GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triễn Hà Giang (phần I)

Là một tỉnh miền núi cao, địa hình Hà Giang rất phức tạp, khí hậu ôn đới nhưng thời tiết địa phương miền núi tạo ra nhiều vùng khác biệt nhau, nhiều dãy núi cao và cao sơn nguyên, trong đó có các đỉnh cao trên 2000m so với mặt biển như Tây Công Lĩnh  2418m , Kiều Liêu Ti  2402m, Pu Tha Ca 2274m.  Trung bình tòan tỉnh độ cao từ 800 đến 1200m . Phía Bắc và Tây Bắc cao nhất,  phần trung tâm và phía Nam tỉnh thấp nhất độ cao chỉ từ 80- 100m .

* * *

Ai ơi nên biết nước nhà :

                                                          A Pa Chải phía sông Đà cực Tây,

                                                              Cực Nam Xóm Mũi , Rạch Tàu,

                                                           Cực Bắc Lũng Cú, Đồng Văn cổng trời,

                                                               Cực Đông Hòn Gốm, Đồng Môn…

( A Pa Chải thuộc tỉnh Lai Châu, Xóm Mũi- Rạch Tàu tỉnh Cà Mau, Lũng Cú-  Đồng Văn tỉnh Hà Giang,  bán đảo Hòn Gốm – Đồng Môn tỉnh Phú Yên )

Tâm Đạo

Vị trí

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao, nằm ở biên giới tổ quốc vùng Đông Bắc Việt Nam ; vĩ độ Bắc 220 10’ – 230 23’  và kinh độ Đông 104020’ – 105034’. Bắc giáp Trung Quốc  trên chiều dài đường biên giới 274km thuộc các huyện Xín Mần, Hòang Su Phì, Vị Xuyên, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Nam giáp Tuyên Quang. Đông giáp Cao Bằng. Tây giáp Lào Cai, Yên Bái. Diện tích tự nhiên tòan tỉnh là 7884. 37 km2

( theo Wikipedia năm 2012 là  7945.8 km2 ). Dân số cuối năm 1999 là 609 082 người ; năm 2002 là  637 700 người, năm 2008 là 705 100 người và năm 2012 có lẽ đã trên 750 000 người.  Thị xã tỉnh lỵ là Hà Giang, cách thủ đô Hà Nội 320km trên đường quốc lộ số 2 . Cũng trên quốc lộ 2 là thị trấn cửa khẩu Thanh Thủy qua Trung Quốc, cách thị xã Hà Giang 25km. Ngòai Thanh Thủy, Hà Giang còn 3 cửa khẩu nhỏ hơn qua Trung Quốc là Phó Bảng , Xín Mần và Săm Pun. Năm 2008 , thành phần nữ nhiều hơn nam, và dân nông thôn chiếm  625 500 người so với dân thành thị chỉ có 79 600 người ( chừng 12 % dân nông thôn ). Dân Kinh( Việt )  ở tỉnh chỉ chiếm khỏang 11 % tổng số dân tỉnh, số lượng đứng hàng thứ tư  sau các tộc dân H’Mông – Mèo, Tày , Dao( Mán ). Hiện tỉnh nhà có 22 tộc dân thiểu số, đông nhất theo thứ tự là H’Mông( chừng 30% ), Tày ( trên 26% ) , Dao ( trên 15 % ), Nùng ( gần 10% ), Giáy, La chí, Hoa và Lô Lô, Thổ, Mường…. Số  dân  hai tộc dân hiếm hoi là Pu Péo và Phù Lá  ít hơn 400 người ở Hà Giang, đang giảm dần. Ngôn ngữ các tộc dân thiểu số thuộc nhóm H’ Mông – Dao là H’Mông, Kim Mun, Pa Thèn ( PaHng ? ) ở Bắc Quang , Quang Bình; nhóm Tày –Thái là Nùng, Tày, Giáy ở Yên Minh, Đồng Văn; nhóm Kra ( Cờ Lao ? ) là Gelao đỏ ở Yên Minh, Gelao trắng ở Đồng Văn, Pu péo ( Qabiao ? ) cũng ở Đồng Văn, La Chí ở Hòang Su Phì, Xín Mần, Bắc Quang; nhóm Tạng – Miến là Lô Lô đỏ ( Mán Tây – Mantsi ? ) ở Mèo Vạc, Yên Minh, Lô Lô Hoa ( Flowery Lolo ? ) ở Mèo Vạc, Đồng Văn, Lô Lô Trắng ở Mèo Vạc.

