GS Tôn Thất Trình – Lạm bàn phát triễn tỉnh Kon tum

      Kon Tum phát  sinh  từ tên một làng tộc dân Ba Nà. Theo ngôn ngữ Ba Nà,  kon có nghĩa là làng và tum là hồ, ao, vũng nước- pool .  Trước khi có quốc ngữ,  tên Kon Tum  đã được viết theo Hán tự ở các công văn chánh thức v.v…Diện tích Kon Tum theo cập nhật  của Wikipedia ngày 18 tháng 9 năm 2012  là 9 934 km2 . Niên giám Thống kê cho biết diện tích Kon Tum năm 2001chỉ là 961 500 km2. Bắc giáp  tỉnh Quảng Nam,  Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi  và Nam giáp tỉnh Gia Lai, Tây giáp hai tỉnh Hạ  Lào là  Sekong và Attapeu  và  tỉnh Ratanakiri và tỉnh Moldukiri

* * *

Một rạng đông với màu hồng ngọc,

                                                                       Cây si xanh gọi họ đến ngồi,

                                                                  Trong bóng rợp của mình , nói tới ngày mai .

                                                                        Ngày mai sẽ là ngày  sum họp

                                                                   Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp !

                                                                    Nắng vẫn còn ngời  trên những mắt lá si

                                                                           Và người chồng ấy đã ra đi…

                                                                  … Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đòan người:

                                                                        Sẽ là ánh  lửa hồng trên bếp

                                                                         Một làng xa giữa đêm gió rét…

                                                                        Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi

                                                                        Như không hề có cuộc chia ly.

( Cuộc chia ly màu đỏ , tháng 9 năm 1964)

Nguyễn Mỹ,   1935 – 1971  

 

Nhắc lại  Tây Nguyên – Western Highlands  ngày nay hay Cao Nguyên Trung Phần- Central Highlands thời Cộng Hòa Miền Nam – là một trong 8 miền phân chia nước Việt Nam ngày nay : Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc , Tây Bắc , Bắc Trung Bộ , Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên,  Đông Nam Bộ, Đồng Bằng sông Cửu Long . Kontum là tỉnh địa đầu phía Bắc Tây Nguyên  và Lâm Đồng là tỉnh phía Nam. Tây Nguyên theo kiểm kê dân số ngày 1 tháng 4 năm 2006( ? )  có 4 858 700 người . Đông nhất là Đak Lak – Đắc Lắc (  tỉnh lỵ là thị xã   Buôn Ma Thuột) 1737 600  dân;Lâm Đồng ( thị xã là Đà Lạt)  1179 200  ; Gia Lai ( thị xã Pleiku ) 1 161 700 ;  Đắc ( Đak ) Nông ( thị xã  Gia Nghĩa ) ; ít dân nhất là Kon Tum ( thị xã  Kon tum ) 383 100 . Diện tích  miền Tây Nguyên chừng  55 000 km2 ;  tỉnh lớn nhất Tây Nguyên là Gia Lai  15 536.9 km2 ;  thứ đến là Đắc Lắc 13139.2 km2 ; Lâm Đồng 9776. 1 km2 ; Kon Tum 9690.5 km2 ; nhỏ nhất là Đắc Nông 6516, 9 km2.  Các tộc dân Tây Nguyên  trước năm 1955- 57 thuộc hai họ ngôn ngữ lớn ( trong số 3 họ lớn Việt Nam ) ; họ Nam Á  chia ra thành nhóm Môn- Khơ me( Khmer)  như các tộc dân   Ba Na – Bahnar và Cơ Ho- K’hor, và họ Nam Đảo như các tộc dân Gia Rai –Jarai và Ê – Đê-  Ede.  Nhưng sau 1975 thì có thêm nhiều  tộc dân miền Bắc  di cư đến thuộc nhóm H’Mông ( Mèo)   – Dao, nhóm Tày – Thái  hay cả vài nhóm thuộc  họ ngôn ngữ Hán- Tạng nữa . Kể từ năm 2006, tộc dân Kinh đã chiếm đa số dân Tây Nguyên; tuy rằng vẫn còn nhiều  huyện, nhất là ở tỉnh Gia Lai,  đa số không phải là tộc dân Kinh.  Hầu có một ý niệm pha lẫn các tộc dân ngày nay, ngay gần thị xã Kon Tum, cuối thế kỷ thứ 20 đã có các tộc dân sau đây sinh sống; mỗi tộc dân có ngôn ngữ , văn hóa , tôn giáo ,cuộc sống riêng rẽ :  Bà Nà, Gia Lai, Rengao,  Xê Đăng – Sedang,  Giẻ Triêng -Jeh ( ? ) , Châu Ro ( Chu Ru ? ) – Todrah  ( ? ), M’ Nông – Monom ,  Halang ( ? ), Cơ Tu – Katua,   Tà Ôi – Takua( ? ), Co – Cua ( ? ) , Hrê – H’Rê và  Duan (Xoan, Yuôn,  Duồng ? ) hay Kinh ( Việt ) ( Theo  Chris Lang , Watershed , tập 1 số 2 tháng11/1995- tháng 2/ 1996 )

 

