhũ hình thể độc đáo trong ngần nguyên sơ , cùng những  rìu , búa đá kíchthước 13.5 -22 cm đẻo chạm  tinh vi,  chế tạo đã trên 4000 năm nay.  Dù sao thì Hà Giang cần nổ lực đuổi cho mau kịp du lịch Sa Pa, Tam Đảo, các công viên du lịch trung du hay đồng bằng Sông Hồng.

 

Công Nghệ

Ngành công nghiệp Hà Giang chỉ có hai tiềm năng phát triễn là khóang sản và  nguyên liệu nông lâm sản.  Nhìn chung công nghiệp chiếm vị thứ thứ yếu, chỉ chiếm 20.8% cơ cấu GDP tòan tỉnh năm 1999.  Công nghiệp chế biến then chốt tỉnh nhà là chế biến lương thực – thực phẩm , năm 1999 chiếm đến  35.2 % trị giá sản xuất công nghiệp, gồm  1772 cơ sở sản xuất  thu hút 2028  trên tổng số 5966 lao  động tòan ngành. Các sản phẩm thế mạnh là chế biến chè ( trà ) bánh kẹo  và trái cây chẳng hạn như  cam quít, xay xát lúa – ngô. Ngành chế biến nông nghiệp có triễn vọng nhất Hà Giang là công nghệ  trà( chè) – tea industry. Năm 1995 trà sơ chế tỉnh nhà mới có  2100 tấn  trong số sản xuất 9620 tấn, năm 2002 đã đạt  20 394 tấn gồm lọai trà thơm ngon là Tuyết Sơn – Snow shan là non lông trắng bạc như Bạch Mao tập trung ở Lũng Phì – huyện Đồng Văn và Ngam La- huyện Yên Minh. Trà Lũng Phìn –Đồng rất được dân Hà Nội ưa chuộng  pha chế làm thành trà hoa ( nhụy hoa ) sen -lotus teas , trà hoa lài ( nhài )- jasmine teas, trà hoa hoa mộc- osmanthus  teas ( đúng hơn là lòai tiểu mộc là thon dài Xylosma logifolium thuộc họ bần quân hồng quân Flacourtiaeae ). Trà Gà Giang cũng rất nổi tiếng ở Trung Đông, Nga Sô cũ. Các ngành  chế biến nông phẩm khác của Hà Giang đáng tăng cường cải thiện mở rộng thị trường trong và ngòai nước là rượu bắp , ngô – maize,corn whiskey, các lọai bánh mì bánh tráng mềm bắp ngô kiểu Mỹ châu la tinh, rượu mùi mận tây, nấm đóng hộp, nước uống cam quít và cây trái xứ mát, chế biến dược liệu  địa phương thuốc Bắc , thuốc Nam… ( Đổ trọng Eucomia ulmoides, một đại mộc dân gian trồng lấy võ làm thuốc trợ tim, hạ huyết áp,  giúp phụ nữ mau khỏe sau sinh sản, Ý dĩ  hay Bo bo nếpCoix lacrima- jobi var. ma yuen  một lòai hòa bản trồng lấy hột nấu chè  trị sốt, sưng thấp khớp, khó đái,  Đại hồi Illivium verum  trồng làm gia vị giúp tiêu hóa chống một số virus – siêu vi khuẩn,  Thảo quả (Đò ho, Sa nhân cóc Amomum Tsao –ko, trị hôi miệng, mất ăn …), các lọai Đậu khấu ( Aramomum  compactum  hay là  Elatteria cardamomum , thuốc giúp tiêu hóa, bổ phổi), Sa nhân ( Amomum villosum var. xanthoides, làm gia vị, chất kích thích, trị kiết, đau bụng có cơn…)  ngay cả các loài Sâm Việt Ngọc Lĩnh , sâm Tàu , sâm Mỹ hay sâm Triều Tiên…  ), Gừng dại ( Gừng gió,  Gừng da , Ngãi xanh  Zingiber zerumbet củ chồi lá đều ăn tươi được ở Ấn Độ, Trung Quốc làm chất kích thích, trị suyễn, đau bao tử, trị kiết, bịnh da, bịnh sán lãi ). Lẽ dĩ nhiên là không quên công nghiệp chế biến gỗ  và lâm sản đặt biệt là công nghệ tre, vầu( tre vầu, mạy cước lóng to gần như đặc ruột Bambusa nutans), luồng ( giang , nứa ), một công nghiệp liên quan mật thiết đến đời sống các tộc dân địa phương nhưng qui mô nhỏ.