Phân chia hành chánh

   

       Theo dòng thời gian, lịch sữ địa phương .

 

Khai quật  khảo cỗ ở Đồi Thông gần thị xã Hà Giang cho biết tỉnh đã có người cư trú khỏang ít nhất 11 000 -30 000( ?) năm rồi, thuộc thời đại đồ đá văn hóa Sơn Vi, tập trung ở gò đồi Vĩnh Phú, trải dài từ Lào Cai, Lục Ngạn qua Hà Nội xuống đến Nghệ Tĩnh; công cụ chế tác từ đá cuội, quartzit. Văn hóa- văn minh Sơn Vi như chúng ta đã biết tiếp lên văn hóa Hòa Bình -Bắc Sơn, phát hiện thành tựu đáng kể của các nhà khảo cỗ Pháp vào thập niên 1920, với hơn 150 di tích phát hiện ở nước nhà ( hàng vạn di vật bằng đá cuội  ghè đẻo thành những công cụ hình hạnh nhân, hình tròn, rìu ngắn, rìu dài,  và đặc biệt là rìu mài lưỡi …). Vào thời đại Đồng Thau ( văn minh Sông Hồng – Phùng Nguyên – Đồng Dậu – Gò Mun -Đông Sơn), các tộc dân Tày Yu ( ? ), đã ngự trị vùng này theo khám phá các trống đồng thau cho tế lễ, vẫn còn được các tộc dân Lô Lô và Pu Péo sử dụng ngày nay, đặc biệt ở Mèo Vạc; trưng bày ở bảo tàng trung tâm thị trấn Hà Giang và viện bảo tàng lịch sữ Hà Nội.

Thời lập quốc, Hà Giang thuộc bộ Tân Hưng , một trong 15 bộ của nước Văn Lang.  Thời  Việt Nam Minh thuộc, đầu thế kỷ thứ 15, thuộc huyện (? ) Bình Nguyên rồi từ năm 1473 lấy luôn tên  châu Bình Nguyên;  sau đó đổi thành tên châu Vị Xuyên. Cuối thế kỷ thứ 18,  gia đình  “Vua (? ) H’ Mông – Mèo” họ Vương, cai quản hai khu vực gần biên giới Trung Quốc là Đồng Văn và Mèo Vạc  được các vua nhà Nguyễn Phước ( từ vua Minh Mạng ? ) phong tập ấm với chức hàm tri châu – tri huyện là Bang Tá. Pháp chiếm  Hà Giang năm 1886 , thiết lập một đồn binh ở  bờ phía đông sông Lô. Năm 1905  đồn binh này là một trong 4 căn cứ quân sự chánh của Đông Pháp – French Indochina ở Bắc Việt. Năm 1901, thời Pháp thuộc hai tù trưởng tộc dân Dao là Triệu Tiến Kiến và Triệu Tài Lộc  nổi lên chống Pháp và bị dẹp tan. Triệu Tiến Kiến bị giết ở chiến trận. Năm 1913, Triệu Tài Lộc tái tổ chức nổi lọan cùng với Triệu Tiến Tiến cùng  chung một bộ lạc Dao, kéo dài  2 năm cho đến năm 1915. Cuộc  nổi dậy lấy danh hiệu là ‘Quốc Bạch Kỳ – White Flag of the Fatherland” , Pháp gọi là  “Giặc Cờ( Nón, Mũ ) Trắng- White Flag, White Hat Revolt” . Nổi dậy lan rộng đến Tuyên Quang, Lào Cai và Yên Bái.  Pháp đàn áp dữ dội cuộc nổi lọan, đày xa rất nhiều dân Kinh tham gia nổi lọan và treo cổ 67 “lọan quân – rebels’. Pháp ủng hộ các “vua H’ Mông”  hầu giữ cho các vùng biên giới khỏi lọt vào tay Trung Quốc. Năm 1900, Vương Chính Đức được công nhận là vua xứ Mèo – H’Mông. Trung thành của “Vua” Mèo đã thể hiện rỏ rệt, giúp Pháp dẹp yên các bộ lạc nổi lọan sau đó, đặc biệt là các bộ lạc Dao ( Mán ). Pháp tưởng thưởng công trạng này, phong cho Vương Chính Đức cấp bậc thiếu tướng ( ? ) quân đội Pháp. Nhưng vì  dân Việt Nam chống đối Pháp thuộc địa mỗi ngày một gia tăng, “ vua Mèo”  ngã về  trung lập. Vương Chú Sển, nối “ ngôi” ( tập ấm ) cha chết năm 1944, trái lại cam kết ủng hộ ông Hồ Chí Minh kháng chiến 1940 – 54 . ( phần lớn chi tiết lịch sử này viết theo nguồn Wikipedia- 2012 ) .