Vị trí và phân chia hành chánh

Kon Tum phát  sinh  từ tên một làng tộc dân Ba Nà. Theo ngôn ngữ Ba Nà,  kon có nghĩa là làng và tumhồ, ao, vũng nước- pool .  Trước khi có quốc ngữ,  tên Kon Tum  đã được viết theo Hán tự ở các công văn chánh thức v.v…Diện tích Kon Tum theo cập nhật  của Wikipedia ngày 18 tháng 9 năm 2012  là 9 934 km2 . Niên giám Thống kê cho biết diện tích Kon Tum năm 2001chỉ là 961 500 km2. Bắc giáp  tỉnh Quảng Nam,  Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi  và Nam giáp tỉnh Gia Lai, Tây giáp hai tỉnh Hạ  Lào là  Sekong và Attapeu  và  tỉnh Ratanakiri và tỉnh Moldukiri( ? ), Bắc Cam Bốt.  Nằm ở vĩ tuyến Bắc 1405 ‘ N và kinh tuyến Đông 107055‘ E. Tỉnh lỵ Kon Tum  cách Buôn Ma Thuột 246km, Qui Nhơn ( tỉnh Bình Định ) 215 km, cách  Pleiku 49 km. Quốc lộ 14 từ phía tây Quảng Nam ở Phước Sơn ( Khâm Đức ), chạy ngang qua thị xã Kontum, rồi xuôi Nam xuống Pleiku, Buôn Ma Thuột , Đắc Mil,  Đắc Nông, Bù Đăng, Đồng Xoài tới Chơn Thành để gặp quốc lộ 13,  xuôi thêm Nam qua Bến Cát, Thủ Dầu Một, đến Gia Định, TP Sài Gòn.  Quốc lộ 24 nối Kon Tum với Quảng Ngãi ngang qua Ba Tơ, Măng Canh, Măng Đen ( cao nguyên thung lũng Kon Plong ).

Dân số Kon Tum năm 2010 là  443 500 người. ( theo niên giám thống kê, năm 1995  là 316 000; năm 2001 là 324 800 và theo Wikipedia năm 2006 là 383 100 ). Tổng số thị dân Kon Tum cũng đã tăng từ 63 500 năm 1995 lên 112 400 năm 2002. Kon Tum nay gồm một thị xã ( 7 phường ), 7 huyện và 6 thị trấn huyện lỵ: Đak Glei, Ngọc Hồi ( Plei Cần ), Đak Tô, Kon Ray, Kon Plong, Đak Hà, Tu Mo Rong và Sa Thầy. Năm 2002, tỉnh Kon Tum đã có 70 xã ( communes ).

 

Xuôi dòng thời gian

                                             …Mở Quảng nam , đặt Trấn ninh,

                                              Đề phòng muôn dặm  uy linh ai bì .

                                                  Kỳ công có núi Đá Bia.

                                              Thi văn  các tập Thần Khuê còn truyền .

( Đại Nam quốc sử diễn ca, đề cao công đức vua Lê Thánh Tông  )

       Theo các nghiên cứu của các nhà cỗ học Pháp, thì các thổ dân Tây Nguyên  là người Kiritas  thuộc giống Nam Dương – Inđônexia, Pháp gọi là « Mọi », tiếp xúc tổ tiên của người Chàm – Chiêm  từ các hải đảo  Mã lai, Nam Dương  tràn lên bờ biển Trung Bộ ngày nay, nhiều thế kỷ  trước Công Nguyên. Số người Kiritas không chịu Chàm chế ngự dồn lên ở các miền núi Trường Sơn lân cận. Nhiều  sử gia ( Proceedings of the Seminar on Champa – 1987, Huỳnh Đình Tế dịch  sang Anh Văn năm 1994 ) còn cho người Chàm- Chiêm  thật sự gồm luôn cả nhóm  Jarai, Rhađê- E Đê, Churu, Ragglai, Stiêng…   Năm 1147, vua Chiêm vùng Paduranga ( Phan Rang ) là Chế Bì La Bút – Jaya Harivarman  đánh thành Chà Bàn – Vijaya ( Bình Định ), đánh tan Harideva, em vợ vua Chân Lạp ( Cao Mên ? ) đang làm vua ở  xứ Bắc Chiêm. Năm 1151, Chế Bì La Bút đem quân đánh bại  hết mọi đạo quân  người Kiritas Tây Nguyên đang tràn xuống  chiếm lại đồng bằng và cả quân lọan nội bộ Chiêm là quân của Ung Minh Tạ Diệp – Vancarâja , anh vợ của Chế Bì La Bút  các tộc dân Kiritas tôn lên làm vua.  Thừa thắng, Chế Bì La Bút đuổi theo các đạo quân Thượng Kiritas, chiếm miền Bắc Đắc Lắc ngày nay và miền Cao nguyên  từ Bình Thuận ra Phú Yên, khuất phục các bộ lạc Gia Rai, Rongao, Roglai Blao v.v…  làm chủ cai trị  các vùng này một thời gian lâu, nên di tích Chàm  còn rải rác  từ các vùng này  đến gần hai tỉnh Plei Ku, Kon Tum ngày nay. Năm 1306, Vua Chế Mân Simhavarman III  ( trì vị 1287- 1307 )  xin cưới con gái vua  Trần Nhân Tông  là công chúa Huyền Trân với sính lễ là  hai châu Ô và Rí ( hay Lý , tên Chăm là Ulik ), đưa biên giới Chiêm Việt  xuống tới Bắc Quảng Nam ngày nay. Năm 1402, vua Hồ Hán Thương ( trị vì 1401- 1407 ) sai tướng Đỗ Mãn  đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm La Bích Đại –Indra Varman thất thế, xin tặng Chiêm Động (Nam Quảng Nam)  và  Cỗ Lũy Động( Quãng Ngãi ). Nhà Hồ đổi thành 4 châu : Thăng ( huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ), Hoa ( Mộ Hoa sau cải tên thành  Mộ Đức ), Tư và Nghĩa ( hai châu Tư, Nghĩa nay là huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nghĩa) . Năm  1471, vua Lê Thánh Tông nam chinh, hạ thành Chà Bàn, bắt vua Chiêm là Bàn La Trà Tòan ( trị vì 1460-1471 ) đưa về Thăng Long. Chiếm vùng đất mới đổi thành phủ Hòai Nhơn, sáp nhập  vào bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa , lập ra đạo Thừa Tuyên  Quảng Nam.  Năm  1490, Vua Thánh Tông cải chia  nước ra làm 13 xứ , đổi đạo Thừa Tuyên thành hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Phía Nam xứ Thuận Hóa là xứ Quảng Nam, quản lảnh 3 phủ ( Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hòai Nhơn )và 9 huyện.  Đất Chiêm Thành còn lại chia ra làm  ba tiểu quốc là Hòa Anh ( các đồng bằng Khánh Hòa – Phú Yên), Chiêm Thành ( các đồng bằng Ninh Thuận – Phan Rang và Bình Thuận- Phan Thiết) và Nam Phan  ( Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc ).