Công nghiệp khai thác và chế biến khóang sản chính ở Hà Giang là ăng ti moan ở huyện Yên Minh. Không rỏ hảng Úc đã  đầu tư khai thác vàng sa khóang ở  Sông Lô- Hà Giang  đến đâu rồi ?  Phải nghiên cứu khảo sát thêm  quặng măng gan để phục vụ  cho ngành luyện kim Thái Nguyên và ngành làm pin. Hà Giang có nhiều điểm quặng sắt vùng Tòng ( Tùng ) Bá, huyện Vị Xuyên trử lượng lớn  ước lượng đến 200 triệu tấn chủ yếu là quarzit manhêtit hàm lượng sắt 42- 46%  nhưng còn rải rác  trên diện tích rộng lớn, kho khai thác có lợi. Bô xít dạng điaspor, hàm lượng 39- 65.4 % AL2O3, trử lượng  còn rất ít so với  5- 6 tỉ tấn Tân Rai ( Lâm Đồng) , Đắc Nông và Krông Nừng ( Gia Lai). Các công nghiệp vật liệu xây dựng  tập trung ở thị xã Hà Giang, các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn  như xi măng, gạch ngói, vôi v.v… cũng còn rất bé nhỏ. Không rỏ nay các cụm công nghiệp  ở thị xã Hà Giang, ở các thị trấn tụ điểm đô thị dọc theo quốc lộ 2 đã phát triễn thêm được các công nghệ cơ khí, dệt may, dược liệu nào nữa không ? Nhưng chắc chắn là  vùng kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy, diện tích 28 700 ha  chánh quyền vừa cho thành lập  thuộc các xã  huyện  Vị Xuyên :Thanh Thủy, Thanh Đức Phương Tiến ,  Xín Chải, Lao Chải, Phong Quang…, sẽ phát triễn mạnh mẽ tương lai. Gồm một khu miễn thuế quan, một khu chế biến xuất khẩu, một khu công nghệ,  một công viên tiêu khiển với phòng ốc cơ sở làm việc và nơi cư trú.  Giai đoạn  đầu khởi công năm 2010, sẽ hòan tất năm 2015  có đủ hạ tầng cơ bản  cho họat động thương mãi, xí nghiệp đầu tư. Giai đọan 2 sẽ khởi công năm 2016 và hòan tất năm 2020 .

          Phát triễn nông nghiệp

 

Hà Giang có chừng 130 435 ha đất trồng trọt, chiếm 21 % tổng diện tích . Biến đổi  cao độ và địa hình đồi núi, thung lũng hẹp phức tạp,  phân chia Hà Giang, từ  các năm 1983 – 1996, ra làm 4 vùng sinh thái nông nghiệp có những nhu cầu và ưu tiên đặc thù khác nhau( có lẽ cần xét lại theo những tiến bộ sau này của Hà Giang và của nước nhà chăng ? :

Vùng I là ở các quận Mèo Vạc, Đồng Văn, Quản Bạ . Vấn đề chính  là độc canh bắp (  ngô) , không đủ đất trồng trọt, đất đai  mau acid hóa thêm vì chỉ sử dụng phân bón hóa học ( u rê ) trở nên chai sạn – compact . Vùng I cũng thiếu đất trồng cỏ nuôi súc vật, thiếu củi đốt trầm trọng, thiếu nước nên cần dùng nhiều năng lực  phụ nữ trẻ em chuyễn nước về gia thất, hương lộ liên xã bùn lầy không  thuận tiện,thiếu thốn nhiều về y tế và giáo dục . Đa số  khỏang 80% là tộc dân H’ mông.  Ưu tiên phát triễn là đa đang hóa cây trồng trọt và cải thiện cỏ nuôi súc vật.  tái tạo rừng  thiên nhiên , trồng lại rừng nhiều tầng cung cấp thêm chất mùn  cho  nương rẫy, phát triễn nững dạng nông nghiệp đặc trưng như nuôi ong, trồng cây dược phẩm, làm những ao hồ núi chứa nước mưa, cải thiện các hương lộ liên xã, huấn luyện cán bộ y tế,  xấy cất các trạm y tế và hình thành  các phòng khám đa khoa khu vực, trang bị y cụ, thuốc men và tăng cường trình độ chuyên môn cán bộ y tế giáo dục.