         Phân chia hành chánh ngày nay

Năm 1900, tỉnh Hà Giang được thành lập đầu tiên theo sự chia tỉnh Tuyên Quang. Khi đó tỉnh Hà Giang gồm phủ Tương Yên  và 4 huyện : Vĩng Điện( do phủ quản lý ), Để Định, Vị Xuyên và Vĩnh Tuy. Năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, Hà Giang hợp cùng Tuyên Quang  thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, Hà Tuyên lại tách ra làm hai tỉnh : Hà Giang và Tuyên Quang.

Hiện nay, Hà Giang gồm một thành phố thị xã là tỉnh lỵ Hà Giang và 10 huyện:  Bắc Mê huyện lỵ hay thị trấn là  Yên Phú, Bắc Quang  hai thị trấn là huyện lỵ Việt Quang và  Vĩnh Tuy, Đồng Văn  hai thị trấn là huyện lỵ Đồng Văn  và Phó Bảng, Hòang Su Phì  huyện lỵ là Vinh Quang, Mèo Vạc  huyện lỵ là Mèo Vạc, Quản Bạ huyện lỵ là Tam Sơn, Quang Bình chưa có thị trấn, Vị Xuyên hai thị trấn là huyện lỵ Vị Xuyên  và Việt Lâm , Xín Mần  thị trấn huyện lỵ là Cốc Pài, Yên Minh  thị trấn huyện lỵ là Yên Minh. Thị xã Hà Giang có 4 phường, 4 xã. Tổng số xã tỉnh nhà là 178.  Nhiều xã nhất là huyện Bắc Quang ( 31 xã ) . Diện tích huyện lớn nhất là Vị Xuyên:  1452 km2 , nhỏ  nhất là Đồng Văn: 447km2 . Đông dân nhất là Bắc Quang 103 0634 người, ít dân nhất là Quản Bạ  39 821 người. Người H’ Mong chủ yếu sống  ở vùng núi cao từ 700 m trở lên, nơi địa thế hiểm trở, giao thông đi lại đặc biệt khó khăn, thuộc các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ và một số xã các huyện Bắc Mê, Hòang Su Phì, Xín Mần. Người Tày sinh sống  ở vùng đồi núi thấp, tập trung ở hai huyện Vị Xuyên và Bắc Quang. Người Dao  cư trú ở địa bàn khá rộng dọc biên giới Việt Trung, cao độ 400m. Người Nùng sống tập trung ở  hai huyện đất đai vùng cao phía Tây là Hòang Su Phì và Xín Mần. Địa bàn cư trú người Kinh rất rộng, song chủ yếu tập trung ở trung tâm các huyện thị tỉnh nhà.

Địa hình, đất đai

 

Là một tỉnh miền núi cao, địa hình Hà Giang rất phức tạp, khí hậu ôn đới nhưng thời tiết địa phương miền núi tạo ra nhiều vùng khác biệt nhau, nhiều dãy núi cao và cao sơn nguyên, trong đó có các đỉnh cao trên 2000m so với mặt biển như Tây Công Lĩnh  2418m , Kiều Liêu Ti  2402m, Pu Tha Ca 2274m.  Trung bình tòan tỉnh độ cao từ 800 đến 1200m . Phía Bắc và Tây Bắc cao nhất,  phần trung tâm và phía Nam tỉnh thấp nhất độ cao chỉ từ 80- 100m .

Địa hình Hà Giang chia ra 3 Vùng:

–       Phía Bắc là vùng núi đá vôi, gồm địa phận các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc chiếm 28.4 % tổng diện tích. Độ cao trung bình  từ 1000 đến 1600m .  Vùng núi cao này chạy  theo hướng từ Bắc – Tây Bắc, thấp dần về Nam – Đông Nam  chủ yếu  cấu tạo là đá vôi và đá granit, nằm giữa hai cánh cung Ngân Sơn,  từ Bắc Kạn lên tới Đồng Văn dọc phía Tây thung lũng Sông Cầu và cánh cung sông Gâm ( có khi gọi là sông Gấm, sông Gầm ) từ  Tuyên Quang lên tới Hà Giang. Địa hình hiểm trở  các đỉnh núi cao nhọn chia cắt lớn, vách dựng đứng, độ dốc trên 250  và những thung lũng hẹp đi lại khó khăn, nguồn nước cho sinh họat và sản xuất khan hiếm. Trên cao nguyên đá Đồng Văn có điểm cực Bắc của Việt Nam là Lũng Cú  mệnh danh là” nóc nhà Việt Nam”  nơi “ cúi mặt sát đất , ngẩng mặt đụng trời”  trong vùng có nhiều hang động cácxtơ ( karster ) đẹp như Động Én, Yên Minh và nhiều cảnh quan hùng vĩ  như Cổng Trời Quản Bạ , Cổng Trời Đồng Văn .