Năm  1558,  Chúa Tiên Đoan Quận Công Nguyễn Hòang được cử vào trấn thủ xứ Thuận Hóa, vua Lê vừa mới lấy lại trong tay nhà Mạc và đã đặt  Tam Ty ( Đô ty, Thừa ty, Hiến ty ), phủ -huyện để cai trị, nhưng nhà Mạc vẫn đương khuấy động, lòng dân chưa qui phục hẳn, khiến Trịnh Kiểm lo âu, nên chịu đưa Nguyễn Hòang vào trấn thủ Thuận Hóa. Khi chúa Tiên vào trấn Thuận Hóa thì Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán làm tổng trấn Quảng Nam.  Năm 1568, Tá Hán mất, Nguyên Quận công  Nguyễn Bá Quýnh được bổ làm tổng binh thay Tá Hán.  Sau khi Đoan quận công ra Thanh Hoa yết vua Lê về, ông được vua cho kiêm lảnh trấn Quảng Nam, còn Bá Quýnh đổi về  trấn thủ Nghệ An. Các năm 14 79- 1535, các quận vương các tiểu quốc họp lại, lấy Phan Rang – Paduranga làm thủ phủ nước Chiêm Thành. Năm 1611, Chúa Tiên  sai Chủ sự Văn Phong đem quân vào đánh  Chiêm Thành, lấy đất phía Nam  Đèo Cù Mông ( giữa Bình Định và Phú Yên ) đến núi Thạch Bi – Bia Đá, đặt  làm phủ Phú Yên  gồm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.   Như vậy Nam Bàn không còn và nay phía Bắc Tây Nguyên ( Kon Tum , Gia Lai và phía Bắc Đắc Lắc) hòan tòan do Xứ Đàng Trong cai trị. Năm  1653 Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần sai Hùng Lộc đem quân lấy đất từ  Phú Yên đến sông Phan Rang, đặt ra phủ Thái Khương sau đổi làm Bình Khương, gồm 2 phủ mới là Bình Khương ( phần lớn huyện Ninh Hòa ngày nay )và  phủ Diên Ninh ( Diên Khánh ngày nay ). Năm 1693 ( ? ), Chúa Minh Nguyễn Phước Chu sai Cai cơ ( tương đương với lữ đòan trưởng ngày nay ) Nguyễn hửu Kính, con của  tướng Nguyễn hửu Dật  đánh bại quân Chiêm đã đắp lũy  cướp giết nhân dân  phủ Diên Ninh, sáp nhập  nước Chiêm còn lại vào bản đồ xứ Đàng Trong, thành một trấn tên là Thuận Thành. Năm  1693, trấn Thuận Thành đổi tên thành phủ Bình Thuận, hòan tất phần đất Tây Nguyên còn lại vào bản đồ Việt Nam. Nhưng có thể là phần đất phía cực Nam Tây Nguyên ngày nay , phải đợi đến  năm 1698,  khi Thống xuất  Kinh lược sứ Nguyễn hửu Kính  theo lệnh Chúa Minh, lấy xứ Đồng Nai, đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên  ( Biên Hòa ), lúc đó  tòan thể Tây Nguyên ngày nay mới thuộc hẳn bản đồ  xứ Đàng Trong ( ? ).

