Thu Tứ – TÔ THÙY YÊN (1)

Tô Thùy Yên khởi thi nghiệp trong nửa sau của thập kỷ 1950, chủ yếu làm thơ tự do, là hình thức thơ đang “nóng” ở Miền Nam lúc bấy giờ. Ðến khoảng giữa thập kỷ 1960, Tô Thùy Yên chợt bắt đầu làm nhiều thơ luật. Về nghệ thuật, Tô Thùy Yên rất thành công với thơ luật và không mấy thành công với thơ tự do.

Thơ Tô Thùy Yên chứa thứ nội dung gì? Võ Phiến bảo nó “có chủ đề triết lý”.(1)

Triết có mấy “quan”. Tô Thùy Yên chuyên trị vũ trụ quan. Cái nhìn vũ trụ của ông ra sao? “

 

* * *

 

Anh hùng tn

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ

Trường Sa hành

Tri mưa đêm xa nhà

Góa ph

Đãng t

Tưởng tượng ta v nơi bn trch

Qua sông

Vườn hạ

Em nhỏ, làm chi chim biển bắc

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Tô Thùy Yên khởi thi nghiệp trong nửa sau của thập kỷ 1950, chủ yếu làm thơ tự do, là hình thức thơ đang “nóng” ở Miền Nam lúc bấy giờ. Ðến khoảng giữa thập kỷ 1960, Tô Thùy Yên chợt bắt đầu làm nhiều thơ luật. Về nghệ thuật, Tô Thùy Yên rất thành công với thơ luật và không mấy thành công với thơ tự do.

Thơ Tô Thùy Yên chứa thứ nội dung gì? Võ Phiến bảo nó “có chủ đề triết lý”.(1)

Triết có mấy “quan”. Tô Thùy Yên chuyên trị vũ trụ quan. Cái nhìn vũ trụ của ông ra sao? “Tôi hoàn toàn không tin vào Thượng Ðế như một Ðấng Toàn Thiện, Toàn Năng.”(2) Tức ông không tin Chúa. Mặt khác, tuy Tô Thùy Yên thỉnh thoảng có dùng một đôi từ trong kinh Phật, thậm chí có “đi về” “suốt bãi sông Hằng”(3), nhưng hình như trước sau Phật cũng không xuất hiện lồ lộ trong thơ ông lần nào. Không Phật không Chúa, cũng không xướng lên một triết thuyết mới… Lại Võ Phiến: “Băn khoăn siêu hình là chủ yếu (…) Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ.”

 

Thế thì đối với vũ trụ Tô Thùy Yên có thái độ giống Chế Lan Viên sao? Tưởng không hẳn. Chế Lan Viên thiên về nghĩ, trong khi Tô Thùy Yên thiên về cảm, tuy không cảm nhiều như Huy Cận. Ông Tô lại đặc biệt “nhạy” với thời gian, như ông từng tâm sự: “Thời gian (…) là nỗi ám ảnh lớn lao thường trực của tôi.”(4) Vậy người gần ông nhất chính là Võ Phiến chứ ai!(5)

 

Vẫn về nội dung, Võ Phiến bảo vì thơ Tô Thùy Yên có nội dung siêu hình nên ông “gần gũi miền Bắc tận trong tâm hồn”. Như chúng tôi có lần bàn, “nội dung siêu hình có hai loại. Thơ Tô Thùy Yên thuộc loại ngoài truyền thống, tức tâm hồn ông gần Trung, không phải gần Bắc. Thơ ấy gần với thơ Hàn, thơ Chế, thơ Huy, thơ Võ v.v. hơn là với thơ Phạm Thiên Thư chứ. Nó ít giống Ba Vì, mà giống Trường Sơn đi lạc xuống đồng bằng sông Cửu!”(6)

 

Không Bắc về nội dung, nhưng thơ Tô Thùy Yên có chỗ chia xẻ với văn học miền Bắc. Ấy là việc sử dụng tiếng Việt hết sức điêu luyện. Dĩ nhiên đó không do tình cờ. Nhà thơ đã nhận thức đúng: “Những chữ trong một câu thơ thành công (…) là những chữ (…) không thể thay thế bằng những chữ tương tự nào khác được”(7), và đã ra công thực hiện cho được cái lý tưởng văn chương.

 

… Tô Thùy Yên là người Nam. Cái chất Nam nó nằm đâu trong thơ ông nhỉ? Ở ngôn ngữ và ở hình tượng, tuy nói chung không rõ ràng lắm.

 

Tô Thùy Yên làm thứ thơ tiếng Nam cảnh Nam, nội dung Trung, với lời điêu luyện như lời Bắc! Thơ ấy có những bài hay vào bậc nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam.