Vùng II   là  huyện Yên Minh đang phải đốt rừng làm rẫy không vững bền được khi dân số gia tăng, lạm thác các đồng cỏ, lạm thác củi nấu nướng, để rừng thiên nhiên thoái hóa tái tạo kém cõi,  trồng lại rừng với một lòai cây duy nhất, cố gắng làm y tế, giáo dục thích nghi và chuyên môn hơn. Đây là vùng sinh sống nhiều tộc dân: H’mông , Dao ( Mán ), Tày ,Giáy v.v… Ưu tiên phát triễn là  thực thi những  mô hình nông lâm  – agroforestry models vững bền hơn, phổ cập  những cách thức trồng trọt cây lương thực tốt hơn, phát triễn  một hệ thống phối hợp  trồng cây lâu năm – cây mộc và chăn nuôi cố định, có rào dậu không thả  súc vật lang thang. Phát triễn những thể thức nông nghiệp nhỏ thích hợp như nuôi ong , trồng cây lương thực trồng măng tre, vầu, giang, luồng, nuôi nấm ( ngòai nấm tai mèo nên lưu ý thêm về nấm mở , nấm đông cô , nấm hương hay hương cục ở dưới rừng sồi dẽ kiểu Âu Châu, hay nấm “ mỡ “ Nhật “ cay nồng đổ mồ hôi” matsutake  mùi vị quế và và nhựa thông,  không thể thiếu dùng chiên xào các món ăn ngon với rượu sa kê, các lọai nấm ăn được xứ mát khác…), tái lập thêm  ruộng bậc thang – rice  terraces, huấn luyện giỏi hơn các cán bộ y tế,  tăng chuẩn giáo viên  và học trình.

Vùng III  ở hai huyện Hòang Phi Sù và Xín Mần.  Hai huyện này cũng còn phải làm nương rẫy không thể vững bền đươc. Thả rong súc vật ăn cỏ trong rừng làm phương hại đến tái lập rừng thiên nhiên . Đất đai quá nghèo nàn. Lạm thác củi đốt. Y tế, giáo dục thiếu thốn hay không có.  Đây là vùng cư trú các tộc dân Nùng, Dao, H’Mông,Tày, La Chí.  Cần thực thi những mô hình nônglâm hay lâm nghiệp vững bền hơn.  Phát triễn  những thể thức phối hợp cây mộc và chăn nuôi có rào dậu. Phát triễn những sáng kiến nhỏ thích hợp (nuôi ong, trồng câydược phẩm… ),   thiết lập những ruộng bậc thang mới. Tăng cường, cũng cố y tế, giáo dục.

Vùng IV gồm các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê.  Đây là nơi tài nguyên  rừng quan trọng đang bị đe dọa nặng nề. Phải cố gắng thiết lập những rừng cây  đa lọai ,đa tầng, đa năng, không chỉ trồng rừng độc loại như rừng thông ba lá trước đây. Xét lại tại sao đã quá lạm dụng phân bón hóa học mà không tăng gia mấy năng xuất lúa  nước.  Thay đổi hệ thống làm rẫy – shifting cultivation không vững bền được. Lạm thác ăn cỏ – overgrazing.  Đốn củi không kiểm sóat gì hết. Đây là  nơi cư trú của các tộc dân Tày, Dao,  Kinh, H’mông, Hoa, Nùng, Giáy. Cần thực hiện nhũng mô hình nông lâm hay lâm  vững bền hơn. Phát triễn những thể thức quản trị rừng vững bền hơn. Cố gắng dùng phân bón hóa học  hửu hiệu kinh tế hơn. Nâng cấp hệ thống tưới tiêu cỗ truyền .Nâng cấp y tế, giáo dục địa phương.

Chủ yếu lúa trồng ở Hà Giang là  lúa nước. Năm  2000, diện tích trên 28000 ha ( kể cả ruộng lúa nước bậc thang, chiếm đến  95. 3 % tổng diện tích trồng lúa. Phần còn lại dưới 5 %  trồng lúa nương  – lúa rẫy – lúa cạn, không một thời gian nào cây lúa ngập nước cả. Diện tích lúa nước không gia tăng gì cả  trong những năm qua,dù rằng chánh phủ  hửu lý hổ trợ làm thêm ruộng  lúa nước bậc thang và cố gắng  phát triễn hửu lý xây dựng  những hồ nước trên núi – mountain reservoirs vừa thay thế đội nước từ sông suối sâu thẳm tốn năng lực tiêu dùng hay tưới tiêu.  Năng xuất gia tăng đáng kể từ 2.8 t/ ha năm 1995 đến  4.14 t/ha năm 2002 . Còn có thể tăng thêm năng xuất lúa mùa đủ nước tuới tiêu, trồng các giống lúa mới ( lọai lúa lai- hybrids kiểu Trung Quốc hay lúa nội phối- inbreds  kiểu Thần Nông miền Nam du nhập hay tuyễn chọn gần đây ở các trung tâm khảo cứu miền Bắc hầu có năng xuất trung bình  lúa mới các  vùng Trung Du, vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay là 6- 7 t/ha. Nới rộng hay tăng năng xuất lúa nước đông xuân thì phải  tăng cường hệ thống tưới tiêu và khả năng chịu lạnh hơn của các giống mới. Tuy nhiên vì dân mỗi ngày mỗi đông và ruộng lúa nước giới hạn, lúa cạn( nương rẫy ) không thể bền vững, Hà Giang khó lòng  có được  mức bình quân lương thực qui thóc quốc gia; năm  1991 chỉ 259 kg/ người, năm  1999 là  305. 3 kg/ người, hơn  phân nữa con số quân bình quốc gia đôi chút mà thôi ! Năm 2007 là 397.5 kgr /người vẫn còn  thua kém nhiều mức bình quân cả nước là 501.8 kg/người.