Trái với tuyên ngôn, năm 2005, của tổ chức Montagnard Inc. ( tiếng nói của « tộc dân Degar » ) ở Hoa Kỳ,  cho rằng ngay cả dân Chàm  đuổi các tộc dân Tây Nguyên  lên vùng núi cao  khỏi vùng bờ biển Đà Nẳng năm 875, cũng không dám bén mảng lên Tây Nguyên, từ năm 1151, Chế Bì La Bút đã cai trị Tây Nguyên như đã nói trên. Trấn thủ Quảng Nam Bùi Tá Hán, trước năm 1558,  đã  lập 6 đồn binh dọc theo miền núi Quảng Ngãi – Kon Tum để  canh giữ các bộ lạc núi Trường Sơn, nhất là bộ lạc  tộc dân Đá Vách (H’Rê ), một bộ lạc háo chiến,  khó khuất phục , thường xuống cướp phá đồng bằng. Ở mỗi vùng  có một tộc dân  đặc biệt , ông  đặt chức Giao Dịch người Man ( những tộc dân không phải dân Kinh mà sau đó Pháp gọi là Mọi, Man vùng thấp là người  Chiêm đồng bằng và Man vùng cao là các tộc dân Kiritas pha lẫn dòng máu tổ tiên Chiêm ?), đặc trách  bảo vệ đồng bào  Kinh-Việt. Mỗi vùng giao dịch chia ra làm  4 Nguyên, mỗi Nguyên có  một Cai – quản   và nhiều phụ tá.  Cai – Quản  lựa chọn những thương hộ, được phép lưu hành trong Nguyên  buôn bán với các bộ lạc Man. Các thương hộ còn có  trách nhiệm  thu thuế trong Nguyên, để nộp cho các nhà cầm quyền Việt. Ngòai món thuế ấy ra, không được phép đòi hỏi gì  người Man cả  ( Theo Essai d’ histoire  des populations montangardes du Sud Indochinois của nhà sử học Pháp Bourotte, có lúc làm giáo viên – hiệu trưởng trường Khải Định -Huế,  trước 1945 ). Động Sách Man nào  nạp đủ thuế  thì viên chức phụ trách trích tiền thuế đải đằng, yến tiệc cho người Man, cho họ đồ đạc, hàng lụa …  Chúa Tiên Nguyễn Hòang khi kiêm lảnh  Quảng Nam cũng  tiếp tục  chế độ cai quản của tướng Trịnh Bùi Tá Hán. Phía Tây phủ Phú Yên lúc bấy giờ, phía trên nước Nam Bàn  vua Lê Thánh Tông đã chia  cho dòng dõi vua Chiêm trước kia, có dân Man  Jarai, một tộc dân  mạnh mẽ thiện chiến, gồm hơn 50 thôn lạc, có hai « nước » , phía  Đông núi Bà -Nam là Thủy Xá ( sách Pháp gọi là Patau Ya , Sadet de l’Eau ) và  Hỏa Xá ( Patau Pui , Sadet du Feu) phía Tây núi ; tộc dân Jarai tôn  hai vị pháp sư làm chủ coi như là vua. Uy quyền của hai  « Vua »  có tính cách thần bí, không can dự đến việc thế gian. Ngòai tộc dân Jarai,  nhân dân Ba Nà và một số dân Xê Đăng phía Bắc đều thần phục. Hai vua phải ở xa nhau, hể gặp nhau thì gây tai họa cho xứ sở ( cũng theo Bourotte ). Năm 1711, Đôn Vương của Thủy xá và Nga Vương của Hỏa Xá dâng phương vật và xin chúa Minh  phát binh ra oai với  người Man ( các tộc dân Tây Nguyên ), khiến họ đóng thuế.  Chúa Minh đã sai Kỳ thuộc Kiểm Đức, quen biết tập quán của họ, đem thư đến hiểu dụ, khuyên nhân dân  Man lấy lễ nghĩa ăn ở cùng nhau, định lại thuế lệ, khiến phải nạp cho tù trưởng. Nói chung  các chúa Nguyễn đã tỏ ra mềm dẻo và khéo léo  trong  các chánh sách đối với các bộ lạc Tây Nguyên, nên trong 200 năm từ đời chúa Tiên Nguyễn Hòang đến đời  chúa Vỏ Nguyễn Phước Khóat ,các chúa  đã giữ được yên ổn các vùng Tây Nguyên  ( Việt Sử Xứ Đàng Trong, Quyển Hạ của Phan Khoang , năm 1967 ) .

Năm 1815, dân Âu Châu khởi sự  đến  Tây Nguyên khi cha Buzumi ,  người Ý  và cha Carvalho, người Bồ Đào Nha, cả hai đều thuộc Dòng Tên-Jesuit  ở Ma Cao, lên bộ ở  Đà Nẳng ( Tourane ). Sau đó  các giáo sĩ Cơ Đốc – Catholics misionnaries thiết lập một giáo xứ tại Kon Tum, là những người Âu Châu đầu tiên đến Tây Nguyên ( ? ). Năm 1876, người Pháp đến thám hiểm tộc dân Xê Đăng  ở Kon Tum ( một tên tứ chiến giang hồ Pháp tự  xưng là «  vua Xê Đăng »), tộc dân Ê Đê – Rhadé từ phía Tây Đắc Lắc và từ Sài Gòn  đến  tiếp xúc các vùng tộc dân  Châu Ro, Chu Ru – Chrau.  Năm 1883, Pháp hòan tất đánh chiếm tòan cỏi Viêt Nam và bắt đầu tràn lên các vùng núi Tây Nguyên năm 1890 . Năm 1895, họ khởi sự khai khẩn, hầu thuộc địa – thực  dân hóa Tây Nguyên.  Tháng giêng năm 1899, họ thiết lập một cơ quan hành chánh quân sự cai trị ở Bản Đôn ( Ban Don ) . Và  ngày 2 tháng 11 năm 1899 , Pháp  dựng lên một  vùng tự trị cho dân Mọi – Montagnards tộc dân Ê Đê – Rhadé  ở Đắc Lắc ( đặc biệt do công sứ Đắc Lắc Sabatier năm 1920 ?  ). Trong ý đồ chung  của thực dân Pháp là chia để trị ở Đông Pháp, thành lập một Tây Nguyên riêng biệt tách rời khỏi Trung Kỳ , sau khi đã chia ba Việt Nam thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.  Đỉnh cao ý đồ này là Nghị định ngày 27 tháng 5 năm 1946,  Cao Ủy Pháp đô đốc George D’ Argenlieu giả tạo ra  Liên Bang các Dân tộc « Mọi » miền Nam Đông Pháp-  Federal   Government for the Montagnard People of South Indochinois. Nhưng năm 1950  ý đồ này tan vỡ, vì nhu cầu Chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất, Pháp trao trả Tây Nguyên lại cho vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều đại Nguyễn Phước, dưới danh nghĩa là  Hòang Triều Cương Thổ – Domaine de la Couronne . Các biến chuyễn chánh trị, chiến tranh… ở Tây Nguyên từ năm 1951 đến năm 1979 đã được  lạm bàn thảo ở các bài về  các tỉnh, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông … cho nên không lạm bàn thêm ở đây nữa.  Chỉ nói thêm ở đây chiến trận Đak( Đắc ) Tô, một lọat giao tranh chánh, khốc liệt ở Chiến Tranh Việt Nam  Thứ Hai ( khi quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến ở Cộng Hòa  Miền Nam,  năm 1964 ),  từ 3 đến 22 tháng 11 năm 1967 ở tỉnh Kon tum, ít khi được nói đến.