 

Vì thơ Tô Thùy Yên nhiều bài rất dài, cho tiện phổ biến phải chia làm mấy tuyển.  Sau đây là tuyển 1, chọn từ những bài làm trước 1975.

 

Anh hùng tận

 

“Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt”, chính giữa là rừng “anh hùng tận” “dô, dô tở mở” đến nỗi “muỗi thủy triều” cũng phải tạm rút!

“Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi…”.(8)

Dĩ nhiên các “hào sĩ” bạn bè không tên của “ta” đã nâng nắp bi-đông đựng rượu đế mà “túy ngọa sa trường”!

Lời bài thơ toát ra được rất mạnh mẽ cái cảm xúc độc đáo trong một buổi chiều đã có thể cuối cùng…

———-

Dựng súng trường cởi nón sắt
Ðơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều
Ðây ngã ba sông, làng sát nước
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn
Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt
Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang
Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn
Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng
Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương
Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên…
Tới đây toàn những tay hào sĩ
Sống chết không làm thắt ruột gan
Cũng không ai nhắc về thân thế
Có vợ con mà như độc thân
Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:
Còn mươi tháng nữa lên trung úy
Có thể ngày mai chửa biết chừng
Mặt bạn mặt ta còn trắng cả
Như mặt trời chiều mới tạnh mưa
Tiếng hò mời “dô, dô” tở mở
Muỗi thủy triều chừng cũng giạt ra
Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt
Sông không bờ, trời cũng không chân
Người thuở trước tìm vàng khẩn đất
Tiêu xác thân, để lại oan hồn
Ngày nay, ta bạn đến đây nữa
Ðất thì không khẩn, vàng không tìm…
Bạn nhủ ta: đừng hỏi khó
Uống mất ngon vì chuyện loạn tâm
Ta chắt cho nhau giọt rượu sót
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây
Giờ cất quân, đưa tay bắt
Ước cõi âm còn gặp để say.

 

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ

 

Ðọc tên thi phẩm sau đây, sực nhớ truyện Tam Quc. Do “bị” Lưu Huyền Ðức “tam cố”, Khổng Minh phải rời “thảo lư” lên đường giúp Lưu săn hươu. Mấy chục năm đầy sóng gió, quân sư đôi khi có nhớ “gian nhà cỏ”?

Vào năm làm bài Hề… (trước 1975) Tô Thùy Yên đi chưa xa, thế mà ông đã tưởng tượng ngày trở lại. Nói tưởng tượng, vì thời cuộc lúc ấy đâu dễ dàng cho bất cứ ai “lẳng lặng đi đi khuất, trong lãng quên xanh hút thời gian”.

Dù sao, thi sĩ “trở lại gian nhà cỏ” là để vui thú điền viên, để “lòng ta vô sự, ta vui vẻ”, có thực chăng? E không đâu. Vô sự lối gì mà, chẳng hạn, đứng “ngắm gốc cây nứt nở vỏ” lại “nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn (mà) trí ta không đủ lực đo lường”! Thường xuyên bị “bao điều thầm lặng lớn” ám ảnh, là Tô Thùy Yên đó. Đi hay về, vẫn cứ bị “ám” nặng thôi.

Quân sư tính toán chuyện quân, đánh được một trận Xích Bích thích chí. Nhà thơ băn khoăn chuyện cây nứt vỏ, viết nên trăm câu thơ một hơi, chắc cũng thích chí.

———-

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Giữa cánh đồng không, bên kia sông
Trống trải hồn ta cơn gió rã
Tiếng tàn tàn rụng suốt mênh mông

Hừng đông hùng vĩ và thanh thản
Sương hứa nguyên ngày nắng rực say
Ta dậy khi gà truyền nhiễm gáy
Chân mây rách đỏ vết thương dài

Ta ngồi trước ngõ nghe xao động
Trời đất bào thai cựa cựa nhanh
Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực
Con chim chèo bẻo hót lanh chanh

Ta ngồi cho đến khi trời trắng
Ðồng ruộng xanh đông đúc tiếng người
Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
Ðời người cũng chuyện phiếm mà thôi

Ở đây, ta có dăm người bạn
Phúc tự tâm, không lý đến đời
Ở đây, ta có dăm pho sách
Và một dòng sông, mấy cụm mây

Dòng sông u hiển trôi vô lượng
Dòng sông hiền triết chảy vô tâm
Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ
Mà ta thân thiết tựa tri âm

Lòng ta vô sự, ta vui vẻ
Bướm với hoa cùng bay nhởn nhơ
Mùa hạ tàn trôi trôi đóm lửa
Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ

Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp
Thiên cổ mang mang, thế sự nhòa
Trận lốc cười tròn trên quá vãng
Ta làm lại cả tâm hồn ta

Buổi trưa như buổi trưa nào đó
Tiếng võng đưa đưa tịch mịch mùi
Ðiệu hát ầu ơ hoa cỏ lịm
Nước mây buồn bã chợt quên trôi

Ta thiếp trong vòm xanh đại thọ
Ðời đời giương rộng lượng bao dung
Ví dầu ta ngủ không còn dậy
Ắt hẳn lòng ta cũng dửng dưng

Chuyện trần thế bấy lâu thanh thỏa
Sống một ngày, ta rõ một ngày
Thôi vướng mắc dài duyên với nợ
Ân oán đời, phong kiếm rửa tay

Còn lại chăng cây đàn lở tróc
Gảy mình nghe đôi điệu xưa xưa
Còn lại chăng chút u hoài mốc
Pha cùng rượu uống đến say thua

Gặp buổi trời mưa bay phới phới
Lá cành sáng rỡ sắc hồi xuân
Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá
Vậy mà ta sống có kỳ không?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm…

Gặp buổi trời trong dàn bát ngát
Ngọn cây ô! đã giát hoàng hôn
Cơn gió mơn man bờ bụi rậm
Kể dạo quanh vườn chuyện trống không

Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ
Gốc cây to đến mấy người ôm
Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn
Trí ta không đủ lực đo lường

Nên ta phó mặc cho trời đất
Trời đất vô ngôn lại bất nhân
Nên ta lẳng lặng đi đi khuất
Trong lãng quên xanh hút thời gian

Ðêm tối êm ru lời thủ thỉ
Bên hè có tiếng dế ca ran
Vầng trăng ta thấy thời thơ ấu
Mọc lại cho ta thuở xế tàn

Hình như mọi sự đều như thế
Kể cả lòng ta cũng thế thôi
Các việc vô công làm miết miết
Quên tiệt đời ta như nấm mai

Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ
Ta thức đêm nay chơi với trăng
Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi
Trên mồ ta, trăng phải lang thang

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian, hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô

Xa nghe đợt gió lên cơn bão
Nhân loại quay cuồng biến đổi sâu
Bầy chó năm châu cắn sủa rộ
Quỉ ma cười khóc rợn đêm thâu

Cuộc cờ kỳ lạ không bày tướng
Ăn sạch quân, trừ lính được thua
Hỡi ai tráng sĩ mài dao nhọn
Xin nhớ đời không mỗi sắc vua

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày, cho hết đời ta.

 

Trường Sa hành

 

Có lần bảo Hát Ngao Trên Tuyết của Cao Tần là bài hành xuất sắc thứ tư của thơ Việt Nam. Bảo thế là lỗi trầm trọng: năm 1974 Tô Thùy Yên có bài “hành Trường Sa” tuyệt vời.

Lỗi to, vì nỗi: hành Cao Tần cùng loại nội dung với hành Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Thanh Nam, trong khi hành Tô Thùy Yên khác hẳn, khiến đầu óc người đọc tự nhiên xếp nó vào một chỗ khác…

Trong khi bốn “hành sĩ” kia không lúc nào rời mặt đất, Tô Thùy Yên hay đi lạc tận… cõi Vô Biên.

Ngoài Vô Biên, thân “hữu hạn” tha hồ “tủi nhỏ nhoi”, tha hồ “đập hoảng” mà gọi “đất liền”, mà cố mở cho kỳ được “khoảng cách đặc”!

Trường Sa, có phải bất quá một cái vỏ đặc biệt thích hợp cho ông Tô tuôn những cảm xúc vũ trụ độc đáo của mình vào…

Cảm xúc mạnh, thơ dài mà như làm một hơi. Còn thơ nào hơn.

———–

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi ?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không ?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

 

Trời mưa đêm xa nhà

 

Ðêm mưa lạnh, “góc ga thưa”, có một cái… tượng ngồi chờ tàu.

 

Gần tượng, có “đường sắt phân ly mấy cành”, có “gỗ tênh hênh” trong vòng tay cỏ, có “đèn le lói (như) vết thương tươi”.

 

Xa tượng, nhưng không xa lắm, có núi “khoác rừng dày ngồi lì”.

