TS. Nguyễn Xuân Niệm – MỘT SỐ TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÓ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Hay vùng nông dân có mặt bằng trình độ thấp thì chưa nên áp dụng mô hình sử dụng nhanh và ứng dụng nấm xanh Ometar trong phòng trừ sâu hại; Hoặc vùng công nghiệp hóa khâu thu hoạch lúa thì chưa nên áp dụng mô hình trồng nấm rơm, nếu không có thiết bị thu gom rơm; Chọn hộ nuôi heo nái sinh thái, cần chọn hộ đã từng nuôi heo thì hiệu quả sẽ cao hơn

 

* * *

 

I. MỞ ĐẦU

Xây dựng NTM là chủ trương lớn để phát triển KT-XH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn; là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị. Đây còn là cuộc vận động rộng rãi, thu hút các nguồn lực trong toàn xã hội cùng tham gia; trong đó cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở đóng vai trò lãnh đạo, điều hành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động; nông dân vừa là chủ thể thực hiện vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả đạt được. Được tiến hành đồng loạt, kế thừa và lồng ghép với các chương trình, dự án và các cuộc vận động khác. Phương châm thực hiện là dựa vào nội lực cộng đồng dân cư là chính, có sự hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước; khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia.

Kiên Giang vinh dự được Trung ương chọn xã Định Hòa, huyện Gò Quao thực hiện thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới (NTM) Trước khi thực hiện thí điểm mô hình này xã Định Hòa chỉ đạt 3/19 tiêu chí. Nhưng qua 3 năm thực hiện (2009-2011), đã tác động tích cực, làm thay đổi diện mạo cả một vùng quê, từ cơ sở hạ tầng đến đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội của người dân. Đến nay, Định Hòa đã có 11/19 tiêu chí đạt NTM (Đào Nghĩa Nghiêm, 2012). Đạt được các tiêu chí trên, ngành KH&CN tỉnh đã phối hợp chặt với ngành NN&PTNT tỉnh cùng doanh nghiệp đã ứng dụng tiến bộ KH&CN đã đóng góp phần lớn từ việc thực hiện các đề tài/mô hình cấp cơ sở (kinh phí từ ngành NN&PTNT tỉnh), đề tài/dự án cấp tỉnh (kinh phí ngành KH&CN tỉnh), đặc biệt dự án cấp nhà nước (thuộc chương trình NTMN, do Bộ KH&CN tài trợ), bên cạnh đó có sự tham gia, hỗ trợ của doanh nghiệp về quảng bá, hội thảo và trình diễn thành tựu KH&CN đến với nông dân,… nhằm chia sẻ cho các sở, ngành tham khảo để khi áp dụng mong có kết quả một cách nhanh hơn và hiệu quả hơn.

II. THÔNG TIN NỀN VÙNG THỰC HIỆN

Xã Định Hòa có diện tích tự nhiên là 5.119 ha, phía Đông giáp xã Định An (huyện Gò Quao); phía Tây giáp xã Long Thạnh (huyện Giồng Riềng); phía Nam giáp xã Thuỷ Liễu, thị trấn Gò Quao (huyện Gò Quao); phía Bắc giáp xã Vĩnh Thạnh (huyện Giồng Riềng); xã nằm cách trung tâm huyện 14km; cách trung tâm tỉnh 35km. Định Hòa là xã thuộc chương trình 135 của chính phủ nên xuất phát điểm của xã thấp, trình độ dân trí không đồng đều. Xã được chia thành 10 ấp vơí 94 tổ Nhân dân tự quản, đa số nông dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Về đất tự nhiên, đất sản xuất phân chia làm 2 vùng rõ rệt: Bắc quốc lộ 61 nước ngọt quanh năm bị ngập, lũ bắt đầu từ đầu tháng 10 hàng năm, với thời gian ngập kéo dài 1,5 tháng. Nam quốc lộ thường bị ảnh hưởng phèn mặn. Toàn xã xã 3.429 hộ với 17.055 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm 63,5%, tốc độ phát triển kinh tế bình quân hàng năm là 11%, thu nhập bình quân đầu người đến tháng 6/2009 là 10,2 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo theo tiêu chí cũ là 521 hộ chiếm tỷ lệ 14,67%. Vào thời điểm xây dựng thí điểm mô hình NTM xã Định Hòa chỉ đạt 3/19 tiêu chí (số 13: Hình thức sản xuất, số 15: Y tế, số 19: An ninh trật tự xã hội) (Ban chỉ đạo Nông thôn mới tỉnh Kiên Giang, 2010).