 

Chiến trận Đak (Đắc) Tô ( chiếu theo Wikipedia, cập nhật ngày 3 tháng chín năm 2012, theo quan điểm của Hoa Kỳ )

Đắc Tô  là môt sàn thung lũng bằng phẳng, có những rặng núi cao vây quanh, đỉnh núi  có khi cao hơn 1300 m, trải dài về phía Tây  và Tây Nam đến vùng ba biên giới ( Việt- Miên-  Lào.  Vùng phía Tây Tỉnh Kontum  do các rừng rậm – rain forests hai, ba  tầng cây bao phủ , và những  trảng  lộ thiên  tre nứa mọc chằng chịt,  đường kính thân tre  có khi hơn 20cm . Những bải trực thăng đáp xuống được  rất hiếm hoi  và cách xa nhau, có nghĩa là  đa số  quân lính  phải di chuyễn bằng đi bộ. Nhiệt độ ban ngày có thể đến 35 độ C ( 95 độ F )  và ban đêm  lạnh  xuống 12 – 13 độ  C ( 55 độ F ).

Vào các năm đầu tiên quân đội Mỹ tham chiến ở Việt Nam, nhiều  nơi  dọc theo biên giới Tây nguyên  có  Nhóm Lực Lượng Đặc biệt Hoa Kỳ Không Chính Quy Phòng Vệ – US Special Forces Civilian Irregular Defense Group ( CIDG ) trú đóng,  để theo dõi, kiểm sóat   xâm nhập  của quân đội nhân dân miền Bắc – PAVN và quân đội Mặt trận Giải Phóng Tây Nguyên (  tiền thân của FULRO,  Bajaranca ? ).  Và để cung cấp ủng hộ và huấn luyện  quân sự ? cho dân  các làng Thượng , sắc tộc hẻo lảnh.  Một trong những nơi đóng quân này được xây dựng gần làng và sân bay nhỏ Đắc Tô. Sau năm 1965,  Đắc Tô cũng được sử dụng làm  một Căn cứ rất bí mật các Chiến Dịch Tiền Đạo (Tiến  Đánh Trước )-  Forward Operation Base . Từ các căn cứ này, Nhóm Quan Sát và Nghiên Cứu-  Studies and Observations Group ( SOG ) tung ra các tóan  trinh sát để  lấy tình báo về  đường mòn Hồ Chí Minh dọc theo biên giới Lào.

Các họat động ở Đắc Tô là  một trong những lọat sáng kiến tấn công  của PAVN,  đã bắt đầu từ  nữa năm cuối 1967.  Bắc Việt đã tấn công  ở Lộc Ninh, ( tỉnh Bình Long bấy giờ ), Sông Bé ( tỉnh Phước Long bấy giờ), Cồn Thiên và Khe Sanh ( tỉnh Quảng Trị ) cùng nhiều nơi khác,  phối hợp với Đắc Tô Mỹ gọi chung là « các  cuộc chiến đấu biên giới – border battles ».

 

Chiến dịch Greeley

Mùa hè năm 1967,  tiếp xúc mạnh với các lực lượng  PAVN ở vùng này đã khiến Quân đội Hoa Kỳ tung ra Chiến dịch Greeley, một phối hợp  hành quân cố gắng tìm kiếm và phá tan  của những  đơn vị  Sư đòan 4 Bộ Binh  Hoa Kỳ , Lữ đòan Dù Không vận 173 Hoa Kỳ ,  Trung đòan  42 bộ Binh  Quân đội Cộng Hòa Việt Nam  ( ARVN ) và nhiều đơn vị Không vận.   Tháng giêng năm 1967,  Trung tướng William R. Peer nắm quyền chỉ huy Sư Đòan 4 Bộ Binh Hoa Kỳ , có nhiệm vụ  bảo vệ miền Tây tỉnh Kon Tum.  Trước  mùa mưa , Peetrs  thành lập những vị trí chận đường xâm nhập ở Jackson Hole , phía Tây Pleiku và tung ra chiến dịch Francis Marion ngày 15 tháng 5 năm  1967.  Sư Đòan 4 chỉ có hai Lữ Đoàn 1 và 2 mà thôi  vì Lữ đòan 3 đang hành quân với Sư Đòan 5 ARVN   ở vùng Tây Bắc Sài Gòn. Tiếp xúc với lực lượng hùng mạnh PAV, nên  Peers liền xin tăng viện. Thành quả là ngày 17 tháng 6 năm 1967,  hai tiểu đòan của Lữ đòan  Dù 173 Không vận Hoa Kỳ do Thiếu tướng  John R. Deane chỉ huy,  được di chuyễn đến Đắc Tô , bắt đầu càn quét các núi non rừng rú gvùng này, mệnh danh là Chiến dịch Greeley.  Lữ đòan 173 chỉ mới hành quân gần căn cứ không quân Biên Hòa, chống lại du kích Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam NLF.  Cho nên, dù đã  được Đại tá William J. Livsey   cảnh báo về những nguy hiểm hành quân tại Tây Nguyên, khuyến cáo cho  lữ đòan Dù  Hoa Kỳ biết là các quân đội chính quy ARVN  là những lực lượng được trang bị tốt hơn và động viên tinh thần mạnh mẽ hơn NLF,  nhưng quân nhảy dù Lữ đòan không nghe, khinh địch , nên bị tổn thất nặng nề sau đó. Ngày 20 tháng 6, đại đội Charlie Company, Tiểu đòan 2 của Lữ đòan Dù khám phá tử thi của đơn vị Lực Lượng Đặc biệt CIDG  mất  tích đã 4 ngày ở đồi 1338 , một khối núi non  phía Nam Đắc Tô. Nhờ  đại đội  Alpha Company hổ trợ, quân Hoa Kỳ tiến chíếm đồi, ngũ qua đêm rồi sáng sớm hôm sau  Alpha Company  đơn độc  càn quét rặng núi hẹp kế cận và khởi động ngay  một cuộc phục kích của Tiểu đòan 6 Lữ đòan  24 PAVN. Charlie Company được lệnh tăng viện, nhưng cây cối rậm rạp, địa hình khó khăn làm việc di chuyễn vô cùng khó khăn. Không quân lại không yểm trợ  gần được trong tình trạng này.  Hổ trợ pháo binh cũng không hửu hiệu vì  tầm nhìn giới hạn và  chiến thuật cận chiến «  belt-grabbing » của quân Bắc Việt.  Alpha Company cố sống sót  qua một ngày một đêm ròng rả, nhưng bị tổn thất nặng nề.  76 người bị giết chết và 23 người nữa bị thương, trong số  137 người của  đại đội. Kiểm sóat chiến trường, chỉ thấy có 15 lính Bắc Việt chết.