– Phía Tây là vùng đồi núi cao của hai huyện Xín Mần, Hòang Su Phì và một số xã vùng cao hai huyện Vị Xuyên và Bắc Quang, chiếm  18.3 % tổng diện tích. Vùng đồi núi này đất pha cát, cao độ  trung bình từ  900 – 1000m, xen kẻ là khối núi thượng nguồn sông Chảy với nhiều  đỉnh cao đã kể trên như Tây Công Lĩnh, Kiều Liêu Ti. Địa hình cũng bị chia cắt mạnh, có nhiều sườn dốc, lũng sâu. Hiện tượng bào mòn, rửa trôi, đất lở, đất trượt diễn ra nghiêm trọng vào mùa mưa, cản trở sản xuất và sinh họat.

– Vùng đồi núi thấp  gồm thị xã Hà Giang, các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê , chiếm 53.3 % diện tích tòan tỉnh. Vùng đồi núi này thấp, cao độ trung bình từ 80 đến 400m, sườn thỏai, xen kẽ các thung lũng rộng. Quốc lộ 2 nối liền các huyện trong vùng với thị xã Hà Giang cho tới cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy. Trong vùng cũng có nhiều cảnh quan đẹp và các hang động cácxtơ để phát triễn du lịch như động và suối Tiên, hang Phương Thiện, hang Dơi, hang Làng Lò, hang Chui ( thị xã Hà Giang ).

Đại thể đất đai Hà Giang cũng như địa hình phức tạp vì được hình thành từ các lọai đá mẹ khác nhau :

–         Đất fêralit các dạng địa hình vùng núi đá vôi. Canh tác từ lâu đời, không biện pháp bảo vệ  nên  diện tích bị bào ( xói ) mòn, rửa trôi mạnh, lộ đá gốc. Đất bạc màu, thiếu nước thường xuyên nên thời gian canh tác trong năm bị hạn chế.

–   Đất fêralit  trên các đá phun trào, đá biến chất hay  các đá trầm tích khác, phổ biến ở  vùng đồi núi cao phía Tây. Tầng đất dày, pha cát, độ chua lớn, dễ bị rữa trôi thành đất bạc màu, khả năng giữ nước kém cỏi, ít thuận lợi cho trồng trọt.

–       Đất mùn vàng đỏ trên núi, tỉ lệ mùn tầng mặt tương đối lớn. Nhưng vì độ dốc lớn, chỉ để dành cho lâm nghiệp hay các cây công nghệ  đa niên đa tầng tương tự rừng trồng.

–       Đất phù sa sông suối các thung lũng. Đất thường màu xám, sẩm, hơi đen, tơi xốp và thóang khí.  Đây là nhóm đât tốt cho sản xuất nông nghiệp

Thủy văn

Lượng mưa lớn ( 2500mm / năm ) kết hợp chia cắt mạnh địa hình, giúp cho tỉnh có  mạng lưới dòng chảy bề mặt khá dày.  Các dãy núi cao phía Bắc và Tây Bắc là nơi bắt nguồn  nhiều phụ lưu quan trọng thuộc các sông lớn  Hà Giang như sông Lô, sông Gâm và sông Chảy. Các sông thường có độ dốc lớn nên họat động đào lòng mạnh, khả năng tập trung nước mau lẹ. Mùa lũ, dòng chảy lớn, cuốn trôi cả những tảng đá lớn, làm bờ sông dễ bị xói lở. Thung lũng các sông Hà Giang, nằm ở thượng lưu, lại chảy giữa các dãy núi nên  thường hẹp. Thủy chế chia làm 2 mùa rỏ rêt. Mùa mưa chiếm 75-85%  tổng lượng nước cả năm. Mưa lớn gây lũ, đe dọa tới  đồng bằng hạ lưu. Cần có biện pháp khôi phục, bảo vệ vốn rừng, tạo thăng bằng sinh thái, điều tiết dòng chảy sông ngòi.