III. MỘT SỐ TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐÃ THAM GIA TRONG CÁC TIÊU CHÍ XÂY DỰNG XÃ NTM MỚI ĐỊNH HÒA

Như đã trình bày trên, xã NTM Định Hòa đa số người dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, do vậy trong thời gian qua các tiến bộ KH&CN được áp dụng liên quan đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn nên tác động trực tiếp vào các tiêu chí 10 (thu nhập), 11 (hộ nghèo), 13 (hình thức tổ chức sản xuất), 16 (văn hóa) và 17 (môi trường). Tuy nhiên, Bộ tiêu chí quốc gia về NTM (gồm 19 tiêu chí; Chính phủ, 2009) có mối quan hệ hữu cơ, có nghĩa các tiến bộ KH&CN tác động trực tiếp vào tiêu chí này, đồng thời cũng có tác động gián tiếp vào tiêu chí kia và ngược lại.

Qua 2 năm (2011-2012), 17 dự án, đề tài, mô hình,… đã đưa tiến bộ KH&CN áp dụng vào xã NTM Định Hòa, với các nguồn kinh phí khác nhau (từ trung ương; đến địa phương ‘trong ngành KH&CN và ngành khác’; và cả doanh nghiệp,…) đã góp phần tác động trực tiếp vào 5 tiêu chí trên, đồng thời ít nhiều tác động gián tiếp vào các tiêu chí còn lại. Kết quả thực hiện 17 dự án, đề tài, mô hình,… xem cụ thể ở Bảng 1:

Bảng 1. Kết quả của các tiến bộ KH&CN áp dụng vào                                                   xã NTM Định Hòa (2011-2012)

TT

Tên dự án/đề tài/mô hình

Nguồn k/phí

Kết quả đến nay

I

Cấp nhà nước (1 dự án)

1

Mô hình sản xuất lúa theo hướng công nghiệp hóa tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang (thuộc CT.NTMN) Ngành KH& CN Qua 2 vụ lúa (ĐX 2011-2012 và HT 2012) có 222 lượt nông dân tham gia trong 6 lớp tập huấn. Diện tích tham gia dự án lúa chất lượng cao 64,5 ha của 62 lượt hộ; lúa giống xác nhận 1 là 34 ha của 35 hộ tham gia. Bên cạnh đó, dự án đã cung cấp dụng cụ sạ hàng, máy phun thuốc trừ sâu, máy xới, máy bơm nước, máy gặt đập liên hợp, lò sấy lúa 15 tấn/đợt, máy may bao, máy đo ẩm độ,… cho nông dân trong vùng dự án thực hiện công nghiệp hóa trong sản xuất lúa (Nguồn: TT.UD&CGCN Kiên Giang, 2012).

II

Cấp tỉnh (6 đề tài)

2

Xây dựng các mô hình ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật trồng và sơ chế một số loại nấm ăn và nấm dược liệu cho nông dân xã Định Hoà – Gò Quao Ngành KH& CN 97 hộ tham gia trên 1.144 công rơm, đạt năng suất bình quân 3 – 6% trọng lượng chất khô, lợi nhuận trung bình 3 triệu đồng/10 công rơm (Nguồn: TT.UD&CGCN Kiên Giang, 2012).