Hầu trả đủa Alpha Company bị phá tan,  Phái bộ Viện trợ Quân sự MACV ra lệnh tăng thêm lực lượng cho vùng. Ngày 23 tháng sáu 1967, Tiểu đòan 1, Lữ đòan 1 và Sư đòan 1 Không kỵ Binh  đến Đắc Tô tăng viện cho Lữ đòan Dù 173.  Ngày hôm sau, Lực Đặc nhiệm Ưu tú  Dù  Không Vận số1 ( các tiểu đòan 5 và 8 ) của ARVN và Lữ đòan 3 của Sư đòan 1 Kỵ binh Không vận Hoa Kỳ  đến tìm kiếm và phá hủy lực lượng địch ở Bắc và Đông Bắc Kontum. Tướng Dean đưa lực lượng mình 20 km về phía Tây và Tây Nam  Đắc Tô, truy lùng Lữ đòan  24 PAVN. Sau khi xây dựng xong dàn pháo binh căn cứ 4  ở đồi 664,  chừng 11 km phía Tây Nam Đắc Tô,  Tiểu đòan  4 Sư đòan  Dù  Bộ binh Không vận 503 tìm ra, ngày 10 tháng 7, Tiểu đòan  K-101 D  của Lữ đòan Độc Lập Bắc Việt. Khi 4 đại đội của Tiểu đòan  đến gần đỉnh đồi 830 , họ bị một tường lữa súng nhỏ và liên thanh bắn và bị lựu đạn  hỏa tiễn B-40 thúc đẩy và mọoc chê nả vào. Không tiến thêm nữa được họ ngũ đêm tại chỗ.  Sáng hôm sau,  quân Bắc Việt đã rút đi hết. Tiểu đòan 4, sư đòan 503  chết mất 22 người  và 63 bị thương. Chỉ tìm thấy 3 tử thi quân Bắc Việt tại chỗ.

Áp lực Bắc Việt  trên các trại CIDG  ở Đắk Seang  và Đak Pek , 20 và  45 km  phía Bắc Đắc Tô  khiến phải chuyễn  lữ đòan 42 Bộ Binh ARVN  đến đó, và tiểu đòan  Dù ARVN  đến Đak Seang. Địa hình  Đăk Seanglà  núi cao và rừng rậm ba  tầng cây cối . Đồn trú Lực Lượng Đặc biệt  Đăk Seang nằm ngang giữa đường mòn Hồ Chí Minh, con đường chánh Bắc Quân xâm nhập miền Nam.  Trưa ngày  4 tháng 8,  tiểu đòan 8 Dù và các cố vấn đã chiến đấu nhiều ngày. Khi  đơn vị đến được đỉnh núi,  nhờ hỏa lực không quân mạnh hơn , tiểu đòan  tìm ra một  đại bản doanh hành quân của quân đội PAVN, có  cả bệnh viện và nơi  đặt súng phòng không.  Trong 3 ngày đánh nhau,  tiểu đòan 8 Dù  đã  đẩy lui  6 cuộc tấn công riêng rẽ và bị tổn thương nặng nề.

Giữa tháng 8 năm 1967, tiếp xúc giữa các lực lượng cọng sản  giảm bớt, khiến cho Mỹ kết luận là  Bắc Việt đã rút hết  qua biên giới. Đa số các đơn vị Dù ARVN  đã trở về căn cứ  quanh Sài Gòn để  nghỉ ngơi và  tái trang bị . Lữ đòan 2 Sư đòan  Dù 503,  cùng  tiểu đòan 3 Dù ARVN ở lại Đắc Tô càn quét  thung lũng  Toumarong  phía Bắc  Đắc Tô  nơi nghi ngờ là  có đại bản doanh của một lữ đòan PAVN  chiếm đóng. Nhưng sau 3 tuần lễ truy lùng  không có kết quả,  chiến dịch  Greeley  chấm dứt ngày  11 tháng 10 năm 1967.