Ba sông  chính Hà Giang là :

–       Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam – Trung Quốc, chảy vào Hà Giang ở xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên, qua Thị xã Hà Giang, suôi dòng về Tuyên Quang, Phú Thọ  và gặp sông Hồng ở Việt Trì. Đọan chảy ở địa phận Hà Giang lòng nhỏ, nhiều thác ghềnh.

–        Sông Gâm bắt nguồn từ  vùng Nghiêm Sơn -Trung Quốc, chảy qua các mõm cực Bắc Hà Giang, các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh Bắc Mê đến huyện Na Hang, Chiêm Hóa, đổ vào sông Lô tại Tuyên Quang. Ở Hà Giang, sông Gâm quanh co, nhiều đọan chảy ngầm trong lòng núi.

–       Sông Chảy  bắt nguồn từ đường chia nước Tây Côn Lĩnh, chảy qua các huyện Hòang Su Phì, Xín Mần và Bắc Quang. Ở Hà Giang lòng sông nhỏ, độ dốc lớn, nhiều hẻm vực, nước chảy xiết. Sông Chảy xuôi dòng về Yên Bái, Phú Thọ rồi  nhập  sông Lô ở Đoan Hùng.

Sông ngòi Hà Giang có giá trị lớn về  thủy điện. Đồng thời là nguồn cung cấp nước quan trọng cho đời sống và sản xuất. Nhưng vì phần lớn sông, suối có độ cao thấp hơn địa bàn cư trú, nên nhiều nơi thiếu nước nghiêm trọng. Sông lại có nhiều thác ghềnh nên ít có giá trị về giao thông.

Khí hậu

Khí hậu Hà Giang có những đặc tính chung khí hậu miền Bắc, mùa hè nóng ẩm mùa đông khô hanh và lạnh. Khối núi thuộc cánh cung sông Gâm ở phía đông phân hóa phức tạp khí hậu đem lại nhiều sắc thái riêng biệt. Nhiệt độ trung bình trong năm khỏang 18-250C. Nóng nhất là các tháng 6,7,8 , trung bình 27.70C. Lạnh nhất là các tháng 12, 1, 2 , trung bình 150C. Tổng số giờ nắng trung bình là 1400 giờ.  Lượng mưa trung bình cao 2500 mm, tập trung 75-85%  vào các tháng mùa hè , từ tháng 4 đến tháng 10. Mưa nhiều nhất vào các tháng 6,7,8. Ở vùng núi cao từ 700m trở lên, nhiệt độ hạ thấp đáng kể, trung bình chỉ 15- 160C; mùa đông thường kéo dài tới 6-7 tháng vào tháng chạp và tháng giêng , tiết trời gía lạnh nhiệt độ có khi xuống dưới 00C. Ở các thung lũng và lòng chảo khuất gió, nên lượng mưa giảm nhiều khiến thời gian khô hạn kéo dài 4- 5 tháng. Các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Hòang Su Phì, Xín Mần, lượng mưa ít nhất tòan tỉnh, chỉ chừng 1200mm. Mùa đông ở đây thường  có sương muối và băng giá. Vùng núi thấp dưới 700m, nhiệt độ trung bình cao hơn trên 220C, mùa đông có 3 tháng nhiệt độ chưa tới 150C, mùa hè có  5 tháng nhiệt độ trung bình  trên 250C. Lượng mưa trung bình  thị xã Bắc Giang là 2430mm/năm, đặc biệt lượng mưa Bắc Quang lên tới 4800mm/năm.

Thảo mộc và động vật

Năm 2000, diện tích rừng cả tỉnh còn gần 290 000 ha, trong số này gần 22 000 ha  là rừng trồng. Độ che phủ rừng là 36%,  đưa Hà Giang đứng đầu các tỉnh Đông Bắc về diện tích rừng cũng như rừng tự nhiên. Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh và 3 khu bảo tồn thiên nhiên: Bắc Mê với diện tích 15 000 ha, Du Già 20 000 ha và Tây Côn Lĩnh 19 000 ha.