3

Xây dựng mô hình “Câu lạc bộ thanh niên Khmer học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh” tại xã Định Hòa – huyện Gò Quao Ngành KH& CN (a) Xây dựng được 01 mô hình “CLB thanh niên Khmer học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh’’ với 20 thanh niên Khmer tham gia. (b) Trang bị “Tủ sách khởi nghiệp” với hơn 100 đầu sách. (c) Kỷ yếu “Hội thảo chuyên đề về việc làm, thu nhập và đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên Khmer tỉnh Kiên Giang”. (d) Biên soạn được 7 tài liệu dùng để tập huấn và sinh hoạt trong câu lạc bộ với những kiến thức, kỹ năng thiết thực nhất để truyền đạt cho thanh niên Khmer làm kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần. (e) Ngoài ra, đang thực hiện Đĩa DVD phim tư liệu về hoạt động của mô hình Câu lạc bộ (Nguồn: Sở VH,TT&DL Kiên Giang, 2012).

4

Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại xã nông thôn mới Định Hoà Ngành KH& CN Đã thành lập 01 mô hình liên kết 4 nhà trong Hợp tác xã. Bước đầu đã thu mua 285 tấn lúa của 63 lượt xã viên, giá mua cao hơn thị trường 100-300đ/kg (Nguồn: Đại học Cần Thơ, 2012).

5

Mô hình quản lý dịch hại tổng hợp đối với bọ hà hại khoai lang Viện Lúa ĐBSCL Năng suất đạt trung bình 35 tấn/ha, tỷ lệ bị bọ hà khoảng 5%, lợi nhuận 54 triệu/ha, trong khi đó đối chứng bên ngoài, năng suất chỉ đạt 22 tấn/ha, tỷ lệ bị bọ hà 18% (có nông dân lên đến 50%), lợi nhuận 25 triệu/ha (Nguồn: Viện Lúa ĐBSCL, 2011).

6

Mô hình sản xuất nhanh và sử dụng chế phẩm Ometar phòng trừ rầy nâu ở quy mô nông hộ Viện Lúa ĐBSCL 142 nông dân tham gia và biết sản xuất nhanh chế phẩm Ometar. 4 ha trình diễn sử dụng Ometar phòng trừ rầy nâu, năng suất đạt trung bình 6,8 tấn/ha, trong vụ không phun thuốc trừ sâu; đối chứng năng suất 6,5 tấn/ha, phun thuốc trừ sâu, rầy 3,6 lần/ha (Nguồn: Viện Lúa ĐBSCL, 2011).

7

Mô hình cánh đồng 4 tốt Viện Lúa ĐBSCL Áp dụng “Cánh đồng 4 tốt” cho năng suất lúa cao hơn 0,24 tấn/ha và lợi nhuận cao hơn cánh đồng sản xuất theo tập quán cũ gần 2,5 triệu đồng/ha (Nguồn: Viện Lúa ĐBSCL, 2011).

III

Cấp cơ sở (9 mô hình)

8

Ứng dụng mô hình công nghệ sinh thái phòng trừ sâu hại trên ruộng lúa Ngành NN&PTNT (a) Mật độ sạ: đa số nông dân đều giảm 30 kg/ha (b) ND đã giảm lượng 37,42 kg N/ha, tương đương 81,34 kg Ure/ha nên đã tiết kiệm tiền mua phân mà ít sâu bệnh tấn công. (c) Quản lý dịch hại: áp dụng FPR, trung bình 2 lần/vụ. (d) Nhận thức về lợi ích: trồng hoa có thể thu hút thiên địch, giảm sử dụng thuốc trừ sâu, tăng thêm lợi nhuận, làm đẹp môi trường. (e) HQKT: tăng lợi nhuận 6.354.000 đ/ha, chủ yếu từ giảm thuốc trừ sâu, phân bón và công phun xịt (Nguồn: Chi cục BVTV, 2012).

9

Mô hình nuôi cá lóc trong vèo và nuôi heo nái sinh thái Ngành NN&PTNT (a) Mô hình cá lóc: 20 hộ; hỗ trợ cá giống 2.000con/hộ; hỗ trợ vật tư, thức ăn, con giống được: 3.425.000đ/ hộ; lãi trung bình 3.000.000đ/hộ. 10/20 số hộ tiếp tục duy trì, trong đó có 4/20 hộ đã thoát nghèo vươn lên làm ăn khá giả. (b) Mô hình heo nái: 25 hộ; hỗ trợ heo giống 2 con/hộ; hỗ trợ vật tư, thức ăn, con giống: 2.828.135đ/hộ. 22/25 hộ tiếp tục duy trì, trong đó 5 hộ có 7 con heo nái hiện đã đẻ được 1 lứa và đang mang thai lứa thứ 2; 17 hộ có 27con đang trong giai đoạn chữa và hậu bị. 9/25 hộ đã thoát nghèo vươn lên làm ăn khá giả (Nguồn: Chi cục Di dân & PTNT, 2012).