Phải cố gắng tăng năng xuất ngô – bắp, lương thực chủ yếu trong bửa ăn hàng  ngày của tộc dân H’ Mông,  trồng nhiều ở Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ  là các huyện vùng cao núi đá vôi  trên đất feralít. Phải phổ biến các giống bắp lai mới siêu năng Mỹ hay lai tạo trong nước thích hợp khí hậu vùng cao Hà Giang cũng như các kỷ thuật luân canh hay các hệ thống sinh thái trồng lại rừng gìn giữ được mức phì nhiêu đất đai cũng như cố địng được trồng bắp lâu năm trên một mảnh đất ở chương trình cố định đất  canh tác  và làng xã sau khi bải bỏ chế độ hợp tác xã không hợp thời và các điều khỏan luật điền địa mới nước nhà.

Sắn( khoai mì miền Nam )- cassava  tiếng Anh, manioc theo tiếng Pháp,  rất thông dụng cho tộc dân H’ mong các  huyện Quản Bạ, Đồng văn , Mèo Vạc  và các cộng đồng H’ Mong ở huyện Bắc Mê, cũng như các nông dân Dao ở các huyện Yên Minh, Hòang Su Phì, Xín Mần. Các tộc dân khác  như Tày,  Nùng  xem  củ sắn  là cũ cứu đói và ăn trộn cơm vì không sản xuất đủ gạo, hay để nuôi heo. Tiến bộ quốc tế những năm sau này về cải thiện năng xuất và lề lối canh tác giúp định canh  định cư dễ dàng hơn, đáng được Hà Giang nổ lực phát triễn thêm. Ngòai khoai lang( nên nhấn mạnh đến khoai lang vỏ tím ruột tím  được dân Nhật , Đài Loan… ưa chuộng ngày nay), Hà Giang  còn là vùng trồng lòai  củ khoai mài ( từ nghèo, khoai chụp, hòai sơn, sơn dược, khoai rạng, khoai ngà … ) có lẽ  thuộc  các lòai khoai mỡ- igname chịu lạnh   Dioscorea depauperata, D. batatas,  D. persimilis. Các khoai mài  khoai mỡ- khoai ngọt – khoai từ – chụp .. Dioscorea sp. có đến  trên 600 lòai và  mấy ngàn giống trên thế giới, nhiều giống cao năng chịu đất nghèo, lạnh vùng cao, trồng định canh -định cư ,  dây riêng biệt lên giàn, cho leo sào cao hay không,  hoặc trồng mọc  thành các tầng dưới tán rừng trồng lại, có lẽ  nên khảo cứu bổ sung hệ thống sinh thái rừng -nông nghiệp ( trồng trọt , chăn nuôi ) Hà Giang ?.