Ruộng vườn và trâu bò, súc vật nuôi thường thấy ở độ cao dưới 800m. Từ 800 m (2600 bộ Anh ) đến 950m ( 3120 bộ Anh ) là cỏ hòa bản- grasses  và cây lùm bụi – wood shrubs ( cây cao nhất chỉ chừng 3m ( 9.8  bộ Anh ). Lớp phủ thực vật trong rừng núi có cấu trúc đai cao rỏ rệt. Dưới chân núi là các lòai ưa ẩm và nhiệt như  chò chỉ Parashorea  chinensis, táu( táu mật ) Hopea chinensis và các lọai thực bì thứ sinh như tre nứa, giang, vầu . Ở độ cao 1000 dến 1600m là sồi- dẽ ( Lithocarpus  bonnettii , L. corneus, L. echinotholus, L. fenestratus . L. findettii, L. fordianus …, và nhiều lòai họ dẽ khác Fagacea khác, như dẽ Cao Bằng  Castanea mollissima, dẽ Phăng xi Păng Castanea phansipanensis , dẽ Tuyên Quang Castanopsis cerabrina… ). Lên cao hơn nữa là rừng  hỗn giao lá rộng- lá kim  như các lòai kim giao, pơ mu, pê mu ( Podocarpus sp. ) . Rừng đai cao trên 1000m thường là rừng rậm, 80% tàn cây khép kín, các tầng dưới đầy dây leo lớn chằng chịt, dương xĩ thân mộc – tree ferns và các lòai đổ quyên- rhododendrons  . Chuối, tre, nứa và lùm bụi thứ sinh cũng mọc mạnh mẽ hai bên các lối mòn đuờng đi bộ trong rừng. Đặc biệt  trên cao hơn 1100m như  ở mặt Đông Bắc  núi Mương Cha  là  ghềnh núi đá vôi cheo leo, còn sườn Tây Nam lại thoai thỏai và đã chuyễn hóa thành ruộng vườn, nương rẫy. Trên 2000m là rừng núi hổn tạp giữa rừng lá sớm rụng và rừng  luôn luôn xanh mây phủ. Đây là lọai rừng các tầng dưới có nhóm cây thuộc họ Đổ Quyên Ericaceae cây lùm bụi tầm gửi các lòai  Đổ Quyên- RhododendronSơn Trâm- Vaccinium.   Ở lọai rừng  này còn đếm thêm được các lòai họ Long Nảo Lauraceae, họ Lài Oleaceae.  Cao hơn nữa sẽ gặp các lòai họ sồi dẽ Fagaceae, họ Cơm nguội Myrsinaceae và họ Đinh Lăng Araliaceae. Thân cây mộc phần lớn đều có rong rêu phủ dày. Rừng Hà Giang còn chứa hàng nghìn lọai cây dược liệu quí hiếm.

Về động vật, tỉnh đã phân lọai được 16 loài bò sát ( 14 tông chi và 5 họ ) và 36 lòai lưỡng cư ( 20 tông chi và 7 họ ). Tỉnh  còn bắt gặp  nhiều lòai động vật hoang dã khác như vọoc nũi hếch, trĩ đỏ, khỉ, hổ ( cọp) công, tê tê  và hàng trăm loài chim chóc khác.

Khóang sản

Tài nguyên khóang sản Hà Giang chưa được  thăm dò đầy đủ. Nhưng nhìn chung đã khá đa dạng, phong phú với 28 kim lọai khác nhau, tập trung trong 149 mỏ và điểm quặng. Các khóang sản khai thác được cho phát triễn kinh tế tỉnh là:

–       Ăng ti moan, hàm lượng khá, chế biến tập trung ở Mậu Duệ, Bó Mới ( huyện Yên Minh).

–       Vàng sa khóang, trử lượng sơ bộ năm 2000 chừng 1000 kg,  phân bố ở nhiều nơi  từ Mèo Vạc qua Bắc Mê , Vị Xuyên đến Bắc Quang, nhưng tập trung nhiều hơn cả là ở Tiên Kiều và Bình Vàng.

–       Chì – Kẻm  tập trung nhất là ở Tùng Bá, Trung Sơn, Bằng Lang, Cao Má Pờ.

Hà Giang còn có mỏ sắt, mang gan, thủy ngân, thiếc, đồng, bô xít, quí kim và nước khóang, nhưng trử lượng nhỏ lại phân tán, phương tiện khai thác thủ công, bán cơ giới nên năng xuất và hiệu quả thấp. Tỉnh có đá vôi để sản xuất xi măng, nhưng trữ lượng không lớn.  Đá, cát, sõi, đất làm gạch có thể khai thác đủ phục vụ cho nhu cầu địa phương.

 

Phần II sẽ tiếp theo: Lạm bàn phát triễn Hà Giang : Danh lam thắng cảnh mở mang du lịch …, công nghệ , nông nghiệp ….

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s