10

Mô hình nhân giống lúa cấp xác nhận Ngành NN&PTNT Năng suất vụ HT: bình quân 5,7 tấn/ha, ĐX: 7,2 tấn/ha. Cao so với đối chứng từ 0,9 tấn/ha vụ HT; 1,5 tấn/ha vụ ĐX. Lợi nhuận cao hơn so với ruộng đối chứng từ 5 – 10 triệu đồng/ha (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

11

Mô hình trồng rau, màu an toàn vệ sinh thực phẩm Ngành NN&PTNT Lợi nhuận bình quân: 1.500.000-2.000.000đ/1000m2 (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

12

Mô hình trồng nấm rơm Ngành NN&PTNT Tận dụng nông nhàn, mang lại HQKT rất cao, bình quân 2 – 13 triệu đồng/hộ, giảm gây ô nhiễm môi trường do không đốt rơm ngoài đồng (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

13

Mô hình trồng khoai lang Ngành NN&PTNT HQKT cao, bình quân lãi 47 – 70 triệu đồng/ha vì mô hình triển khai vào thời điểm khoai có giá, mặt khác nông dân đã áp dụng đúng kỹ thuật canh tác nên cho năng suất và phẩm chất cao (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012)

14

Mô hình nuôi gà, vịt thịt an toàn sinh học Ngành NN&PTNT Nuôi gà lãi từ 2 đến 5,5 triêu đồng/hộ; Nuôi vịt từ 2 đến 4 triệu đồng/hộ. Góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình ít có đất sản xuất. Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học giảm dịch hại bùng phát (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

15

Mô hình bò HPI Ngành NN&PTNT 43 con bê, mỗi con bê/hộ. Đang theo dõi số lượng bê trên. Mô hình sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, tạo việc làm (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

16

Mô hình cơ giới hóa nông nghiệp Ngành NN&PTNT Góp phần giảm bớt áp lực lao động, đặc biệt trong mùa thu hoạch đồng loạt; Ngoài ra, tăng chất lượng sản phẩm và năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất. Góp phần giải quyết khâu làm đất đảm bảo tiến độ gieo sạ theo lịch thời vụ (Nguồn: TT. KN-KN Kiên Giang, 2012).

IV

Khác (băng quảng bá, hội thảo, trình diễn) (1)

17

Cty phân bón Đại Nông tham gia chương trình xây dựng NTM Định Hòa Cty phân bón Đại Nông Thông qua băng quảng bá, hội thảo và trình diễn trên nhiều loại cây trồng chính của địa phương lúa, rau, khoai lang, khóm, ND đã sử dụng phân bón Đại Nông mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường,…  (Nguồn: CTy. Phân bón Đại Nông Kiên Giang, 2011).

Qua Bảng 1 nhận thấy, các tiến bộ KH&CN đưa vào trong 17 dự án, đề tài, mô hình,… được phân theo nhóm lĩnh vực như sau:

– Công nghiệp hóa vào trong sản xuất lúa (từ khâu sạ đến thu hoạch) sử dụng dụng cụ sạ hàng, máy phun thuốc trừ sâu, máy xới, máy bơm nước, máy gặt đập liên hợp, lò sấy lúa, máy may bao, máy đo ẩm độ,…

– Ứng dụng quy trình công nghệ trong sản xuất (giống lúa xác nhận; cá trong ao vèo; heo nái sinh thái; bò HPI; cánh đồng 4 tốt; 3 giảm-3 tăng);

– Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản phẩm sạch (các loại nấm ăn và dược liệu; lúa chất lượng cao; nuôi gà, vịt an toàn sinh học; rau-màu an toàn vệ sinh thực phẩm), bên cạnh đó có áp dụng các biện pháp để có sản phẩm sạch hơn như: Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM); Không phun thuốc trừ sâu trước 40 NSKS (FPR); Phun thuốc BVTV theo 4 đúng;…

– Ứng dụng công nghệ vi sinh (sử dụng nhanh và ứng dụng nấm xanh Ometar trên bọ hà khoai lang, rầy nâu lúa); công nghệ sinh thái (trồng hoa trên bờ ruộng lúa thu hút thiên địch) cho phòng trừ dịch hại; và sản xuất phân bón vi sinh Đại Nông cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây trồng.

– Thành lập mới các tổ chức để phát triển kinh tế (mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo); phát triển văn hóa và kinh tế (CLB thanh niên Khmer học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh).

– Thông qua tập huấn, hội thảo, trình diễn,… nông dân đến với nhau, hiểu nhau hơn, giúp đỡ nhau; chia sẻ kinh nghiệm làm ăn có hiệu quả hơn.

Nhìn chung, tất cả các tiến bộ KH&CN trên đều có thể áp dụng tốt để cải thiện các tiêu chí cho các xã NTM tương tự khác của ĐBSCL. Đặc biệt, vùng trồng lúa, nên đẩy nhanh áp dụng tiến bộ ‘công nghiệp hóa vào trong sản xuất’ kết hợp thực hiện quy trình của ‘cánh đồng 4 tốt’, ‘cánh đồng mẫu lớn’, ‘3 giảm-3 tăng’; Vùng chăn nuôi nên đẩy nhanh áp dụng tiến bộ ‘cá trong ao vèo; heo nái sinh thái; bò HPI; nuôi gà, vịt an toàn sinh học’; Vùng có nhiều nông nhàn nên đẩy nhanh áp dụng tiến bộ ‘các loại nấm ăn và dược liệu’; rau-màu an toàn vệ sinh thực phẩm;…

Tuy nhiên có một vài tiến bộ khi áp dụng thì nên thay đổi một chút cho phù hợp địa phương cụ thể. Ví dụ: ở những nơi ít thanh niên Khmer thì nên thành lập CLB thanh niên ‘nói chung, chứ không phải thanh niên Khmer’ học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh; Hay vùng nông dân có mặt bằng trình độ thấp thì chưa nên áp dụng mô hình sử dụng nhanh và ứng dụng nấm xanh Ometar trong phòng trừ sâu hại; Hoặc vùng công nghiệp hóa khâu thu hoạch lúa thì chưa nên áp dụng mô hình trồng nấm rơm, nếu không có thiết bị thu gom rơm; Chọn hộ nuôi heo nái sinh thái, cần chọn hộ đã từng nuôi heo thì hiệu quả sẽ cao hơn; Mỗi xã NTM, đầu vụ UBND xã nên liên hệ với Sở KH&CN giới thiệu một Cty sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đến quảng bá, hội thảo, trình diễn; liên hệ Sở NN&PTNT giới thiệu TT. Giống đến hợp đồng mua giống xác nhận từ các dự án NTMN trung ương hay NTMN của tỉnh; giới thiệu Cty xuất khẩu gạo đến hợp đồng trên các ‘cánh đồng mẫu lớn’ của xã để thực hiện ngay từ đầu vụ.

IV. NHỮNG ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI, DỰ ÁN NHẰM ĐẠT MỘT SỐ TIÊU CHÍ CÒN LẠI

Trong 8 tiêu chí chưa đạt còn lại (tiêu chí 2 về giao thông, tiêu chí 5 về trường học, tiêu chí 6 về cơ sở vật chất văn hóa, tiêu chí 7 về chợ nông thôn, tiêu chí 9 về nhà ở dân cư, tiêu chí 10 về thu nhập, tiêu chí 12 về cơ cấu lao động và tiêu chí 17 về môi trường) của xã NTM Định Hòa thì tiến bộ KH&CN có khả năng tác động trực tiếp vào các tiêu chí 2, 10 và 17, bằng các giải pháp như sau:

– Tiêu chí 2: Áp dụng kết quả đề tài cấp tỉnh ‘Nghiên cứu và ứng dụng phương pháp hoá điện bằng hoá phẩm VISS, gia cố ổn định đất xây dựng đường giao thông nông thôn – Kiên Giang’. Đã nghiệm thu 2006. Liên hệ Phòng Quản lý Khoa học (Sở KH&CN Kiên Giang) để nhận kết quả đề tài đã nghiệm thu này. Khi thực hiện cần phối hợp với Sở Giao thông vận tải.