Cây trà –  chè  là cây công nghiệp mũi nhọn Hà Giang từ 20 năm nay. Năm 2000,  tổng trị giá  sản phẩm và diện tích  cây trà chỉ đứng sau cây lúa và cây bắp, nhưng lại dẫn đầu  số về các lọai cây sản phẩm xuất khẩu của tỉnh. Từ 6470 ha năm 1995, diện tích trồng trà năm 1999 đã lên trên 10 387 ha:  sản lượng từ 9625 tấn lên  16 293 tấn. Có lẽ nhân cơ hội này,  xét qua về tiến triễn  ngành trồng trà ở Việt Nam. Ngày nay Việt Nam được xem là một nôi  phát sinh cây trà trên thế giới ( gồm luôn cả lòai trà hoang dã núi rừng cao Đông Bắc Ấn Độ là Xishuanbanna). Sau khi Pháp chiếm Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ 19,  năm 1890 Pháp chú tâm  đặc biệt đến cây trà, khảo cứu nhiều về thực vật lòai trà và phẩm giá trà Việt Nam, sau Anh Quốc chừng 30 năm ở Sri Lanka ( Tích Lan ) và Darjeeling ( Ấn Độ ). Họ đã thiết lập  3 trung tâm khảo cứu canh tác cây trà ở Phú Hộ ( tỉnh Phú Thọ) , Bảo Lộc ( tỉnh Lâm Đồng ) và Pleiku ( tỉnh Gia Lai ), có vườn ươm 27 giống trà tốt và một xưởng biến chế trà ở Tĩnh Cương( ? )  Phú Hộ.  Đến tháng 8 năm 1945, diện tích trà trồng ở tòan cõi nước nhà là 13 585 ha, sản xuất 6000 tấn trà khô, trà đen, trà xanh và trà ướp hương hoa thơm.  Nhưng  không thể nào tăng thêm diện tích trà từ 1945 đến 1955 vì chiến tranh Đông Pháp- Việt Nam lần thứ nhất. Thời gian này chế biến chánh là trà xanh cho thị trường quốc nội và xuất khẩu sang Trung Quốc. Năm 1956 – 57 tái xuất hiện trà đen  cận đại Catecka  Biển Hồ ( Gia Lai ) miền Nam  và 2 xưởng chế biến trà cận đại ở  Phú Thọ miền Bắc Nga Sô giúp đở kỷ thuật. Năm 1957, miền Bắc đã xuất khẩu 700 tấn trà đen và 500 tấn trà xanh sang Nga sô. Từ năm 1960 – 62 ( ? ) miền Nam đã  khởi sự chế biến trà xanh kiểu Nhật  xuất khẩu sang Nhật  và diện tích các  vườn trà tiểu điền dân di cư miền Bắc tự khai khẩn, tăng nhanh ở vùng Bảo Lộc  ?  Từ năm 1955 đến năm 1975, miền Bắc không bị chiến tranh trực tiếp, nới rộng diện tích trồng trà lên 65 000 ha, sản xuất  35 000 tấn trà khô, trong đó chế biến 18 000 tấn xuất khẩu. Năm 2007, diện tích trồng trà ở cả hai miền Nam – Bắc là  131 000 ha,  sản lượng trà khô là 167 000 tấn, trong số này chế biến xuất khẩu là 130 000 tấn và hơn 30 000 tấn tiêu dùng trong nước.  Lúc này trà Việt Nam đã có mặt tại hơn 80 quốc gia trên thế giới. Năm 2009, diện tích vẫn như cũ 130 098 ha, nhưng năng xuất đã tăng từ 4.2 t/ha  trung bình năm 2000, lên 6.3 tấn /ha  năm  2007 đến 6.5 t/ha năm  2009. Các vùng trồng trà chánh yếu ở Việt Nam là:

–       Vùng trà Tây Bắc, tập trung ở 3 tỉnh Sơn La,  Lai Châu và Điện Biên. Đặc điểm của  vùng trà này là cao độ  500m trên mặt biển, tổng diện tích 17 200 ha. Đất đai và khí hậu  thích hợp cho các giống trà thơm –aromatic vatieties  như trà Ô Long( oolong ), trà Shan…

–       Vùng trà Việt Bắc gồm các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng. Đặc điểm vùng trà này là địa hình phức tạp. Tổng diện tích 41 000 ha. Có nhiều giống trà  khác nhau đặc biệt là trà  Tuyết Sơn – Snow Shan  ở Lũng Phìn huyện Đồng Văn ở cao độ trên 800m.

–       Vùng trà Bắc Trung Du gồm các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc. Đặc điểm là  trà chuyễn tiếp từ núi đồi qua trồng đồng bằng đất thấp. Tổng diện tích trà  trên 35 000 ha.

–       Vùng trà Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Tổng diện tích 11 000 ha. Đặc điểm  là khí hậu nóng nực cho trà  nhưng đất đai lại thích hợp hơn. Tập trung vườn trà là ở tỉnh Nghệ An .

–        Vùng trà Tây Nguyên gồm 3 tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai và Kontum: tổng diện tích 26 000 ha,  trên cao độ  850m- 1500m, nhưng các vườn trà phần lớn tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, tỉnh có diện tích trồng trà lớn nhất đất nước.

Việt Nam dự trù trồng 150 000 ha  trà năm 2020, tăng năng xuất trung bình từ 6500 kg/ha năm 2010 đến 8000 kg/ha năm 2020, cố gắng cải thiện phẩm giá trà, cùng xử lý trà an tòan vệ sinh – sức khỏe mẩu mực cận đại các phương thức canh tác, chế biến các lọai trà hầu mau đưa ngành xuất khẩu trà nhập câu lạc bộ xuất khẩu 1 tỉ đô la Mỹ một năm.