 

Chiến dịch Mac Arthur

Đầu tháng 10 năm1967,  tình báo Hoa Kỳ  cho biết là Bắc Việt rút các Lữ đòan ở vùng Pleiku lên Kon Tum tăng cường các  lực lượng địa phương thành một Sư đòan. Phản ứng là Sư đòan 4 Bộ Binh Hoa Kỳ  di chuyễn Tiểu đòan  3 Sư đòan 12  Bộ binh  và Tiểu đòan 3 sư đòan  8 Bộ binh  lên Đăk Tô, mở chiến dịch Mac Arthur.

Ngày 3 tháng 11,  Vũ Hồng trung sĩ  pháo binh Lữ đòan 6 PAVN, đào ngũ  theo miền Nam  và cung cấp cho lực lượng Hoa Kỳ thông tin chi tiết về bố trí lực luợng và các mục tiêu của PAVN  ở cả hai vùng Đắk Tô và Ben Het, 18 km  về phía Tây.  Bắc Quân có chừng  6000 người, phần lớn thuộc  Sư Đòan 1 PAVN.  Lữ đòan 66 PAVN sẽ tấn công chánh  ở phía Tây Nam Đắk Tô, trong lúc Lữ đòan  32 PAVN  sẽ di chuyễn về phía Nam  để ngăn chặn mọi phản công chống lại Lữ đòan 66.  Lữ đòan 24 độc lập PAVN sẽ đóng chốt  phía Tây Bắc Đắk Tô,  ngăn chặn tăng viện cho căn cứ từ phía này. Lữ đòan 174 PAVN  phía Tây Bắc  Đắk Tô  là lực lượng trừ bị  hay là lực lượng tấn công tùy theo biến chuyễn tình thế. Thêm vào đó, Sư đòan 1 PAVN  sẽ còn được  Lữ đòan 40  Pháo binh PAVN  yểm trợ.  Mục tiêu  của những đơn vị này  là chiếm Đăk Tô  và phá tan các đơn vị  Mỹ kích thước  Sư đòan – Lữ đòan.

Những họat động  quanh Đắc Tô là một thành phần  chiến lược tổng quát do các nhà  lảnh đạo quân sự Hà Nội đề ra, căn bản là của Đại tướng Nguyễn chí Thanh . Nhắc lại là lúc đó Hà Nội chỉ mới có hai đại tướng là Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh. Nguyễn  Chí Thanh  nguyên là bí thư tỉnh ủy đảng Cọng Sản Thừa Thiên – Huế năm 1945 , khi đó Trần Hửu Dực là  bí thư thành bộ(ủy ) Trung Kỳ( Bộ ) từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, sau này là bộ trưởng  Chánh phủ Hồ Chí Minh. Và Nguyễn Chí Thanh mới thật sự là chỉ huy chiến trường  xâm chiếm miền Nam  sau 1955 – 60 (?), từ Quảng Trị đến Tây Nguyên, xuống tận Hà Tiên – Cà Mau, cho đến khi Thanh chết .  Mục đích  của các họat động cọng sản vùng này , theo tài liệu bắt được của  bộ Chỉ huy  Chiến Trường B- 3 là «  tiêu diệt  cơ sở  chánh yếu Hoa Kỳ hầu buộc địch phải  dàn trải thêm quân càng nhiều càng hay » . Như Hoa Kỳ mau lẹ khám phá. Vùng Đắc Tô đã được quân Bắc Việt sữa sọan kỷ lưỡng .  Các cơ sở  phòng vệ quân đội đi B ở đây, theo lời  quân đội Hoa Kỳ và quân đội Cộng Hòa miền Nam ARVN, thường đã được làm xong 6 tháng trước đkhi bị phám phá hay bị tấn công . Hầu hết  các địa hình then chốt đễu  đã được cũng cố bằng  nhiều phức tạp  bunker và  hầm hào. Cũng như  những số quân nhu, vỏ khí súng đạn to lớn ; có nghĩa là  Bắc Việt sẳn sàng đóng quân lâu ngày ở đây.

Quân đội Hoa Kỳ và ARVN  áp dụng phương cách khuôn phép chiến đấu ở Tây Nguyên .   Họ  đi bộ càn queét các đồi , chạm trán với các vị trí phòng thủ  cố định của Bắc Quân trên đỉnh đồi , kêu gọi hỏa lực đồ sộ  đánh phá ,  rồi  tấn công  trên đất liền cố đánh  bật Bắc Quân ra. Trong mọi trường hợp, quân PAVN  chiến đấu mạnh mẽ , bướng bỉnh , gây tổn thất nặng nề cho quân  Hoa Kỳ , rồi rút lui.