 

Núi dầm mưa không biết có lạnh không, chứ người không dầm mưa, không bị “giọt cường toan” nào nhỏ trúng, mà tim cứ “quằn quại hàng hàng”…


———–

Ga dầm mưa chịu co ro
Cưu mang tàu thấm rét chờ sáng đi
Khoác rừng dày núi ngồi lì
Vân vi đường sắt phân ly mấy cành
Vài thân súc gỗ tênh hênh
Cỏ ôm ấp hẳn lãng quên tay người
Ðèn le lói vết thương tươi
Trời da thi thể mưa ngùi chấm than
Hiên ga nhỏ giọt cường toan
Xuống tim quằn quại hàng hàng ưu tư
Trong cơ thể máu chần chừ
Ngoài trời khói thuốc vật vờ ngại bay
Làm gì đây để giải khuây
Ngắm tay mới biết mình gầy hơn xưa
Ngồi chờ tàu góc ga thưa
Nghe hồn ẩm mốc một mùa lạnh căm.

 

Góa phụ

 

Ai khóc ai đêm khuya, trong tiếng “chó tru thăm thẳm ngây thiên địa”?

Có là không, “em khóc hoài chi” cái nỗi có hóa không.

———–

Con chim nhào chết khô trên cửa
Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm
Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ
Sao người khai giải chưa về thăm?

Em chạy tìm anh ngoài cõi gió
Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn
Tiếng kêu đá lở long thiên cổ
Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn

Em độc thoại lời kinh ánh xanh
Trăng lu khuya mỏi nén nhang tàn
Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa
Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn

Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
Thắp trắng thời gian mái tóc em
Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh
Hồn xa con đóm lạc sâu đêm

Cỏ cây sống chết há ta thán
Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh
Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình.

 

Đãng tử

 

Vào lúc làm bài thơ này, khoảng cuối thập kỷ 1960 đầu thập kỷ 1970, “đãng tử” Tô Thùy Yên đã “tuần du” được mấy đâu, “một đời” đã “biến đổi” được “bao” đâu, thế mà đã tưởng tượng đến ngày “trở lại ngôi Nhà Lớn”!

Từ bấy đến nay, “vũ trụ miên man chuyển động”, người “đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê”, vừa chèo vừa “thuận tay (…) ngắt một cành sậy” “làm cây sáo thổi cạn hồn sầu”, thổi thành thơ “bay tản” khắp trong ngoài nước…

Thiết tưởng “ngày kia” trong “ngôi Nhà Lớn”, nếu (hồn) thi sĩ được ngồi đọc lại tất cả mình, đọc đến những bài như Ðãng Tử, chắc “lòng những bằng lòng một kiếp thơ”!

———-

Ngày kia trở lại ngôi Nhà Lớn
Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.

Bạn có nghe, này bạn có nghe
Ở bìa rừng bên gió sửa soạn
Tuần du – cuộc tuần du bất tận
Bạn có nghe, này bạn có nghe
Giữa tầng trời cao chim giục giã
Từng giàn như những thủy triều sôi
Bạn có nghe, này bạn có nghe
Trên đỉnh non nhòa, mây xôn xao
Về nơi hẹn nào không định trước
Bạn có nghe, này bạn có nghe
Vũ trụ miên man chuyển động đều
Chim đã bay quanh từ vạn cổ
Gió thật xưa, mây thật già nua
Nên với một đời bao biến đổi
Mà trong vô hạn có chi đâu
Ly rượu rót mời, xin uống cạn
Bài ca ta hát đến đâu rồi
Xin hát nốt – còn đi kẻo muộn
Cho úp ly – bóng xế đường dài
Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn
Ði, đi đâu, chèo chống mỏi mê
Ðến ngả ba, đành theo một lối
Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia
Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm
Lược sử ta trong bí lục nào
Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn
Thiên thu lóe tắt vệt phù du
Thuận tay, ta ngắt một cành sậy
Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu
Bay tản khắp vô cùng trống trải
Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau…

 

Tưởng tượng ta v nơi bn trch

 

Ðào Tiềm thì về thật, nên viết Qui Khứ Lai Từ. Còn Tô Thùy Yên thì chỉ mới tưởng tượng đến về, nên viết…

Ông Ðào với ông Tô về hay muốn về, đều do không chịu được chuyện xảy ra nơi đang ở, chứ không phải do “nợ tang bồng” đã “trang trắng” mà “vỗ tay reo” mà về như ông Nguyễn (Công Trứ).

Ông Ðào trả ấn từ quan về vui thú ruộng vườn. Ông Tô mơ về “bản trạch”, nhưng trong giấc mơ ít nhất lúc đầu ông chưa vui:

“Tưởng tượng ta về nơi bản trạch
Là rồi một chuyện kể chưa xong”,

“Ta bằng lòng phận que diêm tắt
Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông”.