Điều kiện thiên nhiên Hà Giang đặc biệt thích hợp cho  việc trồng cây ăn trái( ăn quả ) cận nhiệt đới hay ôn đới. Các lọai cây có múi như cam quýt Hà Giang đã được ưa chuộng ở thị trường phía Bắc  trong đó có Hà Nội. Năm 2000, diện tích cam quýt tỉnh nhà đã  gần 2500 ha, chiếm 35 %  tổng diện tích cây ăn trái tòan tỉnh.  Vùng  trồng cam hiện tập trung từ Bắc Quang lên thị xã Hà Giang. Vấn đề then chốt là phải du nhập  các giống cam qúyt tuyễn chọn ở ngọai quốc, lai giống tuyễn chọn thêm các giống năng xuất cao hơn, mẩu mã đẹp hơn, chất lượng tốt hơn.  Nhưng tương lai ngành cây ăn trái Hà Giang lại là các lòai  cây ăn trái rụng lá sớm – deciduous fruit xứ mát, ôn đới. Năm 1995,  Hà Giang còn  thua kém  xa Bắc Thái ( chỉ trồng 3500 ha so với  10780 ha ). Năm 2010 diên tích cây ăn trái hai tỉnh đã tương đương nhau  ( 10 000 ha ), nhưng Hà Giang vẫn  còn thua Sơn La ( 12 000 ha ) và Quảng Ninh ( 14 000 ha ). Trước tiên phải kể đến các lọai mận Nhật – mận tây(  plum ) lòai Prunus salicina .  Các giống mận tây nổi tiếng ở miền Bắc là Mận Tam Hoa , mận  Hậu , mận Đường nguồn gốc  miền Nam Trung Quốc ( ? )  đều có nhược điểm :  mùa thu họach ngắn ngủi, khiến cung cấp thừa mứa mùa thu họach mận, giá bán  hạ quá đáng , sau tháng 6  là tháng ngày mùa , trái mận nhỏ  (20- 30mm ), không giữ được lâu ngày sau khi hái.  Năm 1995, Pháp viện trợ du nhập hột làm cây gốc- rootstock  cho cây mận là giống Myrobalan B lòai mân tây hạnh đào – cherry plum ( không phải Là Myrobolan họ cây bàng Terminalia),  đem gieo trồng ở Hà Nội, Mộc Châu ( Lai Châu ) và  Sa Pa ( Sơn La ). Năm 1996, du nhập các gỗ  mận tháp, trái to , chuyên chở ít bầm dập  là Blackamber, Friar , Simka và Fortune,  đem ghép trên các gốc Myrobalan. Không rỏ nay kết quả ra sao ? Cũng không rỏ là Việt Nam đã du nhập các giống mận Nhật  ngon , trái to của bang Ca li- Hoa Kỳ khác các giống Blackamber, Friar chưa ?

Mơ trồng nhiều ở vùng  Hòa Bình- Lạng Sơn – Cao Bằng   là mơ hoa vàng , hay mơ Nhật  lòai Prunus mume, trái cũng màu vàng, phủ đầy lông ruột dính, hột tròn rất cứng, và các lọai mơ -mai lọai hòang mai ( mơ ) Cao Bá Quát ca tụng “Hòang mai, vũ hậu, lục hà hương”  thường thuộc lòai Prunus armenica, nguồn gốc Ba Tư-Iran. Nên khuếch trương thêm  trong chương trình tái tạo rừng ở Hà Giang là các giống mơ vàng Bạch thông –yellow apricot, mơ vàng Mộc Châu   và mơ vàng Má Đào – pink apricot   và du nhập thí nghiệm các giống mơ mai Ca Li như Apricot Gold trái to, có giống lùn chỉ cao tự nhiên 1.2- 1.3m,  giống Royal trồng nhiều nhất ở Ca li rất thích hợp đóng hộp hay phơi khô , giống Early Gold trái chín sớm và nhu cầu lạnh rất ít, giống King chín sớm, trái rất to màu vàng rực rỡ nhưng lại cần  có cây khác thụ phấn, giống Royalty  trái to nhất ở các trái mơ v.v… Giống đào lông – peach   lòai Prunus persica dân H’Mông trồng ở Hà Giang tên gọi là Đào Mèo, nếu săn sóc kỷ lưỡng cũng có trái to như  các đào lông Âu – Mỹ , nhưng bình thường  trái nhỏ và nùa thu họach rất ngắn. Hai lọai đào địa phương khác nên phổ biến thêm là Đào Mẩu Sơn ( Lạng Sơn ) và đào Sa Pa( Lào Cai, vỏ vàng, ruột vàng, hột rời ). Năm 1991, Lương nông Quốc tế- FAO thử nghiệm ở Bắc Hà tỉnh Lào Cai cho thấy là giống đào lông DA2 của Bảo Gia Lợi – Bulgaria thích nghi cho miền cao Việt Nam.  Lê trồng nhiều ở Hà Giang thuộc nhóm lê Tàu Pyrus pyrifolia Na Kai trái nhỏ, ăn như có sạn do tộc dân H’ Mông du nhập từ lâu  và năm 1960 đã phổ biến rải rác ở nhiều vùng cao tỉnh nhà. Tuy nhiên diện tích các giống lê Tàu không mở rộng được, vì thời gian thu họch ngắn ngủi quá đổi. Các giống “lê tây  thường là“  giống lai Pyrus communis x P. pyrifolia hay  các giống lê lòai Pyrus pashia đều cho trái ăn rất dỡ. Giống lê Tây Kieffer , Mieville du nhập năm 1921 khá nhất, nhưng mùi vị còn tầm thường,  nấu chín ăn ngon hơn, chịu đựng phần nào bệnh cháy lá Erwinia amylavora, có yêu cầu lạnh ít. Hai giống lê địa phương khá nhất là Lê Táo và Lê Đường  đều thuộc lòai P .pyrifolia. Hà giang nên thí nghiệm thêm các giống “lê Ca Li” là  Hosui,  Shinseki , Yali ( hay Mỏ Vịt ). Trên độ cao 700m, phải kể ra các giống hồng trái – kaki – persimmon , thuộc lòai Diospyros kaki. Giống ka ki phổ cập nhất ở Hà Giang là hồng Quản Bạ  nhưng cũng tìm thấy ở nhiều nơi khác  là hồng Thạch Thất, Hồng Lí Nhân, hồng Sơn Dương, hồng Lục Yên, hồng Bảo Lâm…  Không rỏ là chương trình phát triễn 100  000 ha vào năm 2010 các giống cây trái ôn đới nước nhà nay diện tích thực hiện bao nhiêu và phần diện tích Hà Giang trong số  này là bao nhiêu ?