– Tiêu chí 10: Áp dụng hài hòa 17 dự án, đề tài, mô hình tùy theo ấp, xã địa phương. Khi áp dụng cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương và Phòng Quản lý Khoa học để nhận sự tư vấn và hỗ trợ khi thực hiện.

– Tiêu chí 17: Thực hiện đề tài cấp tỉnh ‘Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại các xã nông thôn mới’. Đề tài mới đưa vào danh mục 2013. Cần phối hợp liên hệ với Chi cục BVMT Kiên Giang, cơ quan chủ trì thực hiện và Sở KH&CN Kiên Giang cơ quan quản lý đề tài.

Bên cạnh các giải pháp trên, Sở KH&CN Kiên Giang đề xuất thêm 2 giải pháp sau:

– Ban Chỉ đạo thực hiện NTM của mỗi tỉnh cần có chương trình nghiên cứu, ứng dụng KH&CN chung và giao cho một đơn vị làm đầu mối. Mỗi sở, ngành phải có đề xuất nghiên cứu, ứng dụng KH&CN cụ thể trên mỗi xã NTM. Như vậy, các đề xuất của sở, ngành sẽ không trùng, lắp và có trách nhiệm triển khai thực hiện các đề xuất này.

– Sau khi các nghiên cứu, ứng dụng KH&CN do các sở, ngành thực nghiệm có hiệu quả trên xã NTM. Người dân trong xã NTM sẽ là người chủ động và trực tiếp ứng dụng, nhân rộng các kết quả này. Tuy nhiên, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí để người dân triển khai ứng dụng, nhân rộng trong toàn xã NTM của họ và các xã chưa phải NTM lân cận khác. Như vậy, hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng KH&CN mới nhanh và cao.

TS. Nguyễn Xuân Niệm

PGĐ. Sở KH&CN KG

V. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ban Chỉ đạo NTM Kiên Giang, 2010. Thông tin KT-XH xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. 7 trang, 2010.

Chi cục BVTV, 2012. Báo cáo tổng kết trình diễn “Ứng dụng mô hình công nghệ sinh thái phòng trừ sâu hại trên ruộng lúa” tại xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao. 11 trang, 2012.

Chi cục Di dân & PTNT, 2012. Báo cáo kết quả thực hiện mô hình nuôi heo nái sinh thái và nuôi cá lóc trong vèo tại xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao. 6 trang, 2012.

Chính phủ, 2009. Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009. 6 trang, 2009.

Cty phân bón Đại Nông, 2011. Cty phân bón Đại Nông tham gia chương trình xây dựng NTM Định Hòa. Băng video, 2011.

Đào Nghĩa Nghiêm, 2012. Quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng nông thôn mới. Trong Thông tin nội bộ; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kiên Giang, 8/2012. Trang 32 và 34.

Sở KH&CN Kiên Giang, 2012. Các Báo cáo định kỳ đề tài KH&CN cấp tỉnh 2011-2012. 17 trang, 2012.

TT. KN-KN Kiên Giang, 2012. Báo cáo kết quả các mô hình thực hiện tại xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao. 23 trang, 2012.

TT. UD&CGCN Kiên Giang, 2012. Báo cáo nhanh kết quả dự án NTMN và đề tài thực hiện tại xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao. 15 trang, 2012.

Viện Lúa ĐBSCL, 2011. Báo cáo kết quả 3 mô hình ứng dụng KH&CN tại xã điểm NTM Định Hòa, huyện Gò Quao. 21 trang, 2011.

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s