Vì lòng không vui, nên lắng tiếng sóng ông nghe tiếng “biển cử ai rần bãi rã rời”, trông hình “tàu chuối xác xơ” ông thấy “nỗi đời bi thiết xé lưa tưa”…

Thơ Ðào Tiềm người ta hay nói tuy có cái vẻ bình dị, điềm đạm, nhưng không phải là không gọt giũa mà chính là “gọt giũa đến mức tự nhiên”.

 

Tô Thùy Yên trau chuốt thơ mình cũng rất thành công. Có điều, người có bình dị thì tự nhiên mới là bình dị. Tô Thùy Yên không bình dị, nên thơ Tô Thùy Yên sau khi đến mức tự nhiên vẫn không bình dị.  

 

Cái đẹp muôn vẻ, thơ sao cho lộ được cái vẻ của mình!

 

———

 

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Gió đ
ưa nh ri dc trn gian
Trên đ
ng ngn c tranh khom mi
Ð
i nng cơn bi ly du dàng

Ri thôi, im mãi, im vô vng
Ta ti
ếc dài sao đã đến đây
L
n rn bóng lá đong đưa nng
Th
m thiết dây leo qun quít cây

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Ơn dày chôn tr đt bao dung
C
m mây trôi rã trong tri ln
Nh
ư gic chiêm bao thy gia chng

Con đường đi mi mà không tn
L
ượn sóng trên ghnh nhn rách tơi
Ai th
dài chi cho não nut?
C
ơn mưa hư tưởng mơ màng rơi

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
V
luôn như mt tiếng kêu khơi
Ðã buông trong b
t ngàn xanh ngt…
Bi
n c ai rn bãi rã ri

Chun chun vui đu trên nhành lúa
Ð
li bay đi lúc kp bun
Ði
u hát nào lan man vướng vt
Nh
ư hơi m mc mt h sương

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Ðóa hoa buông cánh khi tàn h
ương
Ti
ếng rng tuyt âm rn tch mch
Dòng sông t
i bin nc tuôn, tuôn…

Các mùa chuyn đng trong tri trng
Di đi
u qua sông x lung su
Ly bi
t chng t ht cát ngc
Tu
n hoàn đến c git sương châu

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Là r
i mt chuyn k chưa xong
Mùa hè c
sát điên kim loi
Con qu
kêu ran gia quãng không

Tàu chui xác xơ reo ngt ngt
N
i đi bi thiết xé lưa tưa
Hòn ngói lia bay bay m
t nước
Chìm sâu dĩ vãng đ
c không dò

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Bãi bùn tr
ơ trn thy triu lui
Con còng
n nhn bò quanh qun
Càng nh
tênh trên cõi ngm ngùi

Ta bng lòng phn que diêm tt
Ch
gin sao mi la cháy suông
Thôi nói, b
i còn chi đ nói
Núi xa, chim gi
c giã hoàng hôn

Tưởng tượng ta v nơi bn trch
Áo ph
ơi xanh phi nhánh đào hng
Mùa xuân bay múa trên tr
i biếc
Ta búng văng tàn thu
c xung sông.

 

Qua sông

 

Bờ sông thường cao hơn mặt sông rõ ràng. “Ðứng trên bờ nhìn xuống”, “đến bến, lên bờ” v.v. Nhưng ở trong Nam có những nơi bờ sông thấp gần sát mặt nước. Ðứng ở những nơi ấy, thấy mặt sông cao như ngang… mặt mình, thấy như đã gần dinh… Hà Bá, sợ lắm!

“Mùa mưa đã tới”, ở “châu thổ mang mang trời nước sát” giữa người đã gục với người chưa gục có “độ cao” gì đáng kể đâu. Cho nên trông “đám”, người trông rất dễ

“… Nao nao mường tượng bóng mình
Mịt mùng cõi tới u minh tiếng rền”.

U minh “trào lên mắt ngời” trước mặt. Bước tới vài bước, coi như “đời đã bỏ quên”…

 

———-

 