Ở đồi 823 phía Nam Ben Het, 120 người đại đội Bravo 4/ 503 đánh cận chiến từ chiều  đến sáng hôm sau  với quân  trung đòan  66 PAVN. Sau khi rút lui  trung đòan này  bỏ lại hơn 100 tử thi.  Đại đội Bravo chết mất 9 người và 28 người bị thương.  Hôm sau  quân Bắc Việt tấn công 3 đại đội của  Sư đòan 4 Bộ binh Hoa Kỳ ở đồi 724.  Tấn công chấm dứt   sau gần 6 giờ đánh nhau làm  18 quân Mỹ chết và  118 người bị thương . Sư đòan 4 Bộ binh ước lượng là 92 quân Bắc Việt chết ở cuộc giao tranh này.  Đêm 12 tháng 11, quân Bắc Việt lần đầu tiên  tấn công bằng hỏa tiễn , bắn 44 hỏa tiễn  vào phi đạo Đăk Tô. Sáng ngày 15 tháng 11, các mọoc chê Bắc Việt  bắn hạ 2 trong số 3 máy bay  C-130 Hercules.  Đồng thời cũng bắn thêm làm cháy nổ kho đạn và dự trữ nhiên liệu quanh vùng. Đây  có lẽ là vụ phá nổ  lớn nhất trong chiến cuộc  Hoa Kỳ ở Việt Nam, có hơn 1100 tấn vỏ khí bị phá hủy.  Quân Bắc Việt gần như chiếm được  Đắc Tô.  Những trận đánh trước đã làm tổn thương nặng các trung đòan 66 và 33 PAVN ; các trung đòan này đã bắt đầu rút lui về phía Tây Nam có  trung đòan 174 che chở.  Để tránh bị pháo kích lần nữa, Tiểu đòan  4 sư đòan 4  được lệnh  chiếm đồi 1338 , cách Đăc Tô  8 km . Sau 2 ngày , quân Hoa Kỳ  mới tiến chiếm được đồi dốc này và khám phá  ra một hệ thống  bunker rất kiên cố, mọi hầm hào trong đó đều liên lạc nhau được bằng đường dây điện thọai .  Sáng ngày  15 tháng 11, sau khi tiến chiếm đỉnh đồi 882, ba đại đội của 1/503, có 15 phóng viên  đi theo cùng, bị PAVN tấn công. Khi chiến trận chấm dứt ngày 19 tháng11 , Hoa Kỳ chết mất  7 người và  34 người bị thương. Trung đòan 66 Băc Việt để lại 51 tử thi.  Các đơn vị quân đội miền Nam Cộng Hòa ARVN cũng họat động nhiều ở vùng Đắc Tô.  Ngày  18 tháng 11 ở đồi 1416 , phía Đông Bắc làng Tân Cảnh  trung đòan ( ? ) 3/42  bộ binh ARVN tìm thấy  trung đòan 24 Bộ binh PAVN chiếm đóng những vị trí phòng thủ rất kiên cố.  Các Tiểu đòan Dù ưu tú 3 và  9,  tham dự cuộc chiến tấn công đồi, từ một hướng khác. Các lực lượng ARVN  chiếm đồi ngày 20 tháng 11, sau những cuộc cận chiến dữ dội. Kết quả là 66 người ARVN chết và  290 bị thương. Quân Bắc Việt để lại 248 tử thi. Tình báo Hoa Kỳ cho biết  là Trung đòan 174  rút về  phía Tây quá Ben Het  và đóng quân ở đồi 875, cách biên giới  6km.  Ngày 19 tháng 11,  ba đại đội gồm 330 quân của 2/ 503  tấn công đồi 875. Trận chiến đồi này đáng kể lại vì chiều ngày hôm đó  có đến 6 trực thăng UH-1 bi bắn rơi hay hư hỏng nặng, khi muốn đến hổ trợ   2/503.  Và gần 7 giờ tối, một cuộc bắn lầm quân đội anh em mình  có lẽ tệ hại nhất xảy ra khi các máy bay  oanh tạc và chiến đấu  Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ thả lầm hai trái bom  500 cân Anh vào chu vi  của 2/ 503, làm chết 42 người  và bị thương 45 người, kể cả  đại úy chỉ huy Harold Kaufman.  Cuộc chiến  đồi 875 chấm dứt sau hai ngày.  Kết quả là  quân 2/ 503 (Lữ đòan 2 Sư đoàn Dù 503) Hoa Kỳ  chết mất  87 người, 130 người bị thương ; quân 4/503  chết  28 người, bị thương 123 và 4 mất tích.  PAVN bỏ đồi này, chỉ để lại  vài tá  tử thi cháy than và một số vỏ khí .

Cuối tháng 11 năm 1967, Bắc Việt buộc lòng phải rút  hết quân  ra khỏi vùng Đắc Tô – Kon Tum và trở về lại  các vùng ẩn náu Cam Bốt và Lào.  Tuy không tiêu diệt hẳn được  một đơn vị chánh yếu quân Hoa Kỳ, PAVN  đã buộc quân  Hoa Kỳ trả một giá  rất đắt.  376 quân nhân Hoa Kỳ đã bị giết chết hay bị xem  là mất tích xem như là đã chết và 1441  bị thương trong chiến cuộc quanh Đắc Tô.  Quân Cộng Hòa miền Nam  ARVN   chết 73 người con  ưu tú.  Chi phí đạn dược  Hoa Kỳ chứng tỏ  chiến trận khốc liệt :  151 000 lọat đạn  đại bác, 2 069  phi vụ chiến thuật, 257 lần oanh kích B- 52,  và 40 trực thăng bị phá hủy.  Nhưng khi quân đội Hoa Kỳ tuyên bố  là đã giết  1664 quân Bắc Việt đếm thây, thì con số nêu ra gây tranh cải mạnh mẽ. Vì đại tướng Wetmoreland  chỉ huy quân Hoa Kỳ ở Việt Nam thời đó viết ở hồi ký là 1400 quân Bắc Việt chết, trong khi  trung tướng Wlliam B.  Rossen, phó chỉ huy MACV  ước lượng là quân PAVN chỉ  chết mất từ  1000 đến 1400 người. Tướng Thủy quân lục chiến John Chaisson,  đặt câu hỏi tại sao lại gọi là thắng trận khi chúng ta  chết mất 362 đồng đội trong 3 tuần lễ mà chúng ta chỉ đếm được  1200  thây có phần « giả tạo » ?  Ba trong số bốn Trung đòan Bắc Việt tham gia chiến cuộc vùng Đắc Tô bị  xung đột liên  miên, khiến họ không còn đủ sức  tham gia  chiến dịch tấn công Đông Xuân kế tiếp. Chỉ còn trung đòan  24 PAVN  tham dự  tổng tấn công Tết Mậu Thân tháng giêng năm 1968 …

 

One comment

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s