Chăn nuôi Hà Giang còn nhỏ bé trong cơ cấu nông nghiệp tỉnh  , gía trị sản xuất không đổi mấy từ năm 1995 đến nay ( ?). Chủ yếu chăn nuôi tỉnh là nuôi trong các hộ gia đình theo hướng kiêm dụng lấy thịt, sữa , sức kéo. Thế mạnh nhất là chăn nuôi gia súc , còn lại là chăn nuôi gia cầm , nuôi ong với gần 9 000 tổ ong gia đình.  Diện tích đồng cỏ tỉnh nhà  trên 1200 ha và ao hồ, sông suối nuôi cá gần 1000 ha. Tộc dân H’mông sống trên cao độ, trồng bắp làm thực phẩm chánh như đã kể trên. Để lấy sức kéo, dân H’ mông  nuôi một giống bò đặc thù Hà Giang gọi là giống bò Mèo  Phân tích di truyền của nhóm  Thú Y Pháp – Việt BIODIVA, năm 2008,  cho biết thật ra giống bò này đa dạng hơn là độc dạng và có nhiều sự nội phối – inbreeding . Trộn lẫn  di truyền các  giống bò vàng – yellow cattle ở tỉnh Cao Bằng lân cận cũng xảy ra ở các  huyện miền Đông Hà Giang. Số bò  năm 2000 ở Hà Giang khỏang  52 000 con năm 1999, trong đó ba huyện phía Bắc là  Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh chiếm đến gần 40 000 con, nhiều nhất là ở Mèo Vạc  13400 con. Các tộc dân khác ở các vùng thấp chuyên trồng lúa nước thì nuôi trâu  lấy sức kéo và làm phân chuồng. Trái lại với bò, dòng gen trâu không bị gián đọan  chảy liên tục và không phân chia di truyền.  Đàn trâu Hà Giang lớn gần gấp ba đàn bò.  Nuôi trâu nhiều nhất là  ở các huyện Bắc Quang( 31 000 con ), Vị Xuyên ( 23300 con, Hòang Su Phì và Yên Minh . Hà Giang nuôi được gần  240 000 heo ( lợn ) và cải thiện tăng năng xuất bắp và nhất là sắn – khoai mì  và  đậu nành – đổ tương ( năm 1999 Hà Giang đã có 6 000 ha đậu nành ) chắc chắn sẽ gia tăng đàn lợn thêm nhiều nữa . Nghiên cứu thú y  vừa kể cũng cho thấy giống gà   ô thịt đa đen H’ mong- Black chicken H’mong breed  rất đa dạng di truyền và chứa nhiều alleles riêng tư – private   và trong phạm vi tỉnh Hà Giang không có  di truyềnkhác nhau giữa giống gà  ô đen H’mông với các giống gà khác trong tỉnh nhà . Nhưng các giống gà Hà Giang kể cả gà ô H’ Mông  là những cụm lai gà nuôi thương mãi với các gà hoang dã .

 

Lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng Hà Giang, gắn bó mật thiết với  đời sống của  các cộng đồng các tộc dân tỉnh nhà. Năm  1999, đất lâm nghiệp chiếm 75 % diện tích tự nhiên, trong đó đang sử dụng 279 451 ha, 35.4 % diện tích tự nhiên. Tỉ lệ che phủ rừng là 36 % . Diện tích rừng có xu hướng giảm nhiều mỗi năm hàng trăm ha vì nạn chặt phá rừng, cháy rừng diễn ra nghiêm trọng  do tập quán du canh – du cư  của đồng bào miền cao và do trình độ dân trí thấp.  Vấn đề quản lý, bảo vệ rừng, trồng nuôi và chăm sóc rừng là những vấn đề khẩn thiết, cấp bách.  Chánh quyềnViệt nam muốn đưa độ che phủ rừng lên 46- 50% . Như vậy   phải tăng mau diện tích rừng trồng. Hiện nay Hà Giang chỉ trồng được bình quân 4000 ha / năm rừng tập trung và 2000 ha  rừng phân tán , nghĩa là còn rất chậm. Trước năm 2000, chương trình trồng rừng của Hà Giang chủ yếu  là trồng diện tích lớn , độc lòai là thông ba lá Pinus khaysia. Chương trình trồng rừng độc lòai không thích nghi  với bảo vệ lưu vực nước cũng như bảo tồn các lòai đặc hửu.  Dù rằng ngay những năm đó ai cũng biết là rừng đa tầng, đa tán – multi storey canopy bảo vệ tốt hơn cả ánh nắng mặt trời, mưa rơi , lá rụng chống lại xói mòn. Tốt hơn nữa,  rừng đa  lòai  không bị sụp đổ bất thần về cân bằng sinh thái khi đốn cây lấy gỗ . . Trên phương diện an ninh thực phẩm gia đình, rừng trồng đa lòai có thể cung cấp  một nơi cư trú tốt hơn cho  nhiều lòai động vật, chim chóc. Những động vật hoang dã này thỉnh thỏang được săn bắt,  những lúc khan hiếm thực phẩm là nguồn cung cấp protêin bổ sung tạm thời .

Nguồn lợi rừng chocác tộc dân  vùng cao miền Bắc Việt Nam không lớn như  các vùng cao Đông Nam Á.  Tuy nhiên rừng vẫn tiếp tục cung cấp gỗ cho xây cất, củi đốt, nấm ăn, cỏ cho súc vật, cây cỏ làm thuốc và vài lọai thịt thú rừng. Nhiều lâm sản không phải là gỗ đặc biệt là song mây – rattan  đã bị lạm thác vì   phát triễn công nghệ đan mây xuất khẩu . Những lọai giá trị như  song mật  Calamus platya hầu như tuyệt tích.  Lan- Orchids  khai thác bất hợp pháp,  để bán sang Trung Quốc , trở nên hiếm hoi.  Dân xã Lũng Thiền  huyện Vị Xuyên  cho biết gừng da hoang dã, phơi khô bán sang Tàu làm thuốc Bắc,  khai thác càng ngày càng khó khăn.  Cũng như hột thảo quả ở các tầng dưới rừng, dọc theo các bải sông  và cũ mài hoang dã .  Hai lọai Dừa- palm  các tộc dân ưa dùng cây móc (đủng đỉnh ngứa ) Caryota  urens  thân cho bột ăn khi đói kém , cây đủng dỉnh Bắc Sơn  Caryota bacsonnensis ( ? ) thân dùng làm   sợi dây thừng …

Cách lựa chọn   lòai cây trồng lại  không để tâm đến  các quyền lợi đặc biệt trong rừng của dân gian địa phương  khi trồng lại rừng,  khiến nhiều nơi dân địa phương xem đó là những không gian ngọai lai, không dính dáng gì  tới họ cả . Một giả thiết chung cảa nhũng người làm chánh sách là các tỉnh miền cao có thể phát triễn  thay thế các hoa màu trị giá thấp bằng các cây mộc lâu năm  giá trị cao hay các hoa màu thương mãi. Tỉ dụ hoa màu quan  trọng cho tộc dân  Mèo là bắp không phải là cà phê ( lọai chịu lạnh arabica chưa có giống tuyễn chọn cao năng )  ở các vùng cao miền Bắc, thập niên 1990 quốc tế muốn thay  cây thuốc phiện.  Dân Mèo trồng luân canh cây thuốc phiện với bắp và thay thế cây thuốc phiện bằng cây rừng lâu năm, có nghĩa là lọai bỏ luôn cả các nương rẫy  bắp.  Sau thất bại cà phê arabica, chánh quyền khuyến khích thay thế bằng cây  dầu lanh – flax , cây dầu hột cải – rapeseed , canola oil và khoai tây, nhưng không mấy thành công.  Một tỉ dụ khác là các năm 1970- 74, chánh phủ  hổ trợ chuyễn hóa các nương rẫy lúa cạn  bằng các đồn điền trà ở xã Ngam La , huyện Yên Minh. Trong thập niên 1980,  1kg lá trà khô, các nông dân  tộc dân Dao  bán cho  hợp tác xã họ mua được 5kg bắp; nhưng khi giá trà quốc tế hạ, chánh quyền ngưng mua lá trà khô  dân Dao phải đối đầu một tiến thóai lưỡng nan:  thay các đồn điền trà bằng các nương sắn hay bỏ hoang mọi vườn trà, di cư đến một vùng khác.

( Irvine , Ca Li ngày 3 tháng 11 năm 2012 )

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s