Ðò nghn đoàn quân xa tiếp vin
M
ưa lâu tri mc bun hôi xưa
Con đ
ường đáo nhm xa như nh
Chi
u mp m, xiêu lc dáng cò
Quán ch
t xanh lên rng lính ướt
M
t bơ ph dính gió bao la
Khí
m mù bay, mùi thuc khét
Chuy
n tình c nhúm m cây mưa
Vang lên nh
ng đa danh huyn hoc
M
i đa danh nng mt xót xa
Gi
c đánh ln – mùa mưa đã ti
Mùa m
ưa như mt trn mưa lin
Châu th
mang mang tri nước sát
H
n chng hiu ht ni không tên
Ti
ếp tế khó – đôi ln phi lc
Trên ng
ười bn gc đn mươi viên
Di t
n khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong v
ết thương người bn nín rên
Ng
ười chết my ngày chưa ly xác
Thây sình m
t nát lch mương tanh…
Sông cái n
ước men b sóng sánh
C
n xa cây vướng sáng mơ màng
Áo quan phong qu
c kỳ anh lit
Ni
m thiên thu đm c xe tang
Quê xa không ti
n đường đưa tin
Nghĩa t
n sơ sài đám lnh tanh
Thêm m
t chút gì như hi h
Ng
ười thân chưa khóc ráo thâm tình…
… Nao nao m
ường tượng bóng mình
M
t mùng cõi ti u minh tiếng rn
Xu
ng đò, đi đã b quên…
M
t sông nước ln trào lên mt ngi.

 

Vườn hạ

 

Tô Thùy Yên năm ấy mới 36 tuổi, sao lại “Tím hận một đời…” với “Tuổi già gom lại…”? Coi vậy, chớ “mùa hạ trước” qua cũng đã hăm mấy năm rồi. “Mai kia mốt nọ”, tính đại thêm hăm mấy năm nữa, để khi “anh về chơi” cho đủ tuổi!

Tính năm tính tháng đùa chút thôi, chớ cũng biết người trẻ hồn già là chuyện có xảy ra. Hồn một khi đã “chín” thì thời gian có khi không trôi nữa:

“Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh
Ngoài quãng chói chang hư ảo múa
Dường như ai réo ấu danh anh…”.

“Mai kia mốt nọ anh về chơi”, nằm một mình dưới gốc cây nghe “ve kêu như biển lâng lâng dậy”, nghe “mương nước rì rào sao sáng thở”, nghe “thủy triều lui bậc bậc sầu”, có lúc cất bước loanh quanh khiến “chú dế giang hồ (quen) hát say sưa dưới cỏ buồn” sợ, nín hát, làm “cô tịch bưng ồn như máu tuôn”…

“Anh”, thiệt ngộ hết chỗ nói!

“Thơ ấu, dậy đi, mừng dụi mắt
Cùng anh chạy nhảy tiếp thời vui”!

 

———

 

Mai kia mt n anh v chơi
V
ườn đêm dư, nng mt ngi
Th
ơu, dy đi, mng di mt
Cùng anh ch
y nhy tiếp thi vui.

Ăn trái chín cây mùa h trước
Th
y nhành t đng bóng chim quen
H
i em, em ly chng xa x
H
i bn, bn lìa quê bt tin

Thi gian đt quãng dài vô đnh
Nh
ư si dây diu băng mt tăm
Lòng anh th
ng tht, sông chao sóng
K
nim buông tay rú ngt chìm

Ai ngt giùm anh cây c sướt
Làm đôi gà đá, đá ăn c
ười
Mùa hè đi khu
t kêu không li
Bãi mía điêu tàn g
c cháy thui

Tri cao mi mt, chòm mây bc
Thăm th
m trưa, thi gian chết xanh
Ngoài quãng chói chang h
ưo múa
D
ường như ai réo u danh anh

Hàng cây đng bóng ôm tròn gc
Ð
t m vương hương c tr màu
Ai cúi soi m
ương rong kha mt
Th
y hn mùa cũ đng xanh xao

Còn đi cây mưa ln bt thn
u thơ, mng nhá, chy la rân
Ðá bong bóng n
ước cơn vui v
M
ưa tnh, ngi nghe tui h tàn

Ve kêu như bin lâng lâng dy
Xô gi
t hn anh mng chp chn
Ng
chín gic chiu trên xác lá
Tàn măng âu y
ếm đp thân đơn

Mênh mang lưu thy trường trăng lnh
Con chó tung tăng gi
n bóng mình
M
ương nước rì rào sao sáng th
Ðài hoa s
ương nm ht lân tinh

Ðây ri, chú dế giang hy
V
n hát say sưa dưới c bun
Nghe ti
ếng chân người cht nín lng…
Cô t
ch bưng n như máu tuôn

Thp thoáng ánh đèn rây lưới lá
Ðàn ai lên c
khúc hoài lang
Tình
ơi, ta hát thm theo nhc
L
i nh, li quên, d xn xang

Ðêm lm chy khuya, trăng nht sương
Li
u đi đâu tóc xõa canh trường
Con chim l
c bn kêu tri rng
H
n chết trôi min d lý hương

Nm đây ph sáng hng hà sao
Nghe th
y triu lui bc bc su
Nghe ti
ếng mõ chùa khô khc khóc
U minh ngày tháng bóng lao đao

Cát bi đã đành thân tm mn
Thì danh v
i phn k mà chi
C
m thương con cá thia lia bi
Có sót huy hoàng cũng x
ếp vi

Cc xu thy hết ra ngoài mc
Ð
ng cái, thua bun cũng ling sông
Tím h
n mt đi tay cng vng
Ch
ơi cu âu c cái tâm ngông

Em có tìm không mùa h trước
Chi
ếc vành xưa đánh lc v đâu?
Ðám tranh thu
y cao là vy
Vành l
c, chân không ngi bước vào…

Cây ci càng sưng vết cht li
Ch
nhau cho đáng kiếp ch thôi
Tu
i già gom li bao thương tưởng
Nh
ư cui vườn chiu mót ci rơi.

 

Em nh, làm chi chim bin bc

 

Ðọc mấy câu “(em) biệt xứ ra đi, trời bắt tội”, “còn anh hệ lụy chằng trăm rễ”, “em đẩy làm chi cửa não nề”, chợt nhớ một cái truyện ngắn cũng của Tô Thùy Yên. Trong Nơi Chốn Ði Qua, “tôi” và Phụng rất thân nhau, hoàn cảnh khiến xa nhau, cả hai cùng bất như ý trong cuộc sống, một hôm tình cờ gặp lại…

 

Tôi trách “em nhỏ, làm chi chim biển bắc”, nhưng thực ra tôi đâu có đi tìm em ở biển nam. Thực ra, chuyện em và tôi không quan trọng gì cả.

“… Còn vọng hằng hà sa số kiếp
Lai sinh trời đất cũ chưa quên”.

Yêu em, chẳng qua tôi yêu trời đất! Nhớ em, chẳng qua là tôi tưởng niệm thời gian!

 

———-

 

Em nh, làm chi chim bin Bc
Xa r
i đám la cui thiên thu
C
a thn phù dng trường sơn sóng
M
i ngn xô chìm mt gic mơ

Ôi nhng con đường đến t đâu
M
t ln gp g ngã tư nào
R
i trong vô hn chia lìa miết
Có cu
n theo mình bi ca nhau?

Bit x ra đi, tri bt ti
Dài t
ơ tưởng rng tóc mai xanh
Trôi mòn vóc đá tào khê th
c
Nh
ướng mi ngàn sao đáy lng thinh

Còn anh h ly chng trăm r
Cam ph
n cây rng ti đm rêu
N
m ta tng tng thân mc ti
Nh
ư mùa hoa tri tui già xiêu

Em đy làm chi ca não n
B
n l khô ko kt hôn mê
Nh
n giăng tơ mc nhà hoang lnh
Ti
ếng gi rn vang g đá ê

Dng dy hn oan dĩ vãng nào
Con chim th
n thoi mt khoen sâu
Gi
t mình như đã ngàn năm ng
Giũ b
i lông, ct khn tiếng gào

Có nh không em rng bóng lnh
G
c cây ngi git nng sao thưa
Gió ru mê m
t trưa tàn t
H
nh phúc đùa xa tiếng thc hư

Khép mt cho hn bay diu vi
Mà yêu đ
ến khóc, đến u mê
Ð
khi m mt, ta nhìn thy
C
cuc đi ta có đáng chi

Cây rách sâu thân cht git lòng
Nghi
p hn tr nghĩa đt bao dung
Mùa hè cháy h
c cơn cung n
, máu thơm còn a chng ngưng

Ði lng đưa nhau xung cui ngày
Th
y âu su hin mi thân cây
C
cao qun quíu chân chùng bước
Ghim xót xa đ
y vt áo bay

Làm sao đi hết nhng con đường
Gió v
i cây cùng khóc hp tan
M
i đóa hoa trên đng chói li
Cũng xui phù th
ế ngm ngùi thân

Cu hân hoan chết như mưa lũ
N
ước kéo nhau đi try khp min
Còn v
ng hng hà sa s kiếp
Lai sinh tr
i đt cũ chưa quên.

 

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

 

Ðọc “những người…” sau đây, nhớ “thập loại chúng sinh”.

Xưa đại loạn qua, phần ai nấy tế. Nguyễn Văn Thành xông pha trận mạc, tế riêng tướng sĩ. Nguyễn Du “trải qua một cuộc”, chắc “trông thấy” không sót “điều” gì, nên tế chung tất cả cô hồn. Bài tế “mười loài” kết thúc với nội dung tôn giáo rõ ràng:

“Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi”

Hồi Tô Thùy Yên làm thơ, đại loạn chưa qua. Thi sĩ không tế, lại hình như không có niềm tin nhất định, bèn chọn “biểu dương”. “Biểu dương cùng tận” xong, “rồi tất cả sẽ nguôi ngoai”…

Hoặc sau bể dâu hoặc trong bể dâu, hoặc đậm màu tôn giáo hoặc không, “cảm sầu dội, xuyên suốt tâm linh” nên thơ để đời.

Ðể ý, trong thơ xưa chỉ toàn “cô hồn thất thểu dọc ngang”, trong thơ nay ngoài người kia kẻ nọ “thương thay” còn sừng sững “ta lớn lao và ta cô đơn”!

 

———-

 

Ra đi như nước ao ln đc
May g
p ngày mưa ln thoát tràn
Râu tóc r
ng ngi, gy trúc bóng
N
o thơm trn thế, gió hân hoan

Ra đi như mt bình minh l
Trên k
nguyên chưa kp hin hình
Thi sĩ B
c Nam đu chết rp
Ba trăm năm l
ch s làm thinh

Ra đi như mt âm thanh sáng
Xuyên su
t tâm linh, di cm su
H
i gã du hành, hãy ct tiếng
Bài ca thiên c
chng thành câu

T do, ta thết mng điên đo
Cu
c tic trăm năm nhc thánh thn
D
ưới bóng bao trùm ht cát ta
Ð
n rêu, miếu c lnh ma hoang

Con đường vô đnh chưa ai ti
Hay t
i nơi, thôi chng tr v
H
i gã du hành, hãy nói li
Nh
ng điu ngươi thoáng thy như

Ta mò đoán nghĩa dòng hư t
Mòn nét trong thiên đ
a ngp ngng
Ta th
y mt tinh cu xếp nếp
Nh
ư ln nhăn tui tác hư không

Nhng người thu trước giương cung cng
C
ưỡi nga điên, hoa kích ngàn cân
M
t trn tan tành ba triu đch
N
a chiu chết đng hn giai nhân

Nhng người thu trước đi tìm mng
L
c sui mê, hoa git ngược dòng
Theo ti
ếng kinh quan san bit dng
Bu
c su, xõa tóc, th thuyn rong

Nhng người thu trước say vô hn
M
ơ thuc trường sinh lc xác phàm
Níu cánh chim b
ng qua bin gió
Cây minh linh t
t my ngàn năm

Nhng người thu trước tham chung đnh
Áo mũ xênh xang ch
n ng môn
S
ơ tht, thương thay thân xung lính
Ðày ra quan ngo
i, chết không chôn

Nhng người thu trước như là mng
Di
m tuyt dung nhan tho mc su
H
ương phn bay lng xa khi kiếp
Ti
ếng cười xé rách núi sông đau

Nhng người thu trước bây gi lc
Trong dã s
nào như bóng mây
Trong trí nh
nào như ging hát
H
i ôi, tri đt lnh tình thay!

Hi ôi, gió ni lên cùng khp
Gi
c gã du hành ro bước thôi!
Ta u
ng giếng hoang, ăn trái l,
Tâm h
n mãi mãi mi tinh khôi

Nhiu khi ta ngước lên ngơ ngn
Nghe ti
ếng chim quen bay trt qua
Bóng thoáng nh
ư bàn tay du mát
Lau nhanh h
ơi mi mt mày ta

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát
Ta l
n lao và ta cô đơn
Ng
ưỡng m cây xương rng gng gượng
Thân tr
n đng l gia đng trơn

Bình minh như mt làn da phng
Ta d
o men b sóng tuyt mù
C
m phc bi hi bin nhn ni
B
t đu mãi mãi lượn thiên thu

Biu dương – hãy biu dương cùng tn
Vinh d
lm than ca kiếp người
Hi h
u mt ln trên trái đt
Và r
i tt c s nguôi ngoai.

 

________________

(1) Trong bộ n học Miền Nam, phần Thơ.

(2) TTY trả lời phỏng vấn, đăng trong Lê Quỳnh Mai, Tác giả, với chúng ta, nxb. Khôi Nguyên, Mỹ, 2004.

(3) Ði Về và Suốt Bãi Sông Hằng là tên hai bài thơ của TTY.

(4) TTY trả lời phỏng vấn, xem chú thích 2.

(5) Xem bài Nét Siêu Hình Trong Văn Miền Trung của TT, đăng trên trang gocnhin.net.

(6) Xem bài Ðất Nào Văn Nấy của TT, đăng trên trang gocnhin.net.

(7) TTY trả lời phỏng vấn, xem chú thích 2.

(8) Bài Lương Châu Từ của Vương Hàn: “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi / Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi / Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s